Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

27 thg 7, 2020

Phỏng vấn xin visa Mĩ.


Chính phủ Mĩ vừa ra lệnh đóng cửa lãnh sứ quán Trung quốc tại Houston với cáo buộc hoạt động gián điệp. Tất nhiên nước Mĩ không thể khơi khơi đưa ra cáo buộc mà phải có bằng chứng rất cụ thể. 

Mình thì luôn tin, khó có ai nói dối và qua mặt được các cơ quan bảo vệ nước Mĩ.

Từ câu chuyện của mình.

Năm 2012, lần thứ hai mình sang Mĩ. Và tất nhiên vẫn phải qua vòng phỏng vấn trực tiếp tại lãnh sứ quán Mĩ ở thành phố Hồ Chí Minh.

Phỏng vấn thì cũng có vài câu, mình có thế nào thì trả lời như thế. Có một câu họ hỏi mình: anh đã đến nước Mĩ và thích gì ở nước Mĩ? Lúc ấy mình có trả lời: sự ngăn nắp và tự do.

Hỏi và trả lời ấy mình cũng chưa từng nói với ai. Nghĩ người không rõ rồi xiên xẹo chả hay ho gì.

Có một chuyện nữa mà  mình cũng ngại vì không cẩn thận thì đâm ra khoe mình. Nhưng nghe và biết cũng có nhiều người được "quan tâm" như vậy. Đó là khi phỏng vấn xong, anh người Mĩ trắng nói và cô người Mĩ gốc Việt phiên dịch lại cho mình: Chúc anh có chuyến đi vui vẻ và có thêm bài viết về nước Mĩ. Bài viết trước của anh trên Blog rất hay. Lúc ấy mình ớ người ra thật. Một thằng vô danh như mình. Một bài viết cũng tào lao mà cơ quan di trú cũng rõ, thì hỏi có gì qua mặt được họ.

Đi phỏng vấn mà nói dối là bạn gần như sẽ không bao giờ được đặt chân vào nước Mĩ.
Read More..

Chết trong kiêu ngạo!


Dù trăm lần không muốn và cũng không phải “tiên tri” gì nhiều, đám cafe sáng tụi tôi luôn khẳng định: Covid-19 sớm muộn rồi sẽ quay trở lại Việt nam.

Khi con vi rút này vẫn đang tiếp tục hoành hành cả thế giới. Ngay các nước tiềm lực kinh tế, khoa học kĩ thuật hơn chúng  ta nhiều nhiều lần cũng đang phải vật lộn, thậm chí chào thua con vi rút này. Vậy mà ta lại nổ tung với những tuyên bố không biết đất trời là gì: Covid-19 quy hàng ở Việt nam, hay: lúc này ở Mỹ nếu cột điện biết đi cũng sẽ về Việt nam, vân vân và vân vân.

Không phủ nhận công tác phòng chống con vi rút này ở thời gian đầu, chính phủ Việt nam đã rất quyết liệt và có những biện pháp hữu hiệu đạt được kết quả tốt. 

Nhưng đấy cũng  chính là con dao hai lưỡi.

Cách đây mấy năm, chiến dịch dọn dẹp vỉa hè, chợ tự phát ở các đô thị trên toàn cõi Việt nam. Ngồi cafe sáng với một lãnh đạo thành phố đang “cầm đầu” chiến dịch này, mình nói: về nguyên tắc tôi ủng hộ, nhưng việc này phải giải quyết từ gốc không thể sồn sồn thế được. Sau cái mẹt rau ở chợ tạm, sau các thúng xôi ở vỉa hè là nguồn nuôi sống của bao nhiêu thân phận. Những giải pháp mà chính quyền đề ra tôi thấy không ổn. Bà bán xôi ở vỉa hè, bà có mẹt rau ở chợ tạm lấy đâu ra vài trăm triệu để có một quầy hàng trong siêu thị và phải có bao nhiêu siêu thị mới đáp ứng được hàng ngàn, hàng ngàn các bà buôn thúng bán mẹt kia...

Cứ tưởng với “phân tích hùng hồn” thế, anh bạn lãnh đạo sẽ nghe ra. Nhưng không, anh chỉ mủm mỉm cười, nói: ông chỉ bàn lùi chả có ý chí tiến công gì cả. Thay vì nói: ông biết con mẹ gì!

Tốn bao công sức tiền bạc, nhếch nhác vẫn hoàn nhếch nhác.

Từ  việc xây dựng và mối hiểm nguy của đập Tam Hiệp bên Trung quốc cộng sản đến các dự án bất chấp tính khả thi của chúng ta hiện hay. Từ việc nhỏ đến việc lớn, người cộng sản luôn nghĩ rằng mình sẽ “Bình Trị Thiên”, nhất là khi đạt được tí kết quả bước đầu.

Trong chiến tranh một trận thắng đâu có nghĩa là thắng toàn cuộc. 

Đơn giản trong chơi cờ ăn được con xe đâu có nghĩa là sẽ thắng ván cờ. 

Không nghĩ sẽ "bình trị thiên” được. Mình cầu trời, với môi trường khí hậu nhiệt đới này, với những con người đang sống chung và thân quen với đủ loại vi rút này, covid - 19  sẽ không thể phát tán ở Việt nam. 

Amen!

Read More..

8 thg 7, 2020

..."Thơ giống như thứ bệnh truyền nhiễm, càng ở chỗ có hơi rượu càng dễ lây. Thế là cả mâm rượu hôm ấy biến thành câu lạc bộ thơ. Chẳng ông nào chịu kém ông nào. Những câu thơ phều phào, nhếnh nháng rớt xuống phản, một lát sau bắt đầu chảy thành dòng xuống nền nhà. Nền nhà nhơm nhớp, sền sệt thơ. Rồi lõng bõng. Rồi dâng cao. Guốc dép lập lờ. Đám đàn bà con gái từ dưới bếp nhao lên, xô chậu loảng xoảng, hò nhau múc thơ đổ ra ngoài. Lão ngồi dựa lưng vào tường, nửa tỉnh nửa say, nửa nghe nửa nhìn những âm thanh hình ảnh quay cuồng xung quanh. Ông anh họ gục mặt xuống đùi lão, ngáy ằng ặc".

BIẾN HÌNH
Truyện ngắn của TRẦN ĐỨC TIẾN

 Con tắc kè. Con tắc kè núp sau chum nước. Con tắc kè may mắn của lão. Con tắc kè chưa bao giờ lão nhìn thấy mặt. Sáng nay nó lại về.
 Những tiếng kêu cuối cùng của nó nhỏ dần, tắt lịm. Lão cũng từ từ thoát ra khỏi giấc ngủ ngắn và nông. Giấc ngủ đến vào lúc tảng sáng, sau gần một đêm quần nhau với những câu thơ bất trị. Những câu thơ cố tình trêu ngươi lão, chợt hiện chợt biến như chơi trò trốn tìm. Thỉnh thoảng lão giật mình như đã tóm được chúng. Lão quờ tay, vớ lấy cây bút chì vót nhọn để sẵn ở đầu giường. Lập cập giở tập giấy nháp. Nhưng khi ngọn-giáo-bút-chì nhăm nhăm chực đóng đinh những vần thơ lên trang giấy thì chúng, những vần thơ có cánh ấy, lại vụt bay đi. Trò chơi diễn ra không ngừng nghỉ khiến lão mệt lả. Cuối cùng thì vẫn có những bài thơ được ra đời. Những bài thơ đủ cả mở đầu lẫn kết thúc. Chúng sẽ được chuyển cho con gái lão - nhân viên văn phòng của một công ty trong thành phố - đánh máy, in ra bằng máy vi tính. Thoạt đầu, khi nhìn những con chữ in ngay ngắn, đều tăm tắp, lão ngạc nhiên tự hỏi: có đúng là thơ của mình không? Cái câu này có phải là của mình, hay người khác đã sửa hộ? Rõ ràng bản thảo in vi tính khác xa với thứ bản thảo nguệch ngoạc viết tay. Chất lượng thơ hơn hẳn. Thêm đến mấy chân kính. Chẳng khác gì thơ đã được in báo. Nhưng đấy chỉ là cảm giác ban đầu. Khi quen rồi, lão buồn rầu nhận ra cả tập giấy A4 kia thực ra vẫn chỉ kín đặc xác chữ - kết quả của những cuộc săn đuổi bất thành trong đêm.
 Có những đợt con tắc kè đi vắng. Như một kẻ rời nhà đi làm ăn xa. Những hôm đó lão phải tự thức dậy từ rất sớm. Mọi thứ được chuẩn bị sẵn sàng từ tối hôm trước. Những bài thơ soạn riêng theo từng chủ đề đã nằm gọn trong chiếc túi vải. Lão chỉ việc mang chúng đến các toà soạn. Cô con gái thấy lão sửa soạn lên đường thì nói vọng ra từ trong màn: "Bố lại đi đơm đó à"? 
          Cái gì? Đơm đó? Ờ... ờ... Lần đầu tiên nghe đứa con thốt ra câu đó, lão chưa kịp hiểu ngay. Nhưng khi hiểu rồi thì lão mỉm cười. Con bé hóm thật. Nó ví cái việc đi gửi thơ đăng báo của lão giống như anh chàng nhà quê mỗi sáng lọ mọ xách đó đi đơm. Nhưng lão biết nó chỉ trêu đùa thế thôi. Chứ ngày nào nó cũng dành thì giờ rỗi ở công ty cặm cụi đánh máy và in bản thảo giúp bố. Lão đã thả không biết bao nhiêu cái đó rồi, và vẫn tiếp tục chờ đợi. 
 Thành phố nơi lão sống không lớn, nhưng cũng có một tờ báo ra hàng ngày, một tờ ra hàng tuần vào ngày chủ nhật, một tờ tạp chí ra hàng tháng, và không dưới mười tờ khác ra bất thường dưới dạng bản tin hay đặc san... Tất cả đều có in thơ. Cung cấp xong thơ cho những nơi đó thì gần hết buổi sáng. Lão khoan khoái đạp xe đến thư viện. Tiếp theo là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong ngày. Phòng đọc của thư viện yên tĩnh, vắng vẻ. Lão là khách quen ở đây - người khách duy nhất chẳng cần thẻ mà vẫn được tự do ra vào, tìm chọn sách báo trên giá. Lão lần lượt giở những tờ báo quen thuộc, và dừng lại rất lâu ở những trang thơ. Vẫn như mọi lần, không có tờ nào in thơ của lão. Nhưng điều đó chẳng hề gì. Miễn là thơ vẫn có mặt. Thơ của ai cũng được. Thế giới điên đảo đến cỡ nào thì thơ vẫn sống. Lão không thể hình dung báo chí lại chỉ rặt những tin tức chiến sự, khủng bố, bắt cóc con tin, dịch bệnh, giá vàng, giá dầu mỏ, thị trường chứng khoán, tốc độ tăng GDP, những cuộc viếng thăm mặc cả trên bàn hội nghị của các nguyên thủ, các cô gái miền Tây đua nhau lấy chồng ngoại, không khí nghẹt thở của các kỳ thi đại học hay những núi dưa hấu, vải thiều thối rữa vì tắc nghẽn ở các cửa khẩu... Lúc ấy chắc phải là ngày tận thế. 
 Niềm tin thơ sống dai của lão còn được củng cố bằng một lần về thăm quê. Sau mấy chục năm bỏ làng đi sinh sống làm ăn ở nơi khác, tận đến lúc về hưu lão mới có dịp quay về. Trời ơi, cái làng ngày xưa của lão đây ư? Những ngôi nhà tường đất, mái rạ lụp xụp xiêu vẹo. Đường trong xóm bùn lầy đến mắt cá chân. Những cặp mắt ngơ ngác tò mò... Chẳng có gì khác trước. Vợ chồng lão ở chơi nhà ông anh họ. Mâm cơm đãi khách dọn ra, chỉ có mấy lão già được ngồi xếp bằng tròn trên tấm phản ở nhà trên, còn bọn đàn bà con gái vẫn phải xúm xít chấm mút với nhau dưới bếp. Ông anh họ hai hàm răng chỉ còn toàn lợi, uống là chính, cao hứng nâng chén rượu lên ngang mày, đọc bài thơ vừa sáng tác mừng chú em trở về sau bao năm lưu lạc. Thơ giống như thứ bệnh truyền nhiễm, càng ở chỗ có hơi rượu càng dễ lây. Thế là cả mâm rượu hôm ấy biến thành câu lạc bộ thơ. Chẳng ông nào chịu kém ông nào. Những câu thơ phều phào, nhếnh nháng rớt xuống phản, một lát sau bắt đầu chảy thành dòng xuống nền nhà. Nền nhà nhơm nhớp, sền sệt thơ. Rồi lõng bõng. Rồi dâng cao. Guốc dép lập lờ. Đám đàn bà con gái từ dưới bếp nhao lên, xô chậu loảng xoảng, hò nhau múc thơ đổ ra ngoài. Lão ngồi dựa lưng vào tường, nửa tỉnh nửa say, nửa nghe nửa nhìn những âm thanh hình ảnh quay cuồng xung quanh. Ông anh họ gục mặt xuống đùi lão, ngáy ằng ặc.
 Ngày hôm sau, hai vợ chồng lão ra nghĩa địa đầu làng thắp hương cho bố mẹ. Cả cánh đồng nước ngập trắng băng, leo heo phơ phất mấy ngọn cỏ. Trận mưa hôm trước to chưa từng thấy. Lão đứng chắp tay khấn vọng ra đồng nước, rồi rưng rưng cắm mấy nén nhang vào gốc tre.
 Không ngờ cái làng Tó của lão lại giàu truyền thống thơ phú đến thế. Thơ là món đặc sản của làng. Ông anh họ lão còn khoe thơ làng Tó sắp được thế giới công nhận di sản văn hoá phi vật thể! Lão nghe, nổi da gà. Lão xa quê gần trọn cuộc đời, nhưng lão vẫn là con dân của làng. Vẫn mang trong máu cái truyền thống đó. Giờ về quê gặp ông anh họ và đám bạn thơ của ông ta, lão lại càng thêm hãnh diện và tin tưởng. 
 Nhưng đúng lúc đó, lúc lão đang cắm mấy nén nhang vào gốc tre, hình như mụ vợ lão có nói một câu. Lão nhớ không chắc lắm... "Cả làng ông nghiện thơ, trông mặt đứa nào cũng như mặt...". Một câu duy nhất, nhưng cái tiếng cuối cùng lại mất hút trong gió đồng. Lão chưa kịp nghe rõ tiếng cuối cùng. Lão định hỏi lại, nhưng sực nhớ mụ đã tắt kinh. Từ lúc lão về hưu, vợ lão trở nên ít nói. Tắt kinh, mụ càng lầm lì, khinh khỉnh. Hỏi không nói, gọi không thưa. Khi lão bắt đầu mang thơ đi gửi mỗi sáng thì mụ chuyển sang ăn chay, một ngày tắm ba lần và thân thể hoàn toàn mất mùi. Mỗi khi mụ nằm ngủ, con mèo trong nhà lén đến bên, ghé mũi vào người mụ và hít hít một cách nghi hoặc. Bao nhiêu năm qua rồi, cái câu nói mất tiếng cuối cùng của mụ trở đi trở lại trong đầu lão. “Cả làng ông nghiện thơ, trông mặt đứa nào cũng như mặt…”.
 May, con tắc kè sáng nay lại xuất hiện. Xưa nay lão chỉ nghe tiếng kêu, đoán nó núp sau chum nước, nhưng không có ý định đi tìm nó. Tắc kè thì lão còn lạ gì. Con nào chả giống con nào. Người ta chở cả lồng sắt những con vật sần sùi, mốc meo ấy đi bán rong ngoài phố. Rồi những cái bình rượu ngâm tắc kè thoạt nhìn đã rùng mình. Một lần, lão nhắm mắt nhắm mũi ực một ly rượu ngâm tắc kè, cái thứ nước xanh nhớt và tanh lợm ấy ám lão cho đến tận bây giờ. Con tắc kè này mỗi khi đi xa về lại kêu vọng vào: tắc kè! tắc kè! Như có ý báo cho lão biết. Đã về. Đã về... Thật ra cũng chẳng có gì rõ ràng. Bẵng đi một thời gian không nghe tiếng nó kêu, thế rồi một sớm tinh mơ nào đó lại nghe những âm thanh rụt rè vang lên sau chum nước. Cứ thế không biết bao nhiều lần. Thơ lão chưa bài nào được đăng. Nhưng lão vẫn cảm thấy mừng mỗi khi con tắc kè quay lại. Có một sự may mắn mơ hồ thấp thoáng trong tiếng kêu của nó. Tiếng kêu như điềm lành dành riêng cho lão. Chỉ cần kiên nhẫn thêm chút nữa. Rồi cái dịp may ấy sẽ xuất hiện. Chắc là...! Chắc là...!  
 Ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời, mọi chuyện diễn ra trơ trẽn, buồn tẻ hơn những gì trong đêm lão tưởng tượng. Mồ hôi dấp dính lưng áo lão. Lão đứng trước cửa phòng tiếp khách của một toà báo, rụt rè cúi đầu chào mấy người đi ngang qua. Chẳng ai để ý đến lão. Lão cũng chỉ nhớ mặt đúng một người. Người ấy đang ngồi trong phòng kia, bên chiếc bàn ngổn ngang ấm chén pha trà, chiếc gạt tàn thuốc lá đầy ắp còn bốc khói. Gã đang ba hoa với mấy vị khách. Mấy vị khách, người để râu, người cạo trọc, người đội nguyên mũ phớt trên đầu, cũng hoa chân múa tay, ầm ĩ không kém. Thoáng thấy lão, gã khựng ngay lại:
 - Có gì không bố già?
 Tự nhiên cổ họng lão ắng đi. Lão cố gượng cười, tiến lên mấy bước. Họ cũng đang nói chuyện thơ. Lão đến có đúng lúc không đây? Những người khách bỏ dở câu chuyện, quay ra nhìn lão.
 - Còn chữ nào chưa ổn à?
 Giọng của cái thằng chỉ đáng tuổi con lão đã ngả sang vẻ giễu cợt. Nhưng lão lại cảm thấy nhẹ người. Nó đã biết tỏng mọi chuyện, đã quá quen với những tình huống lặp đi lặp lại nhiều lần.
 - Của bố đây!
 Gã mở ngăn kéo, chẳng mất công lục lọi lâu la gì, rút ngay tập bản thảo và quẳng lên bàn.
 Lão thở phào, rón rén bước lại, cầm tập bản thảo lên và chọn ra một bài. Lập cập tìm chiếc bút bi trong túi vải. Rồi cứ đứng nguyên như thế, lão cúi xuống hí hoáy trên trang giấy.
 Xong. Đúng một chữ. “Dập dồn” sửa thành “bồn chồn”. Cả đêm qua lão trằn trọc. Đến khi thiếp đi thì “bồn chồn” mới xuất hiện. Lão tự nhủ ngay đầu giờ sáng mai phải đến xin chữa lại...
 Hầu như đêm nào cũng có những chữ định chơi xỏ lão. Không chữ này thì chữ kia, không ở bài này thì ở bài khác. Chúng trà trộn trong đám chữ nghĩa. Rồi bất thình lình chường cái mặt đần độn của mình ra và bị lão tóm được lôi ra khỏi hàng. Lão sẽ thay chúng bằng những chữ mới. Lão cần mẫn làm việc đó, thỉnh thoảng được đền bù bằng những niềm vui nho nhỏ. Nhưng cũng có khi những chữ cũ quay lại mà lão không biết. Gã nhận bài ở toà báo ấy thoạt đầu vô cùng ngạc nhiên, sau đâm cáu, rồi cuối cùng cũng quen dần, hết cả cáu. Sau khi nhận lại bài thơ đã sửa một vài chữ gì đó, gã chẳng buồn liếc qua, tống ngay vào ngăn kéo bàn. Trong ngăn kéo gã đã cẩn thận dành cho lão một chỗ riêng, để ngày mai lại lấy ra thật nhanh.
 - Tình ca trên sóng - Lần này gã không cất ngay bài thơ, nhẩn nha đọc to lên cái đầu đề, tuồng như để cho mấy người khách cùng nghe - Tình ca trên sóng... Tình ca trên sóng... Lửa niềm tin thắp sáng cả giàn khoan.  Anh gửi về cho em... Bố già! - Gã giật giọng cắt ngang câu thơ - Con nói thật nhé. Thơ bố cứ giàn khoan giàn khiếc, niềm tin niềm tiếc mãi thế này không in được. Sao bố không viết... tình ca trên chiếu?
 Có mấy tiếng cười bị ém nhẹm. Lão đứng như chôn chân xuống đất. "Nó nói đùa... nói đùa... Đùa ấy mà”... Lão cố gắng tự nhủ. “Nó còn trẻ. Giống như con gái mình". Mồ hôi lại rịn ra ướt áo. Áo dính vào lưng. Hôm nay mồ hôi ra nhiều thế không biết. Lão muốn thoát ra khỏi mồ hôi. Muốn thoát ra khỏi những nụ cười đang căng phồng lên trong những vòm miệng.
 - Ờ ờ...
 Lão lẩm bẩm, mỉm cười gượng gạo, rồi bước giật lùi ra cửa.
 - Bố làm cái quái qủy gì ở cơ quan người ta thế? - Lần này thì đứa con gái không đùa.
 Nó xổ ra một thôi một hồi. Người ta đã gọi điện đến cho nó. Người ta phàn nàn ông lão ngày nào cũng đến làm phiền họ. Giá như đến để tán chuyện thì còn có thể chấp nhận. Mất thì giờ thật, nhưng thư giãn. Đằng này ông lão cứ lừ lừ dúi bản thảo cho họ. Mà bản thảo là cái gì mới được chứ? Thơ! Toàn thơ là thơ. Toàn thơ rác, không in được. Chất hàng đống. Một mình ông lão bằng tất cả những cộng tác viên khác gộp lại. Như thế quá bằng khủng bố họ... Một cán bộ biên tập của toà soạn đã là nạn nhân. Anh này đang đọc thơ của ông lão thì ngã quay cu đơ ra sàn, mắt trợn ngược, cổ họng ngắc ngắc như gà ăn phải lưỡi câu. Tất nhiên bệnh viện phải làm xét nghiệm để có kết luận chính thức xem anh ta ngộ độc thực phẩm hay bội thực văn vần. Và thơ của ông lão có mặt đúng lúc đó chỉ ngẫu nhiên tình cờ hay chính là thủ phạm gây tai họa. Có những điều hết sức tế nhị khiến họ không thể đặt thẳng vấn đề với ông cụ. Họ muốn nhờ nó...
 Lão há mồm chịu trận.
 Một tuần sau lão nằm móp ở nhà, không hé răng nói với ai câu nào. Đơn phương hủy bỏ vô thời hạn việc cung cấp thơ cho các báo trong thành phố. Nhưng chính trong lúc tổn thương đau đớn nhất thì lão lại cảm thấy mình gần thơ hơn cả. Lão mất ngủ nhiều hơn, nhưng thơ đến với lão ân cần hơn. Đêm nào lão cũng làm xong một bài, thậm chí hai, ba bài. Lão thấy người khoẻ hẳn. Lại rụt rè đưa bản thảo cho con gái. Và đứa con gái đã thôi giận, lẳng lặng đem thơ của bố đến cơ quan.
 Lão không đầu hàng. Lão rút kinh nghiệm. Toà báo nào cũng có một cái hòm thư to tướng ngoài cửa. Lão cứ việc bỏ thơ mình vào đó. Chẳng làm phiền ai. Tất nhiên không thể yên tâm bằng việc đưa tận tay, nhưng thoải mái dễ chịu. Có thể chậm hơn một tí, nhưng đằng nào cũng đến tay họ. Gửi theo cách này cũng chẳng ảnh hưởng đến nhu cầu sửa chữa bản thảo hàng ngày của lão - nếu muốn, lão sửa ngay từ nhà và chỉ việc ghi thêm mấy chữ lên trang đầu: "bản chính thức". Một bài thơ của lão đâm ra có nhiều bản chính thức. Chính thức 1. Chính thức 2. Chính thức 3… Chính thức sau thay cho chính thức trước. Cứ thế.
 Con tắc kè may mắn đã về. 
 Con tắc kè sáng nay vẫn núp sau chum nước.
 Nhưng lần này thì lão nhìn thấy nó. Cặp mắt nó mệt mỏi lờ đờ. Đôi đồng tử vàng vàng đùng đục. Những nếp nhăn ở đuôi mắt. Da mặt mông mốc với những vết sạm như đồi mồi. Con tắc kè đang nhìn lão. Lão cũng âu yếm nhìn con vật. Tất cả những đường nét trên mặt nó hiện rõ dần, rõ dần, giống như bức ảnh trên tấm giấy ảnh ngâm thuốc hiện hình trong buồng tối. Và khi đã trở nên hoàn hảo thì đấy chính là bức chân dung của lão. Một bức chân dung viền khung đen.
 TIN BUỒN.
 Vài dòng tiểu sử.
 Ngày tháng năm qua đời.
 Những dòng chữ bên cạnh bức chân dung.
 Nhưng cái thu hút sự chú ý của lão hơn cả là một bài thơ. Báo in trang trọng bài thơ của người đã khuất bên cạnh tin buồn. Như muốn ghi nhận sự đóng góp không hiệu quả nhưng bền bỉ của người cộng tác viên thầm lặng.
 Lão sửng sốt ngắm bài thơ của mình trên báo. Lần đầu tiên thơ lão được in. Một niềm hạnh phúc khôn tả nâng bổng lão lên trời.
 - Sáng rồi, dậy đi đơm đó thôi bố ơi...

(Rút trong tập "Lỏng và tuột")
Read More..