Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

28 thg 2, 2013

"Hội chứng ... lá chuối"


Bùi Hoàng Tám


Hình như trên thế gian này chỉ mỗi cây chuối là suốt đời không rụng lá. Loại lá thiếu tự trọng từ lúc mọc đến khi thối nẫu cũng không chịu rời bỏ thân cây. Và cũng vì thế, khi chuối đã ra buồng là không còn chiếc lá non nào được sinh ra nữa.

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất ý kiến về việc tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động có trình độ chuyên môn cao, người làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt lên 5 năm so với quy định hiện nay. Lý do là để đối phó nguy cơ vỡ quỹ lương hưu và và phù hợp với xu thế tuổi thọ người dân gia tăng.

Các lý do mà Bộ LĐ - TB&XH đưa ra về lý thuyết là có lý. Theo đánh giá của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), tuổi về hưu của Việt Nam là sớm, trong khi đó tuổi thọ của người Việt Nam gần đây đã tăng cao so với nhiều năm trước. Việc chi trả cho bảo hiểm xã hội và các chính sách khác hiện đang quá cao khiến quỹ lương hưu sẽ bắt đầu thâm hụt từ năm 2020 và hoàn toàn cạn kiệt vào năm 2029.

Tuy nhiên, trừ việc áp dụng đối với các nhà khoa học lớn, tâm huyết với đất nước cần mời trân trọng tiếp tục cống hiến, còn xét từ thực tế đời sống xã hội của Việt Nam thì các lý do trên có phần chưa thỏa đáng.

Về lý do tuổi thọ, tuy những năm gần đây tuổi thọ người Việt Nam có được nâng cao nhưng thực tế cho thấy, người Việt Nam sống dai song thể lực yếu. Phụ nữ ngoài 50, nam giới ngoài 55 tuổi đã có biểu hiện uể oải, giảm tính năng động… Mặt khác, người Việt Nam không phải chỉ đến 18 tuổi mới lao động mà phải tham gia làm việc từ trước đó nhiều năm.

Về thâm hụt ngân sách, đúng là hiện nay vì nhiều lý do, mỗi năm chúng ta phải chi một khoản tiền rất lớn. Song, với sự phát triển của kinh tế, đây không phải là bài toán không có lời giải. Vả lại, chỉ cần làm tốt công cuộc chống tham nhũng, lãng phí chúng ta đã có một khoản tiền khổng lồ dành chi trả cho việc này. Đó là chưa kể nếu nhìn ở bình diện quốc gia, đồng tiền đó không hề mất (như tham nhũng, lãng phí) mà nó phục vụ chính đời sống người dân. Cần nói thêm, không biết số tiền cả ngàn tỉ đồng mà Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho vay bất hợp pháp hiện đã đòi được chưa?

Do đó, việc tăng tuổi nghỉ hưu sẽ vấp phải nhiều hệ lụy. 

Đã có ý kiến cho rằng đối tượng muốn tăng tuổi nghỉ hưu có lẽ là những người có chức, có quyền, có “bổng lộc” nhưng lại ít năng lực, muốn “bám” lấy chiếc ghế quyền lực để nhằm mục đích cá nhân hơn là lợi ích đất nước. Bởi thực tế, những cán bộ có chức, có quyền và có năng lực thật sự luôn luôn nhận được sự chào đón từ các doanh nghiệp tư nhân. Các bác sĩ, nhà giáo cũng rất được các bệnh viện tư và trường dân lập, tư thục mời chào ngay từ khi chưa kịp nhận sổ hưu. Đã có không ít chuyên viên của các doanh nghiệp hiện cũng là các cựu công chức nhà nước. Thậm chí, nhiều người còn tự lập doanh nghiệp riêng cho mình.

Tuy nhiên về hệ lụy sâu xa, là công cuộc trẻ hóa cán bộ công chức. Hiện đang có một thế hệ trẻ nhiều năng lực, giàu nhiệt huyết và khát khao cống hiến. Nếu không được tạo cơ hội, họ sẽ chán nản, ngọn lửa đam mê sẽ dần tắt và về lâu dài, đó là bi kịch của một đất nước muốn phát triển. 

Đó là chưa kể qui định này hoàn toàn có thể bị thói tham quyền cố vị, “đó rách ngáng chỗ” lợi dụng. Đã xuất hiện không ít trường hợp “cải lão hoàn đồng”, càng sống lâu càng… trẻ ra, tuổi nghỉ hưu thấp hơn nhiều do với tuổi thực.

Khi viết những dòng này, tôi chợt nghĩ về những chiếc lá. Những chiếc lá không chỉ biết "lá lành đùm lá rách", không chỉ biết già "rụng về cội" mà mỗi mùa đông, lá còn biết tự rụng để mùa xuân, nhường chỗ cho những chồi non mới. 

Hình như chỉ mỗi cây chuối là suốt đời không rụng lá. Loại lá thiếu tự trọng từ lúc mọc đến khi thối nẫu cũng không chịu rời bỏ thân cây. Và cũng vì thế, khi chuối đã ra buồng là không còn chiếc lá non nào được sinh ra nữa.

Xin đừng biến cơ quan công quyền thành nơi dưỡng lão của những người cao tuổi. 

Xin đừng tạo cơ hội cho những những kẻ ăn bám, lợi dụng chính sách này để chui lủi dưới “ngọn cờ lá chuối” , thực hiện phương châm “bám trụ kiên cường!”.
Read More..

13 thg 2, 2013

Anh S., bạn tôi


Nguyên Ngọc
Tôi quen anh S. rất tình cờ, nhưng rồi về sau, khi đã thân, chúng tôi thường cười nói với nhau: Chẳng ngẫu nhiên hoàn toàn đâu, có duyên trời cả đấy. “Trời” đây là cuộc thế mấy mươi năm nay của đất nước ta, với bao nhiêu uẩn khúc trầm luân, đưa con người đi theo những con đường chẳng ai ngờ trước, tạo nên trong số phận từng người nhiều bi kịch, mà lắm khi may mắn cũng nhiều.
Tôi từ Boston bay đi Washington DC và có việc cần ở lại DC năm bảy ngày. Người quen ở Boston nhiều, nhưng ở DC tôi lại chưa hề biết ai. Anh bạn tôi ở Boston bảo: “Tôi gửi anh cho anh S. ở DC nhé, nhà anh ấy rộng, rất yên tĩnh, nhưng quan trọng hơn, anh ấy là người rất hay. Khéo các anh lại trở thành thân thiết cũng nên”. Tôi chú ý chữ “hay” anh bạn tôi dùng. Tôi có nghe tên anh S. nhưng chưa gặp lần nào, có đọc đôi bài của anh, chủ yếu về phê bình văn học, cảm giác chung là một cây bút sâu sắc, cả sắc sảo nữa, nhưng không ồn ào, gây cho người đọc một cảm giác tin cậy và nể trọng. Và đọc văn tôi thường thích thử đoán người, tôi hình dung một con người trầm tĩnh, dấu tâm huyết nồng cháy dưới một bề ngoài có thể hơi chút gì đó cứ tưởng chừng dửng dưng…
Anh đón tôi ở sân bay Baltimore, hôm ấy sân bay không hiểu sao có khá nhiều người Việt đón người thân, vậy mà tôi nhận được ra anh ngay, và anh cũng nhận ra được tôi ngay. Tức cái cảm giác của chúng tôi về nhau bước đầu vậy là không sai.
Anh S. bây giờ hầu như ở nhà chỉ một mình, các con anh đều đã trưởng thành và ra ở riêng, chị ấy thì hết đi nuôi cháu này lại đi nuôi cháu khác. Chúng tôi tự nấu ăn với nhau, và ngoài những lúc anh đi làm hay những hôm anh đưa tôi đi xem DC, hai chúng tôi thường ngồi với nhau, nói đủ thứ chuyện. Những đêm ngồi với anh S., nhiều đêm đến gần suốt sáng, tôi cứ thầm nghĩ: tôi đang đối diện, tôi không muốn dùng chữ to tát đâu nhưng mà sự thật đúng là vậy, tôi đang đối diện với một phần máu thịt của dân tộc ta, mà những trầm luân của cái thế giới và cái thời đại vừa tuyệt vời vừa khốn nạn này đã chia cắt ra, từng đưa đến đối mặt sống còn với nhau, và bây giờ xa cách nhau đến hàng vạn cây số, muốn đến với nhau đi về phía Tây hay phía Đông đều phải qua cả đại dương mênh mông, và có vượt qua đại dương rồi cũng chẳng thể đến ngay với nhau được thật dễ dàng đâu, bởi những ngăn cách kỳ quặc mà người ta gọi là ngăn cách ý thức hệ. Mà cái phần máu thịt ấy nào có ít đâu, những gần ba triệu người, riêng ở Mỹ gần hai triệu. Có ai đó đã nói: trên thế giới có hai dân tộc lưu vong nhiều và lâu trong lịch sử, dân Do Thái và dân Trung Quốc (có lẽ phải kể cả người di-gan nữa). Còn đây là lần đầu tiên người Việt Nam mới biết đến lưu vong. Người Việt chúng ta là một dân tộc không có kinh nghiệm lịch sử lưu vong. Vậy mà bây giờ đó là một thực tế, và một thực tế lớn. Ta đang tạo ra những kinh nghiệm mà cha ông ta từ nghìn đời trước chưa biết đến bao giờ…
Tôi không muốn nói rằng anh S. là đại diện cho cái phận máu thịt bị cắt ra đó, cắt ra một cách giả tạo. Và chắc chắn anh ấy cũng không bao giờ muốn nhận vai trò đó. Nhưng một cá nhân, bằng nhân cách đặc biệt của mình, đôi khi lại có thể cho phép ta qua họ mà hiểu ra được nhiều điều cần hiểu và ta lại không hiểu về một bộ phận người không nhỏ nào đó do những hạn chế khó tránh của cái góc độ mà cuộc đời đã đặt ta vào đấy nhiều chục năm dài. Anh S. theo tôi là một cá nhân như vậy. Tôi cám ơn số phận đã cho tôi gặp anh, cám ơn anh đã cho tôi hiểu thêm về cái phần dân tộc mà hoá ra tôi vốn hiểu rất ít, thậm chí hầu như chẳng hiểu gì, nếu không nói là từng hiểu chẳng ra làm sao cả.
Để tránh dông dài, tôi xin phép nói rất vắn đôi điều về cuộc đời anh, như anh đã tâm sự với tôi trong những đêm dài. Hoá ra con đường đời của hai chúng tôi suýt chút nữa đã có thể găp nhau từ nửa thế kỷ trước, thậm chí cùng đi với nhau một nhịp từ ấy đến giờ. Anh quê ở một thành phố biển đẹp nhất miền Trung, trong một gia đình theo tôi là một gia đình khá giả và trí thức. Người chị cả của anh là sinh viên khóa đầu tiên của trường Mỹ thuật Gia Định. Tôi có được gặp chị hôm chị từ Cali lên thăm anh và các cháu. Chắc chắn hồi trẻ chị là hoa khôi của thành phố quê hương, năm nay đã 90 mà nét đẹp vẫn hầu chưa phai, sắc sảo mà thuần hậu, thanh nhã và cao quý. Nhà anh S. treo nhiều tranh của chị, hiện đại đến không ngờ. Một người chị thứ hai của anh thì tôi biết rất rõ, từ hơn nửa thế kỷ trước: chị đã bỏ thành phố bị chiếm của mình ra tham gia kháng chiến, và ở cùng đơn vị bộ đội với tôi nhiều năm, thuộc lớp tuổi đàng chị của tôi, và tôi nhớ chị rất đẹp, nổi tiếng một thời ở vùng kháng chiến chúng tôi. Về sau, do hoàn cảnh gia đình, chị không đi tập kết … Ba anh S. thì, theo như anh kể, hồi đầu kháng chiến chống Pháp từng lên chiến khu tham gia sản xuất vũ khí, rồi sau đó cũng vì những điều kiện gia đình, trở về thành phố, một người trí thức yêu nước thầm lặng … Vậy đó, cuộc thế với những sắp xếp cứ như thật tình cờ và nhỏ nhoi đã đặt cái gia đình trí thức nền nếp và yêu nước đó đứng về cái phía mà chúng ta gọi là “phía bên kia của cuộc chiến”, khi đất nước bị chia đôi và đi vào chiến tranh lần thứ hai.
Anh S. lớn lên trong hoàn cảnh gia đình và đất nước đó. Anh học giỏi, yêu văn chương nghệ thuật, là một thanh niên tài hoa. Anh hiểu kháng chiến, nhưng anh không thích cộng sản và những người cộng sản, anh nói rõ với tôi như vậy. Vì sao? Vì cái hệ thống lý thuyết của nó mà anh không tán thành, cái hệ thống theo anh đã đưa đến một sự mô tả giả về tình hình giai cấp ở ta rồi lại từ đó tổ chức một cuộc đấu tranh giai cấp thật tàn bạo và chia rẽ dân tộc một cách vô lý. Anh biết điều đó qua những câu chuyện về cải cách ruộng đất tệ hại do những người di cư từ miền Bắc vào sau năm 1954, trong đó có những văn nghệ sĩ tài năng và nổi tiếng nhất ở miền Nam bấy giờ mà anh quen và thân kể lại, … rồi sau này nữa khi những người cộng sản chiến thắng tiến vào Sài Gòn và lặp lại cái công cuộc cải tạo tư sản ở đấy. Cả trong việc họ giam giữ, hành hạ, làm nhục kéo dài đối với những người thuộc chính quyền và quân đội Sài Gòn cũ … Tất cả những ấn tượng nặng nề ấy ám ảnh anh, nhưng đối với anh, điều còn nguy hiểm và gây cho anh nhiều đau đớn hơn là tất cả những cái đó đã tàn phá những nền tảng văn hoá đạo đức lâu dài, bền vững nhất của xã hội, làm băng hoại con người. Anh nhìn xã hội và cuộc thế dưới cái nhìn của một nhà văn hoá, và những gì của đất nước hiện ra dưới cái nhìn ấy khiến anh không nguôi quằn quại tận tâm can.
Sống ở miền Nam thời bấy giờ, anh đã chọn một nghề anh cho là trong sạch nhất: anh đi dạy học, ở một trường đại học nhỏ mà có tiếng ngay tại thành phố quê hương. Cũng có bị bắt lính vài năm, nhưng rồi xoay xở thoát được, lại trở về ngôi trường thân yêu của mình…. Sau năm 1975, khi đã định cư ở Mỹ, anh đã có mấy lần về nước, thăm lại ngôi trường của anh, gặp lại thầy xưa, bạn cũ, sinh viên cũ của mình. Anh có cho tôi xem một số ảnh và một số đoạn phim quay cảnh bạn bè thầy trò cũ gặp lại nhau, và tôi nhận ra: rõ ràng anh được tất cả những con người ấy, nay đang sống và làm việc ở nhiều cương vị khác nhau tại Việt Nam, cũng có người có cương vị khá cao, hết sức quý trọng, thật sự kính yêu.Một nhà giáo dục tâm huyết, mẫu mực và tài hoa. Một con người trung thực, giàu sức hấp dẫn, một người trí thức chân chính.
Anh sang Mỹ ngay sau năm 1975, không phải do nợ nần gì với cách mạng, mà do không đồng tình với hệ tư tưởng nay đang trở thành thống trị trong xã hội, anh thấy sẽ rất khó sống trong không khí xã hội ấy. Vợ con anh lần lượt đi theo sau, nhiều lần vượt biên không thành, bị bắt lên bắt xuống, đến lần sau cùng đi được là do có sự giúp đỡ của một cán bộ rất cao cấp nay đang làm việc trong một ngành liên quan đến đối ngoại, nhưng ngày trước, trong kháng chiến chống Pháp lại là cán bộ quân sự từng có quen biết người chị đã ra tham gia bộ đội ở đơn vị tôi lúc bấy giờ, thậm chí cũng rất có thể anh ấy đã từng thầm yêu chị, tôi không sợ đoán nhầm lắm đâu, ngày đó anh ấy là sinh viên Hà Nội Nam tiến, tài hoa và lãng mạn, đánh giặc giỏi và đẹp trai, còn chị thì như là hoa khôi ở vùng kháng chiến chúng tôi. Vậy mà khi được giúp đi Mỹ, thì cả gia đình anh S. đi hết, riêng chị lại ở lại, nay vẫn sống ở Sài Gòn. Trong cuộc đời, làm sao hiểu hết được những níu kéo riêng tư đối với từng con người…
Có dịp làm quen với nhiều người Việt ở Mỹ, tôi mới thật sự hiểu ra những năm đầu sang đấy họ đã chịu bao nhiêu gian nan ghê gớm và đã can trường vượt qua khó khăn đến chừng nào. Mỗi cuộc đời làm lại trên đất khách là cả một sự tích kỳ diệu, mà lắm trường hợp gọi là anh hùng cũng không quá đáng đâu. Chẳng hạn, tôi có được làm quen với một người chủ hiệu sách tiếng Việt ở Cali. Anh ấy từng là chủ xuất bản một nhà sách nổi tiếng ở Sài Gòn trước đây. Anh không viết lách gì, nhưng yêu và tôn sùng sách như một tín đồ của một tôn giáo nhiều khi đến cực đoan. Sang Mỹ sau 1975 với hai bàn tay trắng, anh liều mình lên tận vùng Alaska sát ranh giới Bắc cực, 10 năm làm nghề đánh cá mà anh chưa từng biết chút gì, chắt chiu nhịn nhục âm thầm gom góp, 10 năm ròng vật lộn đầm mình trong băng tuyết, để cuối cùng có được chút vốn trở xuống Cali lập lại một nhà xuất bản, lấy lại đúng tên nhà xuất bản ở Sài Gòn trước đây của anh, in những quyển sách thật quý, thật đẹp, thật sang trọng …. chủ yếu để mà ngắm chứ nào có bán được mấy đâu. Tôi đến mua sách của anh lần đầu năm trước, năm sau trở lại, đã thành bạn quen, anh ra chào tôi, rồi lấy xuống từ kệ sách một cuốn Lược Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê anh mới in lại, bìa cứng, thanh nhã, tuyệt đẹp, ký tặng tôi: “Tặng anh cuốn sách cuối cùng của nhà xuất bản VN”. “Cuốn sách cuối cùng”, vì cái nhà xuất bản mà anh đã phấn đấu như một người anh hùng để khôi phục trên đất khách, bất chấp tất cả hy sinh to lớn của anh, đến nay cũng phải đành đóng cửa thôi. Lớp người Việt đọc được tiếng Việt trên đất Mỹ ngày càng mòn mõi đi. Thế hệ một, thế hệ một rưởi, rồi thế hệ hai, thế hệ ba … Rồi sẽ đến lúc hầu như không còn người gốc Việt biết nói và đọc tiếng Việt nữa. Biết làm sao được, cuộc sống là vậy…
Anh S. cũng từng trải qua những vật lộn ghê gớm chẳng kém để tồn tại và tìm được một chỗ đứng trong cái đất nước và xã hội mới, đầy hứa hẹn mà cũng lắm dữ tợn này. Cũng như rất nhiều trí thức đã bỏ nước ra đi những năm ấy, anh đi làm đủ thứ công việc, không từ cả nghề khuân vác, gác gian …Và ra sức học, học như lao vào một cuộc chiến sinh tử. Không chỉ để tìm chỗ đứng cho chính anh, mà còn để chuẩn bị cho vợ và các con anh sẽ sang sau nữa. Anh hùng và thông minh, cực kỳ tài năng, anh trở thành kỹ sư, rồi trở thành nhà nghiên cứu khoa học, làm chuyên viên kỹ thuật trong một cơ quan khoa học hàng đầu của nước Mỹ, và cũng có thể của cả thế giới ngày nay… Ba mươi năm. Vợ và các con anh sang sau, nay cũng đều đã ổn định và trưởng thành. Cả năm người con anh, con gái con trai, đều đã là tiến sĩ. Còn anh, anh bảo tôi năm nay anh sẽ xin nghỉ hưu. Anh muốn trở về với công việc yêu thích nhất của anh: viết và vẻ. Và lang thang đây đó, nhìn ngắm và suy nghĩ về cuộc đời …
Trong những đêm trắng ngồi với anh giữa ngôi nhà mênh mông ở DC, nhâm nhi rượu vang đỏ mà anh có đầy cả một tầng hầm, chúng tôi nói với nhau lang bang không biết bao nhiêu chuyện về đủ thứ trên đời, từ văn học nghệ thuật, cả triết học phương Đông và phương Tây, về các bạn bè cũ mà hoá ra chúng tôi bằng con đường này hay con đường khác đều cùng quen biết, thậm chí thân thiết, số phận khác nhau của từng người, cho đến chuyện chính trị nước Mỹ, nước Tàu, nước Nga, rồi nước mình … Nhưng rồi hầu như bao giờ cũng vậy, cứ như bằng một sức hút nam châm vô hình mà có thực và dai dẳng, câu chuyện cuối cùng bao giờ cũng lại dắt chúng tôi về một đề tài, một trăn trở không sao dứt ra nổi, và không biết rồi có bao giờ hoàn toàn dứt ra được không: Vì sao chúng tôi, những người như anh và tôi, từ trong sâu thẳm mỗi chúng tôi, chúng tôi gần nhau đến thế, có thể gặp nhau ở vô số điểm và đều là những điểm căn cốt nhất của nhân sinh … lại bổng bị chia cắt ra xa nhau đến thế, và bây giờ nói cho thật chân thành thì con đường đến lại với nhau cũng không hoàn toàn đơn giản và suông sẻ. Vẫn có một rào cản nào đó mà chúng ta, chúng tôi đang cố gắng vượt qua, mong rằng sẽ vượt qua được, nhưng quả thật chẳng hoàn toàn dễ dàng.
Anh S. thường kể với tôi về cuộc sống của anh và các bạn anh, những người anh thật sự thân thiết và quý trọng, trong đó có những người là nhà văn, là nghệ sĩ, là nhà giáo, mà cũng có một số người là sĩ quan trong quân đội Sài Gòn trước đây. Và dần dần tôi nhận ra điều này, mà trong một đêm tôi cũng đã thẳng thắn nói với anh: hoá ra tôi, chúng tôi, những người kháng chiến chống Mỹ, chủ yếu lăn lộn ở trên rừng những năm tháng ấy, chúng tôi quả thật không hề biết rằng trong các thành phố miền Nam ngày ấy còn có một bộ phận đời sống như thế, với những con người như thế. Trong hình dung của chúng tôi, ở các thành phố ấy bấy giờ chỉ có hai tình trạng đối lập nhau: một cuộc sống bức bối, ngạt thở, hết sức đen tối về tinh thần, và cả nhầy nhụa nữa cũng nên, dưới gót dày chiếm đóng của người Mỹ thô lỗ và hống hách; và mặt khác một cuộc chiến đấu căng thẳng, lặng lẽ và vô cùng anh hùng của những người nằm vùng chống lại ách chiếm đóng ấy. Chúng tôi không biết có những người như anh, không phải chỉ từng người cá lẻ mà là cả một tầng lớp, một bộ phận xã hội đáng kể, yêu nước và cả chống Mỹ nữa, một lòng yêu nước đáng kính trọng dù con đường để thực hiện lý tưởng đó có khác con đường chúng tôi đã đi; và chống Mỹ, ghét Mỹ, khinh bỉ Mỹ một cách đầy bi kịch vì lại phải dựa vào Mỹ để chống lại cái hệ ý thức mà họ nghĩ là có thể gây hại lâu dài cho đất nước, dân tộc… Và họ không chỉ có một đời sống tinh thần như vậy, mà thật sự cũng đã tạo ra được một không gian xã hội không quá nhỏ bé đâu, để chẳng hạn làm sinh nở cả một trào lưu văn học và nghệ thuật, một đời sống văn hoá tinh thần trong đó có những giá trị không nhỏ chút nào … Có lẽ chính cái khoảng không gian lớp người ấy từng dũng cảm tạo được đó đã tạo điều kiện để có thể có được chẳng hạn một nhạc Trịnh chắc sẽ còn sống lâu dài lắm với chúng ta. Trịnh mà tất cả chúng ta đều yêu, và chắc chắn sự nghiệp nghệ thuật của anh là một phần tài sản tinh thần từ nay không thể thiếu của dân tộc. Và cả những giá trị văn học nữa mà tôi nghĩ đến một lúc nào đó, cũng không nên để chậm trễ quá nữa, cần được đánh giá công bằng và khôi phục lại, bởi vì nói cho đúng đấy cũng đều những tài sản văn hoá quý báu của đất nước, chẳng ai có quyền tước đi mất của nhân dân… Giá như ngày ấy chúng tôi, chúng ta hiểu thêm được thành phố như thế thì tình hình đã có thể khác, cho lúc bấy giờ, và cho cả bây giờ … Nhưng, ở đời là vây, “giá như” tức là “nếu”. Mà lịch sử thì không có “nếu”. Lịch sử, khi nó đang còn là hiện thực tức thì diễn ra trước mắt chúng ta, không bao giờ cho chúng ta nhìn thấy được tất cả bức tranh toàn cục của cuộc thế. Nó che lấp đi rất nhiều mặt, trong đó rất có thể có cả những mặt thật sự rất quan trọng .
Tôi đã nói với anh S. suy nghĩ đó của tôi, và tôi cũng đã nói với anh rằng về phần anh, các anh cũng vậy, các anh ngày ấy cũng bị cái gọi là lịch sử cụ thể đó che lấp đi một mảng rất lớn của hiện thực. Các anh chủ yếu sống ở thành phố, hầu như không biết chút gì về nông thôn mênh mông của chúng ta cả. Mà tội ác của chính quyển miền Nam và của Mỹ thì chủ yếu lại diễn ra ở nông thôn, bên ngoài xa lắc các thành phố hào hoa và cũng khá phồn thịnh và tương đối yên bình thời ấy. Một hôm ở Texas, tôi tình cờ gặp một người cùng quê, trước đây từng làm tỉnh phó tỉnh Quảng Nam, đúng thời chính quyền Ngô Đình Diệm, giữ một chân phụ trách phần hành chính gì đó hình như cũng không quan trọng lắm.Anh ấy rất thản nhiên bảo tôi rằng theo chỗ anh ta biết một cách chắc chắn thì đạo luật chống cộng khét tiếng 10-59 đúng ra chỉ giết có mỗi hai người thôi! Tôi không nghĩ anh ta cố tình nói dối. Anh nói đúng điều anh biết: đạo luật ấy đúng là đã đưa ra xử tử hình hai người trước toà án công khai của chính quyền Sài Gòn. Còn hàng ngàn, hàng vạn người bị tàn sát, đày đoạ ở khắp nông thôn miền Nam những năm tháng ấy trong các chiến dịch tố cọng diệt cộng trả thù những người kháng chiến chống Pháp, anh không biết và không nói đến. Tôi có nói với anh ấy rằng chính người cậu ruột tôi, quê ở thôn Hưng Mỹ, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, Quảng Nam, vùng đất mà anh ấy chắc chắn biết rất rành rọt, đã bị giết chết trong cái chiến dịch khốn nạn ấy, ngay từ 1955, bị giết vô cùng dã man bằng cách dùng một cấy đũa tre vót nhọn đâm xuyên qua tim khi đã bị trói chặt tay chân. Sau năm 1975, người con trai của ông, tức người anh con cô con cậu của tôi, đã hằm hằm về tìm đúng tên ác ôn đã sát hại cha mình, quyết trả thù, và chính tôi đã giật lấy khẩu súng trong tay anh, ngăn hành vi manh động của anh… Quả thật đã có hận thù, quá nhiều hận thù chồng chất từ cả hai phía, tôi nói với anh S. Vấn đề bây giờ là, nếu quả thật dân tộc chúng ta là một dân tộc anh hùng, thì sự anh hùng bây giờ là hãy anh hùng “bước qua lời nguyền” lịch sử để lại ấy đi, để đến với nhau, mà tôi tin là hoàn toàn có thể đến với nhau được, như tôi và anh, chúng tôi đã đến với nhau và đã tìm thấy ở nhau vô số điều đồng cảm, từ những buồn vui nhỏ nhặt đời sống hằng ngày cho đến những nghĩ suy sâu xa và mong ước thống thiết, cả tin tưởng nữa ở số phận dân tộc. Tôi cũng nói với anh rằng tôi thật lòng cảm phục những người như anh, và không ít những người bạn khác tôi gặp và được quen ở Mỹ, đã vượt qua được cái bước khó khăn ấy để có một thái độ ôn hoà và một lòng mong muốn hoà giải thật sự giữa những bộ phận máu thịt của dân tộc đã bị lịch sử chia cắt ra, mặc dầu còn rất nhiều bất đồng ở phía bên này cũng như phía bên kia. Tôi biết các anh cần nhiều sự dũng cảm hơn chúng tôi để làm cho được việc ấy, vì trong cuộc chiến vừa qua chúng tôi đã là người chiến thắng, mà đối với người chiến thắng lẽ ra thái độ và hành động hoà giải phải chủ động và dễ dàng hơn nhiều. Nếu chúng tôi không chủ động và thấy dễ dàng hơn trong việc này, thì quả thật chúng tôi rất kém cõi và hết sức đáng trách…
Đêm ngoại ô DC yên tĩnh một cách khác thường. DC thật đẹp, nhất là ở những khu ngoại ô này, ở thành phố mà cứ như ở trong rừng, và rừng thì bao giờ cũng vậy, dễ gợi cho người ta vừa sự bình tâm sâu xa lẫn những suy tư có thể thăm thẳm. Khuya lắm rồi đêm ấy, anh S. trầm ngâm rót đầy ly vang cho tôi rồi cho anh, chúng tôi lặng lẽ cụng ly với nhau, lại im lặng rất lâu, rồi anh nói, rất chậm và nhỏ: “Nhiều lúc tôi có suy nghĩ thật vớ vẫn, anh ạ. Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn … Nhưng mà miền Nam thì chắc chắn không thể nào thắng được, làm sao mà thắng được, hở anh. Vì vô số nguyên do và đều là những nguyên do có tính chất cơ bản, quyết định cả.Vậy đó! …”
Tôi đã có lần đọc câu này của anh trong một bài anh trả lời phỏng vấn. Và tôi hiểu anh: Anh muốn nói đến những nền tảng cơ bản nhất của văn hoá và đạo đức xã hội, mà chúng ta, trên con đường mà chúng ta đã chọn để đi đến chiến thắng, do éo le và áp lực từ chính con đường bắt buộc phải chọn ấy, và do cả những lỗi lầm lẽ ra cũng có thể tránh được của chúng ta nữa, chúng ta để cho băng hoại mất đi. Tổn thất đó rất lớn, có những điều thuộc về nền tảng cơ bản và lâu dài. Ở miền Nam, trong một chừng mực nào đó và trong những phạm vi nào đó, anh và những người như anh đã cố gắng gìn giữ nó tốt hơn. Ý nghĩ đó của anh chắc là còn phải được cân nhắc kỹ và tinh tế lắm nữa để nhận ra cho thật rành rẽ chỗ đã phải chỗ chưa hoàn toàn phải. Nhưng có điều chắc chắn, chỉ một người yêu đất nước mình và nền văn hoá của đất nước mình lắm mới có thể nghĩ và nói đến những điều như vậy. Thổ lộ ra những suy nghĩ như vậy, một cách đau đớn, đến chừng rớm máu. Riêng tôi nghĩ, không biết tôi có sai không, có “mất lập trường” quá không, tôi, một con người đã cầm súng kiên định suốt ba mươi năm ở phía bên này của cuộc chiến, tôi thật sự muốn lần ra một phần lẽ phải, dù là nhỏ thôi nhưng mà cần thiết lắm, trong điều anh nghĩ và chân tình và đau đáu nói với tôi…
Tôi có gặp các con anh., cả các cháu nội ngoại của anh. Trong gia đình anh, bây giờ phân tán từ bắc đến nam nước Mỹ, có một quy định nghiêm ngặt: mọi người phải biết và nói giỏi tiếng Việt. Anh bảo gia đình anh sẽ giữ điều đó cho đến đời chắt, đời chít của anh chị. Nhưng rồi có hôm anh hỏi tôi, trăn trở và đau đớn: “Nếu ở thế hệ này của chúng ta, trong nước với ngoài nước chúng ta không thật sự hoà giải được với nhau, thì rồi đến thế hệ sau, thế hệ sau nữa, sẽ ra sao đây? Những người ở bên này lúc ấy có còn là một bộ phận máu thịt thống thiết của Tổ quốc chúng ta, như chúng tôi bây giờ nữa hay không?”.
Dân tộc Việt chúng ta trong lịch sử là một dân tộc không có kinh nghiệm lưu vong, trong khi người Do Thái, người Trung Hoa từng có kinh nghiệm lịch sử lâu dài đó, và đã biến thực tế đó thành một sức mạnh nhiều mặt, thậm chí vô giá của đất nước và dân tộc họ trong tồn tại và phát triển.
Còn chúng ta?
Câu hỏi ấy đặt ra đương nhiên cho những người Việt đang ở cả hai bên đại đương, nhưng cũng đương nhiên trước hết cho chúng ta, vì chúng ta đã là người chiến thắng và đang có trong tay cả đất nước và chịu trách nhiệm về đất nước ấy./.

Read More..

8 thg 2, 2013

Mùa cúm của những người đón Tết xa nhà


Cá vàng




Nhưng nhiều người thì không thể như thế. Mấy ngày gần đây khi lên mạng, Cá xem và đọc được rất nhiều tâm sự của nhiều bạn du học sinh ăn Tết xa nhà từ nhiều nơi trên thế giới, không phải  chỉ ở Mỹ. Hôm trước, Cá đã được xem một clip chúc tết có sự tham gia của các bạn du học sinh trên nhiều nước. Các lời chúc bắt đầu từ Rome, Italy, xuyên suốt nhiều quốc gia, thành phố ở Châu Âu, rồi quay lại Châu Á, rồi đi xuống Châu Úc phía cực Nam, rồi vòng qua Angola ở Châu Phi, vượt đại dương để sang Bắc Mỹ, và cuối cùng dừng chân ở Việt Nam. Clip có độ dài gần 15’ trên Youtube và được thực hiện khá công phu nhưng cũng không kém phần giản dị, dễ thương của các du học sinh. Một người một tâm sự, hai người hai tâm sự, trăm người cũng có thể có trăm tâm sự khác nhau.

​​Rồi khi lướt qua những dòng statuses và những bức ảnh trên facebook, Cá thấy thú vị lắm. Các bạn trẻ ở nhà, có người hăm hở cho post những bức ảnh mình đang ‘nghịch’ gói bánh chưng, trong khi đó có người thì post những bức ảnh chụp lại không khí Tết thời xưa với thịt muối dưa hành câu đối đỏ, với những chùm pháo. Có người thì cầu trời năm nay vẫn được nhận lì xì mừng tuổi. Người thì chỉ cầu mong không còn chịu cảnh ‘cô đơn’ – hay theo ngôn ngữ của các bạn trẻ bây giờ là không còn FA (forever alone) trong năm mới.
Còn có những cập nhật khác, chỉ cần nhìn qua là biết ai là du học sinh vì vào thời điểm này, bạn nào cũng đang bắt đầu bước vào những bài kiểm tra đầu kỳ. Nhất là những bạn nào là sinh viên năm nhất, năm hai đại học, thì lại càng không muốn chểnh mảng học tập. Chỉ có những bạn năm cuối việc học tập gần như xong xuôi hoặc ai đang học cao học thì mới có tâm trạng mà nghĩ đến làm gì cho Tết. Nhưng mà dù sao chăng nữa, cho dù bận học hay không, thì có một điều mà Cá khá chắc chắn rằng: đối với nhiều người, đây là mùa flu, mùa sick - cảm lạnh, mùa cúm; còn đối với những người xa nhà, họ cũng bị sick, nhưng mà là ‘homesick’ – nhớ nhà.

Khi ở nhà, với nhiều bạn ở thành phố, bánh chưng, thịt đông, dưa muối, thì hồi đó gần như ai cũng toàn nhường cho ‘người lớn’ làm hết, còn ‘trẻ con’ là các bạn trẻ thì có bày ra, bưng đến tận miệng, chưa chắc đã muốn ăn. Không chỉ có Tết, những dịp khác như Trung Thu cũng vậy. Ở nhà ít khi ăn bánh nướng, bánh dẻo; nhưng đến khi sang nước ngoài du học, nhìn thấy một hộp bánh Trung Thu có ghi Tiếng Việt, thì mừng như bắt được kim cương đá quý, phải vội vã lôi điện thoại ra chụp ảnh lại mình với…cái bánh. Dễ dàng nhận ra, khi đi du học rồi, không còn những thứ ‘hiển nhiên’ là phải có ấy nữa, thì bỗng dưng lại thèm, lại nhớ, lại da diết, lại khắc khoải, rồi lại bùi ngùi. Nhiều bạn may mắn học ở những trường ở vùng có phương tiện đi lại và gần chợ Việt thì còn đỡ, các bạn có thể dễ dàng ra mua lá chuối, rủ nhau tụ tập đóng khuôn rồi gói bánh chưng. Tỉ lệ thành công thì cũng không cao lắm vì đa số chưa ai tự mình gói bao giờ, ở nhà cũng ít khi ăn, thế mà đến bây giờ, không ai bảo ai, cứ thế mà rủ nhau cùng làm.


Được sắm Tết là một điều gì đó khá xa vời cho những bạn du học sinh ở các trường không gần cộng đồng Việt. ​​Nhưng cũng có nhiều bạn, ở vùng nông thôn – rural areas – thì làm gì có chợ Việt, nói gì đến Tết. Họ không thể có bánh chưng, đồ ăn hàng ngày của họ không khác thường ngày. Nhất là những bạn nào học ở những trường năm đầu hoặc hai năm đầu bắt buộc phải ăn ở trong trường thì khẩu phần ăn của họ vẫn là pizza, vẫn là burgers, vẫn là khoai tây chiên, vẫn là sandwich. Họ hàng ngày vẫn phải cắm mặt lên thư viện học cho các bài kiểm tra, rồi chạy đến lớp, học xong lại chạy đôn chạy đáo làm thêm. Nhưng cũng kì lạ một điều, ai cũng thiếu thời gian ngủ, nhưng trong những ngày này, họ thà thiếu ngủ còn hơn bỏ lỡ những tin tức liên quan đến việc người thân, bạn bè của họ chuẩn bị cho cái Tết ở nhà.

Người ta nói, đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Thực ra, nói đi cũng phải nói lại, được đi du học, cho dù là nước nào đi nữa, thì các bạn du học sinh đều đã may mắn hơn rất nhiều người chưa có cơ hội đi đó đi đây rồi. Đúng là đi nước ngoài thì mở mang được nhiều điều, tiếp xúc được nhiều nền văn hóa, được thử nhiều đồ ăn, được gặp gỡ nhiều người, được tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm; nhưng phải thừa nhận, Tết có lẽ là mùa cúm nặng nhất của các bạn du học sinh hay những ai sống và làm việc xa nhà. Mong các bạn luôn giữ vững tinh thần làm các bài thi thật tốt hay làm việc thật tốt và sẽ không bị trận cúm này đánh gục.

Gửi lời chúc các bạn độc giả của Blog Đinh Bá Tuấn một năm mới an khang, hạnh phúc, mạnh khỏe, và thành công.  

Read More..

4 thg 2, 2013

Những công chức vui tính

Nguyễn Đoàn

Mừng là tuổi thọ của dân ta đã liên tục nâng cao, từ 40 tuổi năm 1960 đến 73 tuổi năm 2011, và tôi cho rằng được vậy do có những công chức vui tính, làm dân lúc nào cũng cười.

Điều đó chẳng phải tôi nói ngoa đâu. Này nhé, ở một huyện nọ có hai ông bà liền kề nhà nhau tranh chấp đất đai. Một hôm, hai người tá hỏa khi nhận được giấy triệu tập của tòa án huyện gọi hai người lên không phải để giải quyết vụ án tranh chấp đất mà để xử … ly hôn. Hóa ra cô công chức khi soạn thảo văn bản triệu tập của Tòa đã sử dụng mẫu văn bản ly hôn lưu sẵn trên máy tính, chỉ thay đổi tên, họ, địa chỉ rồi in ra trình thẩm phán,  thẩm phán cũng không đọc lại, thò bút ký luôn. Thế là mọi người được mẻ cười nôn ruột. Nhưng vẫn chưa buồn cười bằng một cụ ông 73 tuổi vào Bệnh viện đa khoa thành phố nọ chữ bệnh, giấy ra viện của cụ, bác sĩ Trưởng khoa Điều trị và Giám đốc Bệnh viện đã ký tên, chẩn đoán: thai 16 tuần!

Hơn thế nữa, những công chức vui tính còn liên tục hàng năm đề xuất hoặc ban hành những văn bản rất hài hước. Này nhé, văn bản “Về việc ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ” quy định ai có chiều cao đứng dưới 1,45 m, trọng lượng dưới 40 kg và ai có vòng đo ngực trung bình dưới 72 cm không được đi xe trên 50 phân khối. Đọc văn bản này, cứ tưởng tượng cái cảnh cảnh sát giao thông stop già trẻ trai gái đang lưu thông xe máy trên đường để đo vòng ngực và đưa lên bàn cân mà không nhịn được cười. Lại nữa, có thông tư ban hành quy định “Thịt và phụ phẩm bảo quản ở nhiệt độ thường chỉ được bày bán trong vòng 8 giờ kể từ khi giết mổ” nhưng ra thông tư xoẹt cái chơi thế thôi,  có tài thánh cũng không thể xác định được thịt này là thịt quá 8 giờ, vì đâu có thiết bị để kiểm tra, rồi giả dụ phát hiện quá 8 giờ thì tiến hành thu hồi, tiêu hủy thế nào, kinh phí ở đâu… biết chắc chẳng thể làm được, thế là dân lại được cười. Lại nữa, có thành phố ra văn bản quy định cán bộ, đảng viên địa phương tổ chức tiệc cưới không được quá 300 người và 50 mâm cỗ. Ô hay, người ta có nhiều người thân, bạn bè thì người ta mời chứ có ảnh hưởng gì đâu mà cấm? Chẳng lẽ có nhiều bạn bè người thân thì tiêu cực nhiều hay sao? Tiêu cực là trong tâm của con người chứ không phải trong tiệc. Cứ nghĩ đến chuyện vì yêu cầu khống chế số lượng người đến dự mà bỗng dưng bạn nhận được một thiếp mời đám cưới có in dòng chữ: “Thiếp này chỉ có giá trị cho một người, cấm đi kèm”, rồi chứng kiến cái cảnh cửa vào dự tiệc cưới có người soát thiếp mời như soát vé ở rạp chiếu phim, lại chứng kiến cái cảnh đám cưới nhà người ta mà có người hùng hổ xông vào đếm bàn tiệc, đếm đầu khách là thấy vui đến cỡ nào rồi. Lại nữa, Nghị định phòng cháy chữa cháy ban hành, ở điều 11 có quy định phạt tiền từ 2 trăm đến 5 trăm ngàn đồng những ai mang điện thoại di động vào trạm xăng. Để thực hiện, chả lẽ mỗi trạm xăng đều phải tuyển thêm 3 người làm theo 3 ca để nhận điện thoại di động của dân gửi khi vào mua xăng và 3 công an theo 3 ca ấy để xử phạt những ai cố tình mang điện thoại di động vào?! Lại nữa, Bộ Xây dựng ra văn bản quy định người nào cho thuê nhà phải làm thủ tục lập doanh nghiệp với điều kiện phải có vốn pháp định 6 tỷ đồng, mà theo Luật Doanh nghiệp lại quy định hộ kinh doanh có trên 10 lao động trở lên mới được lập doanh nghiệp. Vậy thì hai ông bà già về hưu, sống với đồng lương ít ỏi, muốn dành tầng dưới cho thuê kiếm thêm thu nhập, rút lên tầng trên ở, cũng phải bắt buộc có vốn pháp định 6 tỷ và 10 lao động sao? Vui thật!

Những công chức vui tính đến giờ vẫn tiếp tục cho ra những văn bản gây cười kiểu vậy, chẳng hạn xử phạt hành chính đối với những trường hợp nhà vừa ở vừa kết hợp kinh doanh sản xuất, cấm có kính che mặt trên nắp quan tài,  chó, mèo phải chính chủ … làm dân luôn được những mẻ cười thỏa thích, mà các cụ đã có câu: “mỗi lần cười bằng mười thang thuốc bổ”. Nhờ nạp nhiều thuốc bổ quá nên tuổi thọ của dân ta ngày một nâng cao.

 Phát hiện đó của tôi, đố ai cãi nào!
Read More..