Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

26 thg 4, 2014

Văn hóa phương Đông tự cầm tóc mình nhấc lên mà mãi vẫn lùn.

Nguyễn Hoàng Đức

Có rất nhiều cây bút đã viết về đề tài văn hóa phương Tây – văn hóa phương Đông, như kiểu hai mạn của một con tầu, hay hai cánh của một con chim, hoặc như chiếc bập bênh có hai đầu, tức là như một cấu trúc cơ học vật lý –suy rộng hơn là địa lý, hai bên bằng nhau. Tiêu biểu nhất mới đây là bài của GS TS Phạm Đức Dương được đăng trên ‘Thế giới và Việt Nam’ với nhan đề “Mọi nền văn hóa đều đẹp”, bài có đoạn:
Dựa trên định nghĩa văn hóa, chúng ta có thể kết luận: Là Con – Người, dù phương Đông hay phương Tây đều có ứng xử 2 mặt và tùy theo lựa chọn mà mỗi nền văn hóa có những mặt mạnh và mặt yếu khác nhau, rất đa dạng, nhưng không có nền văn hóa nào được phép tự xem là hoàn hảo, đứng trên, cao hơn nền văn hóa khác”.

Tôi nghĩ rằng GS Dương viết theo lối “hay chữ” kiểu học trò học chẹt mà không dựa trên khoa học. Tại sao một vị giáo sư mà không đi đến kết luận khoa học, mà lại dựa trên “định nghĩa văn hóa”? Lẽ ra ông nên biết dựa trên hiện thực khách quan thì cái kết luận của ông còn mang giá trị phổ quát, đằng này ông dựa trên định nghĩa văn hóa, thì trên thế giới có khoảng một triệu định nghĩa về văn hóa, nhưng nếu là sự thật, thì cả thế giới chỉ có một sự thật thôi.

Tôi viết bài này với mục đích bài trừ niềm kiêu hãnh giả mạo của những tầm vóc hủ nho, muốn ấm ớ cào bằng rằng: phương Đông là ta ngang ngửa với phương Tây. Cách nghĩ này làm cho con người yếu kém, cảm tính, ít khoa học. lạc hậu của châu Á, đặc biệt là Việt Nam đang đứng đội sổ của nhân loại ngủ quên trong giấc mơ hiện tại, không bao giờ muốn vươn lên đuổi kịp nhân loại, mà ếch ngồi đáy giếng, vỗ ngực ta chẳng kém ai, rồi thành chẳng ai bằng ta, tiếp đến là ta nhất thiên hạ.

-Trước hết đông người như Trung Quốc, thì Lãnh tụ Tôn Trung Sơn đã từng nói: Trung Quốc chỉ có gia tộc mà không có quốc tộc. Xưa nay Trung Quốc chưa có các cuộc đấu tranh vì tư tưởng, tôn giáo và tự do, chỉ có các cuộc đánh nhau vì chỗ ngồi, đất đai và đàn bà.

Mới đây, các nhà lãnh đạo phương Tây nói thẳng: Trung Quốc không bao giờ trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới, bởi vì họ chưa bao giờ có truyền thống sản sinh tư tưởng. Nói thế, thì khác gì bảo, Trung Quốc đông người cũng chỉ là cơ bắp thôi.

-Ấn Độ đông thứ hai thế giới, nhưng chính lãnh tụ thiên tài của họ là thánh Gandhi đã từng nói: “Chúng ta chống lại nước Anh, chứ không chống lại thể chế Anh”. Sau khi giành được độc lập, Ấn Độ vẫn áp dụng chính thể Quân chủ lập hiến của Anh. Gandhi còn nói: nhờ pháp luật của Anh Quốc chặt chẽ, thượng tôn pháp luật mà chúng ta có thể tay không đấu tranh bất bạo động để đòi công lý cho dân tộc.

-Không có một tác giả nào ở Âu Mỹ ao ước các giải thưởng ở châu Á. Nhưng tất cả các tác giả ở châu Á đều khao khát các giải thưởng ở Âu Mỹ.

-Không một nhà quyền quí nào ở châu Á muốn gửi con đến học tại các quốc gia châu Á. Tại sao? Vì chúng lẩm cẩm lạc hậu.

-Chỉ một phần nghìn người du học Âu Mỹ trở về đã làm giám đốc tất cả các học viện ở Trung Quốc.

-Các nhà lãnh đạo đỏ ở Trung Quốc và Việt Nam chỉ gửi con sang Âu Mỹ học, chứ đâu có thích học ở các trường đại học phương Đông? Tại sao? Vì hủ nho, dốt nát. Lúc nào cũng ỡm ờ nói nước đôi.

-Sách giáo khoa trên toàn thế giới chủ yếu là kiến thức của Tây, chứ có mấy chữ là kiến thức âm lịch của mấy anh Tầu, Việt Nam thì có không?

-Tại Việt Nam, những người xuất chúng nhất như Đặng Thái Sơn, Ngô Bảo Châu là tây học hay đông học?

-Từ Ấn Độ sang Trung Quốc và Việt Nam… những con người thành công từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có một tư duy Đông học, hay âm lịch học nào thành công không? Hay là tàn lụi đi như mấy sọt rác đòi ngâm nga mấy vần thơ vụn theo đuôi ăn sái cảm xúc? Hãy công tâm đếm đi từ chính trị đến nghệ thuật rồi văn chương và điện ảnh!

-Nhà triết học Pháp Francois Jullien còn phân tích rất kỹ rằng: văn hóa Trung Quốc đề cao “cái nhạt”, tức là nhạt hóa để không nổi trội, để an toàn ở mọi nơi. Than ôi, cả một dân tộc chủ trương sống nhạt sợ có mùi thơm lại thành mồi cho kẻ khác ăn thịt, thì còn gì để bàn nữa, mà cứ suốt ngày đòi khoe mẽ “văn hóa phương Đông”!

-Văn hóa Tầu đâu có tạo ra người biết trọng chữ tín và danh dự, chủ yếu là cậy đông lấy thịt đè người, sẵn sàng chui háng như Hàn Tín để cầu an. Việt Nam hiện nay đang nổi lên là nước giam cầm đồng tộc dưới hầm để may vá, giam trong nhà có đèn điện để trồng anh túc, nói dối tràn lan, ăn cắp theo con số chính thức cũng như môi trường có các yết thị ở các nước xung quanh là không nước nào có thể cạnh tranh giải quán quân. Còn chiếc nón truyền thống hiện đang thành nón đội sổ đội lên đầu người mang quốc tịch Việt Nam từ quan đến dân.

-Cả thế giới người ta đã áp dụng thẻ dân sự, còn mấy anh lạc hậu sau rốt của lịch sử vẫn đang áp dụng chế độ hộ khẩu, vậy mà lúc nào cũng sẵn sàng mở miệng hát khúc quân hành “văn hóa phương Đông cao chẳng kém gì phương Tây”. Chẳng bẽ bàng lắm sao?!

Nêu thế thôi, chứ thực ra nhìn vào bất kể cái gì cũng thấy kiểu à uôm lạc hậu của người phương Đông. Mấy người ngồi lê chợ búa vẫn nói “của Tây có bao giờ sai”. Họ vừa nói vừa nhấc cái chai, cái hộp có số má chỉ dẫn đàng hoàng lên. Đến tiền âm phủ họ cũng in tiền đô la để cho ông bà dưới thế được yên tâm… Bao giờ thì văn hóa phương Đông tạo cho người ta niềm tin như vậy? Nhưng than ôi, thứ ếch ngồi đáy giếng lúc nào cũng nói hai – ba giọng, thì làm sao có được cái gì rõ ràng minh bạch. Cuối cùng tôi muốn nhắn nhủ với các giáo sư, tiến sĩ âm lịch rằng: dù các vị có đông đến bao nhiêu, nhưng với cái cách kiễng chân đòi trá hàng, muốn ngang ngửa với văn hóa Tây Âu, các vị chưa bao giờ chạm ngón chân vào con đường tiến bộ được đâu. Muốn tiến bộ ư, làm gì có con đường nào khác là lý trí, công lý, minh bạch, đàng hoàng, thước đo phổ quát. Khi nào chúng ta còn lẩn trốn điều đó thì chúng ta chỉ là trẻ con tập trận giả sau góc bếp.
Read More..

9 thg 4, 2014

Lý do dân Việt nam còn chưa biết chào?!

Nguyễn Hoàng Đức

Trên báo mạng Thanh Niên on line có đăng bài “Cách chào của người Việt” của tác giả Nguyễn Văn Mỹ. Theo ông cách chào của người Việt đã mai một, ngày xưa người Việt thường chắp hai tay trước ngực cúi đầu chào. Một ông tây làm thế liền bị coi như trẻ con.

Dù vậy, cách chào đó vẫn chỉ là hành vi chào của cơ thể chứ không phải ngôn ngữ chào. Nói chính xác và chính thức, người Việt cho đến nay vẫn chưa có lời chào chính thức nào. Cụ thể, một số người nước ngoài đến Việt Nam học tiếng Việt, được dạy mỗi khi chia tay sẽ chào “tạm biệt”, nhưng họ bảo: ‘các anh dạy chúng tôi thế nhưng các anh có chào thế đâu, mà chủ yếu các anh chào “về nhé” hay “đi nhé”’.

Tại sao dân Việt chưa có lời chào chính thức, nói chính xác hơn, những lời chào được truyền thống hóa để thành kinh điển? Thực ra thì người Việt mới có chữ viết được vài thế kỷ nay, nên ngôn ngữ miệng chưa chín mọng trên trang giấy để hóa kinh viện cũng là chuyện bình thường. Xưa người Việt được chào thường hay đáp lại “không dám!” tức là luôn hạ mình xuống mức kẻ dưới, nô tài, không dám tự tin khi đưa ra lời chào đàng hoàng ngang vai vừa lứa.

Muốn có lời chào thì người ta phải biết hướng ra người khác. Nhưng cách sống của người Việt chủ yếu mới quanh co đắp vào thân lo ích kỷ vụ lợi cho mình thì làm sao có lời chào?

Để có lời chào, người Hy lạp và La Mã đã nêu cao đức tính đầu tiên của con người là Hiếu Khách. Hiếu khách trở thành một tiêu chuẩn sống đến mức tiên quyết, ai đó không hiếu khách sẽ trở thành nỗi nhục mà không còn được cộng đồng chấp nhận. Hiếu khách chính là con đường hướng đến Công Lý. Bởi phương Tây có một câu bất hủ “công lý là người thứ ba” (le juge est un tier). Trong nhà nếu chỉ có hai vợ chồng, họ cãi nhau dù minh mẫn hay chầy cối thì cả đời cũng không phân thắng bại, nhưng có một người thứ ba xuất hiện thì sự thể ngã ngũ liền theo cách có nhân chứng. Trong các vụ án cũng vậy, nếu chỉ có bên nguyên hay bên bị mà không có người thứ ba làm chứng, thì phiên tòa không bao giờ có thể tiến hành. Vì sao? Vì nó không có công lý ít nhất – là người thứ ba.

Người khác mới là con đường dẫn ta ra xã hội và cuộc đời phổ quát, bởi nếu không có người khác ấy, vai trò của người nhà vĩnh viễn chỉ là thiếu bóng dáng của người làm chứng cũng như công lý. Người khác trong học thuật còn dạy người ta biết thế nào là Khách quan – khách quan là cái nhìn của khoa học và công lý. Trái lại chủ quan là cái tự mình chỉ dẫn người ta đến cái cảm xúc cục bộ nhỏ bé. Người Khách dạy chúng ta biết lẽ sống “Vong kỷ hiến tha” thay vì “Ích kỷ hại tha”, tức là hãy hy sinh cái tôi của mình mà vì người khác, chứ không nên vì lợi cho mình làm hại người khác, như người Việt bảo “của mình thì giữ bo bo/ của người thì thả cho bò nó xơi”.

Từ việc hướng ra người khác, mà người phương Tây đặc biệt chú trọng đến xây quảng trường ở trung tâm thành phố. Đó thường là một khu đất vàng, vuông thành sắc cạnh, được gọi là “square” (ở Việt Nam có người gọi quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội là khiên cưỡng vì ở đó chỉ là đường đi qua). Tại quảng trường mọi người có thể dễ dàng đến đó thể hiện tư tưởng, tranh luận hay lắng nghe. Trong khi đó tại những mảnh đất vàng ở trung tâm thành phố người châu Á thường chỉ xây cung vua phủ chúa khép kín tường cao hào sâu để đề phòng thích khách. Đây là một quan điểm chính yếu, nhiều chuyên gia phương tây nói thẳng: các thành phố lớn ở châu Á thường lùi sâu vào trong lục địa để cố thủ, ngược lại ở châu Âu người ta thường xây bên bờ biển để ra ngoài viễn chinh. Người phương Tây bêu đầu kẻ tử tội ở quảng trường để răn đe. Còn châu Á thì thường bêu ngoài chợ là nơi mua bán. Đó cũng là cách thể hiện hai trình độ sinh hoạt. Một đằng đã ra quảng trường để sinh hoạt tinh thần. Một đằng ra chợ để lo việc dạ dầy.

Sau quảng trường, là bài học của Lập Hiến. Điều này là tất yếu, vì theo triết gia Hegel khi con người bước ra khỏi đạo đức tự nhiên của gia đình, sẽ đến các hiệp hội cùng làm ăn, sản xuất hay sinh hoạt, cuối cùng buộc phải hội tụ đến vấn đề của Nhà nước, bởi chỉ có nhà nước mới cho phép các hiệp hội có được công lý để cùng tồn tại. Và nhà nước không thể có nếu không có Lập Hiến. Sau quảng trường, thì đã xuất hiện Nghị viện Athena, rồi Nghị viện La Mã để thiết định nhà nước cộng hòa đầu tiên của lịch sử. So sánh, nói chung cho đến đầu thế kỷ 20, các nước châu Á vẫn chưa có quốc gia lập hiến đúng nghĩa, tóc bạc rồi mà vẫn bị bố hay vua nọc ra lấy roi đánh, những nhà nước phong kiến tồn tại với các vương gia hoàn toàn là cách gia đình trị. Nhà nước chỉ là tổ hợp các gia đình, đứng đầu là gia đình của vua.

Người Việt tuy nói “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, nhưng đó chỉ là ao ước nhiều hơn là thực hiện. Người Việt tính lỗ lãi trong từng lời chào. Tại sao vì người ta rất khó vượt qua ích kỷ cá nhân với những phương châm sống: “Ta về ta tắm ao ta/ dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” và “Có con gái gả chồng gần/ có bát canh cần nó cũng đem cho/ hoài con mà gả chồng xa/ một là mất giỗ hai là mất con”. Lúc nào cũng loay hoay cái nhìn vơ vào cho bản thân cũng như nhóm lợi ích thì làm sao hướng tới người khác để có lời chào?! Tôi đã gặp không ít người, đến bất kỳ đâu họ cũng gật gật như thể không có thói quen chào thành tiếng, nhưng không phải, một lần tôi thấy họ nhìn thấy người có chức vụ cỡ trung trong tỉnh thôi, họ đứng lại nghiêm trang chào thành tiếng cách 10 m vẫn nghe rành rọt từng lời “Em chào anh B ạ”.

Tại sao có tâm lý này? Đó là tâm lý của nô tài, tính lỗ lãi từng ly từng tí. Vì tâm lý nô tài nên họ mặc cảm rằng chào ai thì thua thiệt, nhưng khi gặp người có quyền chức tâm lý nô tài lại sợ hãi chào thật to, thậm chí khi được chào phải đáp lại “không dám”.

Thật ra lúc nào tôi cũng muốn nhắc lại câu của thi sĩ Tản Đà “Dân hai nhăm triệu ai người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”, nhưng sợ nhắc nhiều quá thành lạm dụng và khiến người khác khó chịu, nhưng quả là người Việt rất ít người trưởng thành. Kể cả nhiều loại giáo sư tiến sĩ, nhà văn, nhà thơ. Gặp nhau thì ậm ừ không dám chào thành tiếng, rồi đưa tay bắt thì lại đưa tay trái úp xuống như ban ơn cho người ta, nhưng gặp cấp trên thì bố bảo không dám làm thế, còn ở nhiều vùng quê thì là anh không sang nhà em, là anh không xới cơm cho em. Uống rượu với nhau thì đùn nhau rót rượu, cho rằng mình rót rượu thì hạ mình xuống. Nhiều cô gái đi đâu ăn uống không dám chia sẻ việc bếp núc, rửa bát với chủ nhà hay bạn bè, sợ mình tụt xuống dạng con ở, hoặc ngại do lười biếng. Nhưng người có tự chủ đích thực đâu có dễ bị tụt dẳng cấp như vậy. Vả lại trong một bữa ăn chẳng lẽ có thể vui nếu người ta không có khả năng chia sẻ hay tham dự cùng bữa ăn đó?
 
Thế nào là cùng ăn – cùng vui? Đấy là tâm lý thường trực cảnh giác tính toán của kẻ dưới, lúc nào cũng sợ mình bị kém phân. Trong khi đó người phương Tây chỉ cần trên đôi mươi hầu hết đã có dáng cư xử của quí ông, quí bà, đi đâu làm gì họ đều biết sống theo văn hóa, chức năng, và bổn phận . Có phải, chính thế mà người ta mới coi châu Á là dã man mọi rợ?!

Người Việt mình thực tế là vậy đấy, một lời chào chính thức còn chưa có, nhưng có ai bàn đến cái xấu thì bảo “nước nào chẳng có cái xấu ấy”. Hôm qua tôi vừa nghe tin tuyến tầu điện ngầm ở Panama vừa mở sẽ cho tất cả dân chúng đi miễn phí trong 3 tháng. Liệu Việt Nam có làm được thế không? Việc cho dân chúng đi miễn phí sẽ rất khôn ngoan vì trước hết nó tạo ra thói quen, thứ hai nó tạo ra món quà “mang ơn” để mọi người gắn bó đi tầu, trí khôn đó liệu người Việt có học tập được? Trí khôn đó cũng là cách sống thiện chí để tạo đạo đức lâu dài. Với cái khôn vặt vãnh ăn liền ma cà chớp của tâm lý tiểu nông, liệu người Việt có học theo được thứ lòng tốt đó? Cũng khó lắm thay bởi có phương ngôn: tiểu nhân nghĩ được tốt cũng không làm được tốt bởi bị cái lợi nhỏ bé dẫn đi!

Người Việt vẫn còn chưa biết chào, đấy là bằng chứng ngôn ngữ khó lòng chối cãi. Mong rằng từ đó giúp chúng ta phản tỉnh suy xét nhìn lại mình. Một quốc gia nếu có nhiều người tiến bộ thì nó mới hùng mạnh, ngược lại nếu chỉ có vài mống nói rằng “nhà tôi không vậy”, thì làm sao cái nhà tôi đó biến thành một quốc gia lập hiến cao cả và tốt đẹp?! Xin cám ơn.
Read More..