Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

15 thg 12, 2012

Cười với thơ "Hậu bút tre"


Nguyễn Giang

Đến nay có thể nói “Thơ Bút Tre” là một trường phái. Bởi vì, thơ Bút Tre ngày càng phát triển rầm rộ, mạnh mẽ và phong phú. Nó không còn bó hẹp trong phạm vi truyền khẩu nữa. Các sách, báo, tạp chí đ• đăng tải khá nhiều. Có tờ báo còn mở hẳn chuyên mục “Thơ Bút Tre” có địa phương còn thành lập câu lạc bộ “Thơ Bút Tre”.
Sức lan tỏa của nó không chỉ ở trong nước mà còn ảnh hưởng ra cả nước ngoài, ở những nơi Việt Kiều sinh sống. Nhiều người làm thơ Bút Tre. Có tác giả in thành tập, gọi là thơ “Hậu Bút Tre”. Điển hhhh như: Đặng Trần Luật, Phạm Ngọc Chân, Nguyễn Vũ Tiềm và đặc biệt là Nguyễn Bảo Sinh, người kế tục sự nghiệp thơ Bút Tre thành công hơn cả.
Một số tác giả còn lấy bút danh dựa trên cơ sở người sáng lập ra nó như: Bút Tre Trẻ, Bút Tre Xanh, Bút Tre Non, Bút Nứa, Bút Sậy rồi Bút Tre Tây, lại còn cả Bút Tre Uôn-Cúp nữa...
Một nhà thơ Bút Sắt viết:
Ngày nay cuộc sống bộn bề
Nụ cười thuốc bổ, ca vè dân gian
Bởi ai cũng có thể làm
Bút Tre, Bút Nứa, lại càng bút bi.
Thực ra, Bút Tre chỉ là người “khai mở” một cách viết mới, không rõ vô tình hay hữu ý, nhưng đ• gây ấn tượng rất mạnh và được nồng nhiệt đón nhận.
Điển hình là những câu:
- Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.
- Chú về công tác bảo tàng
Cũng là nhiệm vụ cách màng (mạng) giao cho
- Con ruồi là vật hiểm nguy
Cái chân của nó rất vi trùng nhiều.
- Bỗng đâu bộc phá thình lình
Nổ tung chính giữa tổng dinh họ Đờ.
(Tướng Đờ – Cát bại trận ở Điện Biên Phủ)
- Chị em du kích tài thay
Bắn tàu bay Mỹ rơi ngay cửa Ty mình
- Hoan hô các bạn Quảng Bình
Từ trong tuyến lửa thình lình ra đây.
- Giặc Mỹ leo thang đến Phú Tho (Thọ)
Na-pan đốt cháy cả rừng co (cọ)
Sẵn sàng chiến đấu chị em bắn
Rớt trước ty mình một dù đo (đỏ)
- Bấy lâu gan dạ bồn chồn
Nay mừng gặp lại sáng khôn con người.
Chính những câu thơ của Bút Tre đ• vô tình “vẽ đường cho hươu chạy”. Nó trở thành điểm tựa cho dân gian “Hậu Bút Tre” tận dụng khai thác triệt để. Bắt nguồn từ cách viết của Bút Tre, họ chế thêm, bịa thêm, nói ngược nói xuôi, nói lái các kiểu chẳng biết đâu mà lần. Khi giả bộ ngô nghê, khi cợt nhả bỗ b•. Thời đại mới, trình độ học vấn ngày càng cao. Trình độ thơ phú cũng lắm “cao thủ”. Nhiều cây bút Hậu Bút Tre rất tài hoa, sắc sảo, hài hước một cách tế nhị, khéo léo. Tục mà kín đáo, hở mà không “nghĩa lộ”. Nó khởi sắc trên cả... “tuyệt vời”, không hổ danh “Hậu sinh khả ố ”.
Thơ Hậu Bút Tre vốn từ thực tế, chủ yếu đọc cho vui cười thoải mái. Chẳng có ý đồ xiên xẹo hay chọc giận ai cả. Cách diễn tả thường đơn giản, cụ thể, nêu trực tiếp vấn đề cần nói theo lối úp úp, mở mở hài hước, tếu táo. Đôi khi tự đem mình ra châm biếm, chế diễu, cười cợt:
- Vợ đẹp thì chồng phải lo
Đêm nằm lắm kẻ rình mò ước ao
Chẳng thà cứ xấu như tao
Cho không cũng chẳng thằng nào nó them (thèm)
- Cao lương mỹ vị đều chê
Chỉ thích cơm đĩa đặt kề đùi non
- Đánh cá phải tiết kiệm mìn
Đàn ông yếu thận chớ tìm gái tơ
- Thà ăn một miếng bò non
Còn hơn sơi hẳn cả con bò già
- Ước gì anh hóa thành gà
Để đi đạp mái những nhà xung quanh
- Ước gì em hóa thành trâu
Anh hóa thành đỉa, anh bâu lên người
- Sướng nhất là ngủ với giai
Thứ nhì là được ăn xoài chín cây.
Phổ biến nhất là thêm, bớt, nhái, mô-đi-phê từ cái nọ sang cái kia. Chính cái sự cố tình bắt chước ấy, chế ra ấy đ• gây ra tiếng cười sảng khoái:
-  Bây giờ mận mới hỏi xoài
Vườn hồng đ• có ai nhoài vào chưa
Mận hỏi thì xoài xin thưa
Vườn hồng chưa có ai khua tay vào.
- Hôm qua đi chơi khuya về
Hương tình, mem rượu bay đi ít nhiều
Vợ không ta thán một điều
Chỉ con chó mực vẫy liều cái đuôi.
- Lương chồng, lương vợ lương con
Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm
Lương tâm đem chặt ra hầm
Chồng chan, vợ húp lần rầm khen ngon.
- Bầm ra ruộng cấy bầm run
Con vào nhà nghỉ còn run hơn bầm
Si-đa phục sẵn xa gần
Không hại riêng mình, hại cả vợ con.
- Vợ ở xa, gái ở gần
Cái váy nó ngắn, cái chân nó dài
Ngực nó để hở ra ngoài
Ngày ngày nom thấy bố ai chả thèm.
Thơ Hậu Bút Tre thường bột phát hết sức tự nhiên như thế, đôi khi nội dung còn méo mó, chữ nghĩa xộc xệch thô giáp, nhiều lúc tỏ ra ngô nghê, ngộ nghĩnh “ấm ớ việt gian” được sáng tác kịp thời dưới mọi hình thức.
- Tiễn anh ra bến ô tô
Em về em khóc tồ tồ cả đêm
- Đông vui chớ có chen vào
Gái tơ huých nhẹ, chỗ nào cũng đau
- Rượu minh mang rất tuyệt vời
Chỉ dùng chữa bệnh cho người yếu chim
- Gái trinh vắng bóng trên đường
Hóa ra còn ở trong trường mầm non
- Không đi không biết Sài Gòn
Đi về trong túi chẳng còn một xu
Nói ra thì bảo rằng ngu
Cái mồm ăn ít, thằng cu ăn nhiều.
- Dỗ trẻ con cho sờ ti
Dỗ người lớn chẳng khác gì trẻ thơ
Sờ rồi lòng những ngẩn ngơ
Lại mong sờ chỗ trẻ thơ ra đời.
Nhưng, thú vị nhất, rôm rả nhất vẫn là chuyện “Bồ bịch”. Thời nào cũng thế “có cái nắng, có cái gió thì phải có cái đó”. Thời “mở cửa”, “cởi” hơn, “mở” hơn “thoáng” hơn, thể hiện bản năng gốc đúng nghĩa hơn.
- Bánh mỳ phải kẹp pa-tê
Ai mà chả có máu dê trong người.
Với lối sống hiện đại nên “hại điện” là cái chắc. “Đạo bồ bịch” được xem là chuyện “sinh hoạt vui vẻ”, “chuyện thường ngày ở huyện”. Không cặp bồ mới lạ chứ cặp bồ thì quá...kính nể!
-Trái tim anh như căn nhà trống
Gió em vào nếu chán gió lại ra
Có chuyện kể rằng: “Thầy thuốc hỏi bệnh nhân tình trạng sức khỏe ra sao, bệnh nhân khai:
- Nhà em mắc chứng bệnh lạ lắm, cứ thấy gái là chân tay bủn rủn, bứt rứt như kim châm, kiến đốt. Toàn thân nóng bừng bừng, tưởng sắp bốc lửa.
Thầy lại hỏi:
- Bị lâu chưa?
- Thời trẻ thì nhẹ thôi, nhưng càng ngày càng nặng thêm, nhất là sau một thời gian lấy vợ đến bây giờ thì nặng lắm rồi, mong thầy mở lượng từ bi cứu giúp.
Thầy lắc đầu:
- Ta chịu! Đến ngay như ta mắc bệnh này đ• lâu mà sư phụ ta còn phải bó tay, vì sư phụ bị nặng hơn ta nhiều.
Bởi thế, mới có thơ nhắc nhở:
- Vợ là Thánh chỉ vua ban
Có sao dùng vậy chớ bàn đúng sai.
Nhưng nhiều ông chồng cứ ngó nghiêng, mắt la mày liếm.
- Từ khi ta có vợ rồi
Thấy mọi cô gái trên đời đều xinh.
Rồi cái lý sự cũng được thể hiện rất “cùn”:
- Con bò có một khối u
Đàn ông một vợ thì ngu như bò.
- Rượu chè cờ bạc gái trai
Là thứ thuốc bổ ông trời ban cho.
- Suốt đời chỉ yêu một người
Bệnh ấy còn nặng gấp mười ung thư.
- Phải hiểu thật kỹ đàn bà
Lúc trẻ ghen ít, càng già càng ghen.
- Chỉ lo giữ vợ trong nhà
Vừa hèn vừa chẳng xứng là đàn ông.
Không những thế họ còn nói rất vui, rất láu cá, ỡm ờ. Gọi vợ là cơm, bồ là phở “Sáng đưa cơm đi ăn phở, trưa dẫn phở đi ăn cơm, chiều cơm đi đằng cơm, phở đi đằng phở. Tối ôm cơm nhớ phở?!! Và, Vợ là địch, bồ là ta, quanh quẩn gần nhà ta đi với địch, tham quan du lịch ta đi với ta. Những lúc can qua ta về với địch. Đêm nằm với địch, ta lại nhớ ta”.
- Ai mà chả thích ăn quà
Nhưng mà vẫn phải về nhà ăn cơm
Nhai cơm thì khô như rơm
Cho nên cứ phải vừa cơm vừa quà.
Đôi khi ngụy biện theo lối vơ vào:
- Bờ sông lại lở xuống sông
Đàn bà ngủ với đàn ông thiệt gì.
- Kim đâm vào thịt thì đau
Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời.
- Sướng nhất chết ở chiến trường
Sướng nhì chết ở trên giường mỹ nhân.
- Chiến trường thích cựu chiến binh
ái tình thích kẻ chiến trinh lần đầu.
Thế đấy, đừng tưởng cựu chiến binh hay người cao tuổi là “hết phim” là “khát vọng” tập cuối đâu. Nhầm!.

- Già rồi đóng bỉm đi chơi
Quyết không quanh quẩn ở nơi xó nhà.
- Em đừng ngần ngại cái tuổi ta
Tóc bạc râu xanh, đứng đỉnh già
Yêu đương chưa chịu thua ai nhé
Bia rượu kém gì mấy thằng cha
Của nợ hai tay đè chửa xuống
Khối tình nong m•i cứ to ra
Già ở chỗ nào thây kệ nó
Chỗ ấy xem ra vẫn chửa già.
- Tóc thì nửa bạc nửa xanh
Em sờ củ hành thấy vẫn còn tươi
Em khen ta quá tuyệt vời
Già đâu cũng mặc, chỉ cốt tươi củ hành.
Cũng có người mạnh mồm như thế, nhưng có người lại than thân trách phận, nghe xót xa lắm:
- Ngày xưa vác pháo băng đồi
Nay không nhấc nổi qua đùi chị em.
Bởi chị em không sợ mỏi, không sợ mệt, chỉ sợ mềm.
- Tuổi già như lá mùa thu
Cái răng thì rụng, cái cu thì mềm
Đôi khi cũng thấy xòm xèm
Nhưng mà chỉ dở ra xem, chứ...không làm.
Xem ra cái gì cũng thành thơ được, đến mấy ông bợm rượu cũng có khoảng trời thơ riêng theo cách nói: “Chim khôn tìm cành cao mà đậu, người khôn tìm bạn nhậu mà chơi”.
- Hiu hiu gió núi đầu non
Những thằng uống rượu là con ông trời
Tưởng rằng nó uống nó chơi
Ai ngờ nó uống để rơi xuống trần.
- Trăm năm bia đá cũng mờ
Nghìn năm bia rượu lơ mơ suốt ngày.
- Rượu cay rượu đắng một đời
Uống cho quên hết những lời thế nhân.
Thơ Hậu Bút Tre là thế, thời nào cũng vậy, nó cứ tồn tại, giống như cái anh say rượu ấy, “uống cho đất bằng lại” lủng ca lủng củng: “Tôi say? anh say, hàng xóm say chứ tôi say đâu mà say?”
Rồi hai chân run lẩy bẩy, tay không chém nổi gió, miệng vẫn lảm nhảm:
- Tay cầm bầu rượu nắm nem
Ta cầm thiên hạ chứ cầm em làm gì!
Âu đấy cũng chỉ là lời nói của kẻ say.
- Bà con đừng chấp làm gì.
Cám ơn! Cống hỷ! Mec-xì! Xanh-kiu!
          
Read More..

13 thg 12, 2012

Ngày tận thế - Có gì mà sợ


Đinh Bá Tuấn

Chỉ còn một tuần nữa là đến ngày 21/12/2012,  ngày mà theo tiên đoán của người Maya là ngày tận thế của toàn nhân loại. Cả thế giới loài người đang nháo nhác. Để tránh họa này, ở Châu Âu người ta xây những hầm ngầm kiên cố. Ở Mỹ người ta chế tạo loại khinh khí cầu chống được tất cả các tia bức xạ. Nghèo như mấy nước bên trời Phi người ta cũng đào hầm, tích trữ lương thực …Chỉ riêng người Việt sống ở dải đất hình chữ S là bình chân như vại. Thậm chí ngay cả  khi mấy ông giáo sư đủ các trường phái, ngày thường cãi nhau như mổ bò, nhưng nay cùng đồng nhất  lên tiếng là: không có cơ sở nào để bác bỏ dự đoán về ngày tận thế của người Maya thì dân chúng nước Việt cũng cứ …vô tư.

Người Việt ở nước Việt không cập nhật được thông tin về ngày tận thế à? Không phải, báo chí các loại đã đưa tin đầy, dân tình nghe cũng đầy tai.

Người Việt ở nước Việt không sợ chết à? Cũng không phải. Được thượng đế tạo ra trên thế gian này, ngoài mấy đứa thần kinh không ổn định, còn lại ai chả muốn sống.

Thế sao, chỉ còn một tuần nữa thôi tất cả sẽ ngỏm củ tỏi hết  mà sao dân tình nước Việt vẫn giữ được bình tĩnh thế.

Đây mới chính là cái khác của người Việt với thế giới còn lại. Cái khác này đã đem lại niềm tự hào vô bờ bến cho người Việt, cho văn hóa Việt chúng ta, ấy là: “ Thà chết một đống, còn hơn sống một mống”.

Thế thì, nay có cơ hội tất cả cùng đi vào miền vĩnh hằng. Vậy có gì mà phải buồn, có gì mà phải cuống cà kê lên. Chỉ bực nhất lũ tư bản giãy chết, chúng lại cười mỉa: người Việt sống ở dải đất chữ S chúng mày, sống hay chết thì có khác gì nhau mà tinh tướng./.  
    
                                                  Vũng Tàu, 13/12/2012

Read More..

11 thg 12, 2012

Muốn sống được thì phải liều!

Nguyễn Đoàn
  
Gia đình nọ có hai đứa con trai lớn, đều sắp lấy vợ. Ông bố chỉ có một căn hộ mới mua, không biết cho con nào, bèn gọi hai đứa lại, bảo mỗi đứa kể một câu chuyện thật buồn  cười. Đứa nào có chuyện kể hay nhất, sẽ được căn hộ đó.

Người con cả kể: Có một cán bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch lớn, mỗi ngày xuất xưởng hàng vạn viên, công việc nhiều, làm không xuể. May sao một hôm đang đi kiểm tra chất lượng một mẻ gạch xây tường mới ra lò, bị một viên gạch rơi trúng đầu. Anh ta sửng sốt khi thấy đầu anh ta không bị vỡ mà viên gạch bị vỡ tan. Từ đó, anh ta không dùng máy nữa mà dùng ngay đầu mình để kiểm tra chất lượng sản phẩm từng mẻ gạch cho nhanh. Nghe nói chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch này kém hoài, nên đã một năm anh ta dùng đầu mình để kiểm tra chất lượng gạch, các viên gạch sản xuất ra đều bị vỡ mà đầu anh ta vẫn vô sự. 
Nghe xong, ông bố cười hi hi. 
Còn người con thứ hai kể: Một đập thủy điện có vốn đầu tư hơn hai trăm tỉ đồng đang được xây dựng ở Kon Tum dài tám mươi mét, thành bức tường bê tông của đập dày hơn một mét rưỡi. Để xây một con đập như vậy, lõi đập phải xếp đá hộc, bơm vữa xi măng, đổ bê tông liên tục với mác 150 để chịu được tác động lực ngoại lai của công trình, đến xe tăng húc cũng không đổ. Nào ngờ, sau gần bốn năm thi công sắp đưa vào sử dụng, có chiếc xe Ben chỉ tình cờ va quệt vào thành tường bê tông của đập đã làm cho sáu mươi mét thân đập bị đổ sập, vỡ vụn, nằm ngổn ngang dưới suối. Lạ hơn nữa là tường của đập bị sụp đổ hoàn toàn mà chiếc xe Ben gây nên sự cố chỉ bị "xây xát" nhẹ ở phần kính, tương tự như chuyện anh con vừa kể, viên gạch rơi trúng đầu cán bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch thì vỡ tan, còn đầu người cán bộ ấy lại không việc gì. Kiểm tra hiện trường, hóa ra lõi thân đập bê tông họ làm đâu có như yêu cầu thiết kế mà chỉ được làm bằng đất, cát và đá cùng “lơ thơ” những khung sắt gầy nhom. 
Nghe xong, ông bố ôm bụng cười sặc sụa, bảo:  
- Câu chuyện thằng cả kể hay, nhưng là chuyện bịa như thật, Nhưng câu chuyện thằng út kể hay hơn vì đó là chuyện thật mà như bịa. Vì vậy thằng hai được bố cho căn hộ mới mua. Đó là một căn hộ dành cho những người thu nhập thấp, nhưng bố cũng phải bỏ ra tất cả số tiền dành dụm bao năm mới có được đấy. 
Nghe vậy, người con trai thứ hai sợ tái mặt, chắp tay vái bố xin không nhận căn nhà bố vừa cho. Anh ta bảo: Hu hu …bố ơi, nhà của bố cho là quý, nhưng bạn con cũng vừa mua một căn nhà dành cho những người thu nhập thấp. Nhà vừa trao tay đã xuống cấp, tường bị ngấm nước ẩm ướt, bẩn thỉu. Lan can thì chắp nối sơ sài, mối hàn xiêu vẹo, sống mà luôn cảm thấy bất an. Gia đình của một anh bạn khác ở quê cũng được chính quyền đưa vào diện cấp cho một trong số hàng trăm căn nhà vượt lũ dành cho các hộ dân nghèo tại địa phương nhưng không dám nhận, vì khiếp khi thấy chỉ một cơn dông, đã có 24 căn nhà vừa thi công hoàn thiện và 5 căn nhà chưa lợp mái bị sập, do những kẻ xây dựng đã rút ruột công trình để tham nhũng. Vì vậy, bố có ép, con cũng chả nhận nhà bố cho đâu, nguy hiểm lắm, bố ạ! 
Ông bố cau mặt, mắng: 
- Không ngờ con tôi lại hèn thế. Thế bố hỏi con, báo chí luôn đăng đường này, đường kia vừa làm xong đã hỏng, có cầu vừa xây xong đã sập, nếu con sợ thì chả lẽ ru rú ở nhà không dám đi đâu sao? Báo chí cũng đưa tin trường học này, trường học nọ vừa xây xong đã hỏng, nếu con sợ không cho các con của con vào học thì đành để chúng thất học à? Thời nay, muốn sống được phải liều, con ạ. 
Read More..

5 thg 12, 2012

Vua Hùng, ông tổ của một trong 54 dân tộc hay của cả 54 dân tộc ở Việt Nam?

Lại Nguyên Ân

 Bài viết của nhà văn Lại Nguyên Ân như một câu hỏi mang tính nghiên cứu để chúng ta tìm hiểu sâu hơn về truyền thuyết Vua Hùng

Mỗi năm, cứ gần tới ngày giỗ tổ Hùng Vương, nghe đài báo rầm rộ đưa tin các nơi chuẩn bị hành hương về đền Hùng, trong tôi cứ lớn dần một câu hỏi muốn cật vấn những người hiểu biết: Vua Hùng là ông tổ của 1 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam hay là của toàn thể 54 dân tộc ở Việt Nam?

Tôi tin rằng, với những bộ óc bình thường, với sự hiểu biết bình thường, người ta đều có thể trả lời: vua Hùng chỉ được coi là ông tổ của một dân tộc Kinh (= Việt) thôi; dân Kinh (Việt) chỉ là 1 trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Vậy 53 dân tộc còn lại đều có ông tổ riêng của mình, chứ không phải vua Hùng.

Chuyện “ông tổ” nói ở đây, tất nhiên là chuyện của truyền thuyết. Người ta không đòi hỏi truyền thuyết phải là sự thật. Trong cộng đồng dân tộc có truyền tụng một thuyết về một ông tổ chung thì người ta thờ chung ông tổ ấy, không đòi hỏi chứng minh bằng chứng cứ lịch sử (có đòi cũng không ai chứng minh được!). Mà dân tộc nào không có thứ truyền thuyết tương tự, thì như thế không có nghĩa dân tộc ấy không có một nguồn cội chung của họ.

Nhưng vấn đề là có “dân tộc” theo nghĩa sắc tộc, tộc người (như người Kinh, người Mường, người Thái, người Tày, v.v…) và “dân tộc” theo nghĩa là dân cùng một quốc gia (theo nghĩa này ta nói: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, v.v…).
 
Từ “dân tộc” khá dễ dàng bị lái hàm nghĩa, nhất là khi người ta cố ý.
 
Chẳng hạn, khi người ta gọi lễ giỗ tổ Hùng Vương là quốc lễ (như có người gọi “quốc giỗ” – một từ ngữ pha tạp rất khó lọt tai!), người ta đã ngầm coi vua Hùng như ông tổ của dân tộc theo nghĩa dân cùng một quốc gia. Điều này, trên thực tế, đã biến vua Hùng trở thành ông tổ chung của toàn bộ 54 dân tộc (= sắc tộc, tộc người) hiện sinh sống trên đất Việt Nam. Đó là một sai lầm cố ý, một trò lái hàm nghĩa, một sự lạm dụng.

Cần nói rõ: mọi người dân của 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam đều mang quốc tịch Việt Nam, nhưng chỉ những ai là người của dân tộc Kinh (Việt) mới coi vua Hùng là ông tổ. Còn những người thuộc các dân tộc khác, tuy họ đều có quốc tịch Việt Nam, nhưng họ không phải là con cháu vua Hùng. Họ không cần về Đền Hùng lễ tổ mỗi dịp ngày mồng mười tháng ba hàng năm. Dư luận nên nói rõ sự thực này chứ đừng lạm dụng hàm nghĩa dân tộc để tập trung tất cả mọi dân tộc còn lại trên đất Việt, buộc họ hướng về Đền Hùng, buộc họ coi vua Hùng là ông tổ! Làm như thế tức là buộc họ phải coi tổ người Kinh như tổ dân tộc mình, phải theo lệ tục người Kinh, tức là đồng hóa họ vào cộng đồng người Kinh; đó chính là xem thường họ, xúc phạm họ.

Tôi biết, có người cho rằng dùng cách mù mờ từ chỗ nói vua Hùng là ông tổ dân Kinh (Việt) rồi dần dà biến vua Hùng thành ông tổ dân tộc, rồi lái nghĩa dân tộc từ sắc tộc sang hàm nghĩa dân cùng quốc gia! Ấy là cách xây dựng tâm thế cộng đồng dân tộc!
 
Tôi phản đối cách xây dựng tinh thần dân tộc theo lối lạm dụng, lợi dụng, bất minh ấy.
 
Phải từ chỗ tôn trọng bản sắc riêng, nguồn cội riêng mỗi dân tộc ( = sắc dân) cùng sinh tồn trên đất Việt hiện tại để xây dựng ý thức cộng đồng.

Ta nên chú ý 2 hiện tượng trái chiều: trong khi ở những nước có rất ít sắc tộc, ví dụ nước Đức, người ta đã tận dụng hiện tượng mới của thế giới hiện đại là hiện tượng nhập cư, nhân việc có thêm những sắc dân khác đến xứ mình sống chung trong cộng đồng để xây dựng xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa; thì ở           Việt Nam, có xu hướng ngược lại, ta đang dùng cách mở rộng các thần tượng của một dân tộc đa số (dân tộc Kinh) ra thành thần tượng cho các dân tộc thiểu số khác cùng sống trên đất Việt. Cái dụng ý biến lễ giỗ vua Hùng từ giỗ tổ của người Kinh thành quốc lễ của mọi người dân có quốc tịch Việt là ví dụ rất rõ! Đây hiển nhiên là sự áp đặt văn hóa nghi lễ của tộc người đa số cho các tộc người còn lại.
 

Điều không ngạc nhiên là một số khá đông công chúng tán thưởng “chiến lược” này. Điều ngạc nhiên là không ít chuyên gia am hiểu, không ít quan chức, không ít nhà khoa học, thậm chí nhà sử học hàng đầu, lại tán thưởng, thậm chí góp sức luận chứng cho cách làm này, – cách làm mà trên thực tế, nó chính là một thứ sô-vanh văn hóa (cultural chauvinism).
 

Tôi cho rằng những người hiểu biết không nên ủng hộ thứ sô-vanh văn hóa này./.
Read More..