Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

22 thg 10, 2012

TỪ LỖ TẤN ĐẾN MẠC NGÔN - NGHĨ VỀ HỘI CHỨNG ĂN THỊT NGƯỜI TRONG VĂN HỌC TRUNG QUỐC


Trần Mạnh Hảo


“Mình là một kẻ có truyền thống ăn thịt người trên bốn nghìn năm”…”Mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”…
(Lỗ Tấn – Nhật Ký người điên)Viết kỷ niệm 76 năm ngày giỗ của đại văn hào Lỗ Tấn ( 19.10.1936 – 19.10.2012)
Lỗ Tấn là nhà văn Trung Quốc nổi tiếng, bậc thầy thể loại truyện ngắn, người đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc. Chủ đề “truyền thống ăn thịt người của dân tộc Trung Hoa” ám ảnh suốt những trang văn của ông như một lời cảnh báo nước Trung Hoa đã, đang và sẽ bị chủ nghĩa DUY ÁC thống trị.
 Mạc Ngôn, người vừa được giải Nobel văn chương là một hậu duệ tuyệt vời của Lỗ Tấn, vẫn tiếp tục đưa món thịt người khoái khẩu Trung Hoa vào văn chương của mình, đặng hoàn tất hành trình mấy nghìn năm văn học  Trung Quốc về nỗi ám ảnh người ăn thịt người. Tác phẩm Mạc Ngôn có chuyện ăn thịt người thật ru ? Có đấy, hồi sau sẽ rõ.

Ngay sau khi nhận giải văn chương Nobel, trả lời một báo Pháp, Mạc Ngôn nói ông thích nhất tác phẩm “Tam quốc chí” của La Quán Trung. Ngày bé, đọc “Tam quốc chí”, kẻ viết bài này quá kinh hãi khi đọc đến đoạn có một người ái mộ Lưu Bị ( lúc còn hàn vi) đến mức mời vị hoàng thân nhà Hán này đến nhà chơi, nhưng vì nghèo quá, không có gà lợn ngan ngỗng, đã giết thịt bà vợ yêu quý của mình làm bữa cỗ thịnh soạn đãi Lưu Bị.
Trong danh tác “Thủy hử” của Thi Nại Am, bàng bạc một không khí ăn thịt người, bánh bao nhân thịt người, thịt người giả thịt nai, thịt người ngon hơn thịt lợn dê hay trâu bò khiến người đọc có khi nổi da gà vì thú ăn thịt người của dân Trung Hoa. Nhân vật Lý Qủy giả làm Lý Qùy chuyên chặn đường giết người cướp của. Khi Lý Qùy bắt được Lý Qủy, bèn ngả anh này ra cắt tiết làm thịt như làm thịt một con chó, rồi ăn ngon lành trong mấy ngày túy lúy mồi ngon rượu ngọt…
Vợ chồng Trương Thanh & Tôn Nhị Nương trong “Thủy Hử”trước khi lên Lương Sơn Bạc từng làm nghề giết thịt người để ăn, đem thịt người giả làm thịt bò, thịt heo mang ra chợ bán. Hai vợ chồng này mở quán bán các món nhậu làm bằng thịt người trên đồi Thập tự, chuyên đánh thuốc mê giết người xẻ thịt. Võ Tòng đả hổ chỉ chút nữa đã bị Tôn Nhị Nương thọc tiết như heo…
Trước khi lên Lương Sơn bạc, Tống Giang suýt nữa đã bị mổ bụng lấy gan làm thuốc giải rượu cho đầu lĩnh Trương Anh…
Tuyệt tác “ Tây Du ký” của Ngô Thừa Ân mô tả sư phụ Trần Huyền Trang và đệ tử Trư Bát Giới đi thỉnh Kinh Thiên Trúc đã mấy lần bị yêu quái, bị bọn đầu lĩnh lục lâm thảo khấu toan làm thịt ăn nếu không có đệ tử Tôn Ngộ Không kịp đến cứu thoát…Ngay cả một số nữ yêu quái xinh đẹp cũng thèm ăn thịt nhà sư điển trai này…
“Đông Chu liệt quốc” từng kể nhiều chuyện ăn thịt người như là một truyền thống văn hóa Trung Hoa. Chỉ xin nêu ra mấy thí dụ :
Tề Hoàn công được coi là minh quân thời Xuân Thu, từng làm chủ soái chư hầu trong 35 năm, được sử phong là vua tốt có văn hóa “Hoàn văn”, lại chỉ thèm món thịt trẻ con, nghe nói ngon lắm mà mình chưa được ăn. Dịch Nha là bề tôi nịnh thần chiều ý nhà vua, bèn về đè con trai thừa tự của mình ra giết thịt, làm ra các món ngon tuyệt dâng Tề Hoàn công. Tề Hoàn công khen món thịt trẻ con ngon nhất trần đời, bèn ngỏ ý tháng nào cũng ăn cho đỡ nhớ…
Một thuở Nước Sở vây thành nước Tống. Người Tống hết lương thực, bèn đổi con cho nhau mà giết ăn, còn xương trẻ con thì dùng thay củi nhóm lửa để nhà này xào nấu thịt trẻ con nhà khác và ngược lại…
Tấn Châu Xước bắt được hai tướng nước Tề là Thực Xước và Quách Tối bèn giết thịt ăn, da hai ông này dùng làm nệm trải gường vừa êm vừa ấm…
Đến các thủy thần trên hàng nghìn con sông lớn bé Trung Hoa mỗi năm cũng ăn thịt đến hàng trăm ( có thể hàng nghìn) gái trinh vô tội. Mỗi lần thủy thần dâng vỡ đê lụt lội, dân làng lại phải ném một cô gái trinh còn sống xuống sông cho Thủy thần ăn tươi nuốt sống…
Sử Trung Hoa chép : Lã hậu vợ Lưu Bang Hán Cao tổ từng giết đại tướng Hàn Tín rồi băm nát như tương để làm mắn ông này, đoạn gửi cho các chư hầu ăn món mắn Hàn Tín để thấy thứ mắn tuyệt chiêu của nhà Hán có ngon không ?
Thuở Phục Ba tướng quân Mã Viện chinh nam đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, bị Hai Bà đánh trả tới cùng. Khi bị quân Hán dùng kế tiện nhân cởi truồng tấn công nữ binh của Nữ vương Việt, quân Việt xấu hổ quá đã thua trận. May mà Hai Bà nhảy xuống Hát giang trầm mình tự tử; nếu không, Hai Bà không may rơi vào tay Mã Viện, chắc chắn đã biến thành hai hũ mắn gửi về dâng vua Hán dùng thử xem mắm làm bằng thịt hai vua bà xứ Man di này ngon tới đâu ?
Dân tộc Trung Hoa có nền văn minh sớm vào bậc nhất thế giới. Ngay từ thời cổ đại, Trung Hoa đã sinh ra nhiều vị thánh tuyệt vời cứu nhân độ thế : Khổng tử, Mạnh tử, Lão tử, Trang tử, Chu Văn Vương, Mặc tử, Tuân tử…Thời bách gia chư tử ( Xuân Thu Chiến quốc) là thời loạn lạc nhưng cũng là thời nở hoa nhân bản của hàng chục nhà lấp thuyết nhân văn giúp nền văn minh Trung Hoa hướng thiện.
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân sinh năm 1881 ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, mất ở Thượng Hải 1936
Lẽ nào, trong một xứ sở có nền văn minh xuất chúng như thế, nơi ánh sáng của triết học, thi ca rạng ngời như thế, lại cũng là nơi mà cái ác, cái xấu xa ghê tởm của thói người ăn thịt người dã man tới mức đầu thế kỷ XX, văn hào Lỗ Tấn còn đau đớn thốt lên cái thuộc tính Trung Hoa ăn thịt lẫn nhau kia kinh tởm đến vô cùng bằng truyện ngắn “ Nhật ký người điên”, viết về một trí thức chống lại chế độ man rợ bị nhà cầm quyền vu cho là điên và bắt nhốt chuẩn bị làm thịt. Xin quý vị đọc một ít đoạn trích từ truyện ngắn này, như sau :

“…Mấy hôm trước, người tá điền bên thôn Lang Sói sang báo mất mùa, kể chuyện với ông anh mình rằng bên ấy, có một tên đại ác vừa bị người ta đánh chết. Có kẻ đến moi tim moi gan đem về rán mỡ ăn cho được can đảm. Mình nói xen vào mấy câu thì ông anh và người tá điền trố mắt nhìn. Hôm nay, mới biết là ánh mắt họ cũng giống hệt ánh mắt những người gặp ngoài đường kia!
Nghĩ lại mà lạnh từ đầu đến chân.
Họ đã ăn được thịt người thì vị tất lại không ăn được thịt mình!
Rõ ràng câu nói "Ăn thịt mày một miếng..." của người đàn bà nọ, tiếng cười của những người mặt tái mét, răng nhọn hoắt kia, và mẩu chuyện của người tá điền hôm trước, đều là những ám hiệu cả. Mình thấy rõ trong lời nói của họ có thuốc độc, trong giọng cười họ có dao găm. Răng thì nhăn ra trắng hếu. Toàn là bọn ăn thịt người!
Theo mình nghĩ, tuy mình không phải là một người ác, nhưng từ ngày mình giẫm lên cuốn sổ ghi nợ của cụ Cố Cữu, thì không còn thể nói chắc được nữa. Hình như họ có ý định gì, không thể nào đoán ra được. Huống hồ, họ giở mặt một cái là có thể đổ riệt cho người ta là người ác. Còn nhớ hồi ông anh bầy cho mình làm luận. Mặc dù nhân vật đem ra bàn tốt đến đâu, hễ tìm được cách chê vài câu là ông ta khuyên cho mấy khuyên. Và đối với những nhân vật xấu, hễ lựa lời bào chữa, là ông ta phê ngay bên cạnh "Phiên thiên diệu thủ, dữ chúng bất đồng " (Có tài biện luận! Độc đáo!). Như vậy thì mình làm sao đoán biết được tâm địa họ thế nào? Huống hồ khi họ đã muốn ăn thịt mình!
Việc gì cũng phải suy nghĩ mới vỡ nhẽ. Cổ lai, việc ăn thịt người thường lắm, mình cũng còn nhớ, nhưng không được thật rõ. Liền giở lịch sử ra tra cứu thử. Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào cũng có mấy chữ "nhân, nghĩa, đạo đức" viết lung tung tí mẹt. Trằn trọc không sao ngủ được, đành cầm đọc thật kỹ, mãi đến khuya mới thấy từ đầu chí cuối, ở giữa các hàng, ba chữ: "Ăn thịt người".
Những chữ đó trên trang sách và những lời nói của người tá điền cũng lại cười khì khì và trợn mắt nhìn mình một cách quái gở.
Mình cũng là người, họ định ăn thịt mình thật!
Dịch Nha(8) nấu thịt con cho Kiệt, Trụ ăn. Đó là chuyện ngày trước. Ai biết được từ khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, người vẫn ăn thịt người, cho đến con Dịch Nha, và từ con Dịch Nha cho đến ông Từ Tích Lâm(9) rồi từ ông Từ Tích Lâm cho đến cái anh gì bên thôn Lang Sói! Năm ngoái, trên tỉnh có mấy tên phạm nhân bị chém, còn có người mắc bệnh lao lấy bánh bao chấm máu liếm(10).

Đứa em gái mình bị ông anh ăn thịt, mẹ có biết thế hay không, mình làm sao hiểu được!
Nghĩ có lẽ mẹ cũng biết. Chẳng qua khi khóc, mẹ không nói ra đó thôi. Chắc cũng cho là phải. Còn nhớ hồi lên bốn lên năm, mình đang ngồi hóng mát trước nhà, nghe ông anh nói rằng: Cha mẹ ốm đau, con phải cắt một miếng thịt, nấu chín, dâng cho cha mẹ, mới là có hiếu. Mẹ cũng không cãi lại. Ăn được một miếng thì tất nhiên có thể ăn cả con người. Nhưng bây giờ nhớ lại thì hôm ấy, nghe mẹ khóc, thương tâm quá đi mất! Thật là một chuyện lạ lùng!

Không thể nghĩ được nữa. 
Bây giờ mới biết mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”(hết trích)

Lỗ Tấn mang trong mình cả một nước Trung Hoa cổ hủ và tàn ác, hèn hạ và dối trá, nghèo đói và thất học trong cơn mê ngủ ảo tưởng về mình đang bị các đế quốc xâu xé. Ông sinh ra trong cuối thời Thanh mạt, từng chứng kiến ông nội mình bị vua Quang Tự ra lệnh xử tử hình vì tội hối lộ trong trường thi.
 Khi nhìn thấy trong phim cảnh người Nhật chém đầu một người Trung Hoa mà dân Trung Hoa lại hí hửng chen nhau xem cảnh ô nhục đó, Lỗ Tấn bèn bỏ giở ngành y ông đang học tại Tokio, về nước dùng ngòi bút cứu nước. Ngay khi còn học tại Nhật, ông đã tham gia “Quang phục hội” là hội của những người sau này tham gia cách mạng Tân Hợi ( 1911) lật đổ nhà Thanh tạo ra Trung Hoa Dân quốc.
Lỗ Tấn cho rằng căn bệnh trầm kha của Trung Hoa là căn bệnh tinh thần, căn bệnh ảo tưởng, mê ngủ kinh niên, phải chữa bằng ngòi bút chứ không thể chữa bằng dao kéo hay ống chích y khoa. Liệu Lỗ Tấn có thể chữa nổi căn bệnh ung thư tinh thần của nước Trung Hoa lên cơn thèm thịt đồng loại đang trong giai đoạn ung thư cuối cùng này chăng ?
Ông nhìn thấy nước Trung Hoa chính là một con bệnh điên đang bị giam nơi nhà tù có tên là lịch sử trong ám ảnh bị thời đại ăn thịt, như suốt bốn nghìn năm hội chứng ăn thịt nhau phải chăng là nghiệp chướng Trung Hoa ? “Nhật ký người điên” là tác phẩm đầu tay viết năm 1918 lại cũng chính là một kiệt tác của Lỗ Tấn.
Ông nhìn thấy nước Trung Hoa, dân Trung Hoa trong số phận của chú AQ khờ khạo, ngu dốt, khôn lỏi, cả tin, ấm ớ dễ bị lừa, ảo tưởng, tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình bằng phép thắng lợi tinh thần luôn luôn là miếng mồi ngon cho các triều đại, cho các thể chế chính trị trên đất nước rồng điên này ăn thịt.
Một anh nông dân điển hình AQ vừa đói, vừa dốt, vừa hèn hạ khôn vặt, vừa ảo tưởng vừa rất thiêu thân, dễ bị
kích động, ấm ớ, mơ ngủ…sao có thể làm cách mạng? Chẳng qua cũng chỉ là thứ cách mạng a dua, thứ cách mạng súc vật. Hàng tỉ anh AQ này chỉ là phương tiện cho bọn cai chính trị, bọn lãnh tụ buôn chính trị, buôn cách mạng lợi dụng tính cả tin ngu xuẩn, tính thiêu thân khi bị kích động, bị bơm nước đường của AQ, để rồi cuối cùng chú và các chú thành nạn nhân của cách mạng.
Thiên tài Lỗ Tấn bằng truyện “AQ chính truyện” đã tiên đoán số phận bi kịch của hàng trăm triệu các chú nông dân thất học, đói rách, tự dối lừa mình và bị bọn cai đầu dài cách mạng lừa dối, dụ dỗ đi tìm thiên đường ảo tưởng; để rồi anh em nhà    AQ bị cuộc cách mạng cộng sản tàn bạo nhất trong lịch sử bốn nghìn năm ăn thịt người của nước Trung Hoa giết hoặc bị chết đói ngót trăm triệu nhân mạng trong thời cải cách ruộng đất, thời hợp tác hóa, thời đại nhảy vọt, thời cách mạng văn hóa ( cách mạng phản văn hóa, diệt văn hóa mới đúng).

Tác phẩm “ AQ chính truyện” là kiệt tác hàng đầu của Lỗ Tấn được in trong tập truyện “ Gào thét” ( 1923). Năm 1926, tập truyện lừng danh của Lỗ Tấn có tên là “Bàng Hoàng” ra đời đưa ông lên vị trí số một của văn đàn Trung Hoa về thể loại truyện ngắn. Ngoài ra, Lỗ Tấn còn xuất bản thêm bảy tập tạp văn kiệt xuất.
Viết truyện ngắn “Thuốc” kể lại chuyện bài thuốc gia truyền kinh tởm chữa bệnh lao của người Trung Hoa bằng cách ăn bánh bao chấm máu tử tội bị chém đầu. Các sách giáo khoa văn từ phổ thông lên đại học của Trung quốc dạy về “Thuốc” rằng : Lỗ Tấn lên án chế độ phong kiến giữ nhiều hủ tục man rợ, chủ trương ngu dân để dễ cai trị.
Không, chế độ phong kiến Trung Hoa mấy nghìn năm không hề chủ trương ngu dân mà luôn khuyến học, trọng kẻ sĩ : “nhất sĩ nhì nông”, “nhân bất học bất tri lý”…
Trong lịch sử nhân loại, để dễ cai trị bằng cách diệt trí thức : “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, coi trí thức không bằng cục phân ( lời của Mao ”
Viết truyện “Thuốc”, Lỗ Tấn công bố một tư tưởng sâu sắc rằng máu ( tức cách mạng bạo lực “súng đẻ ra chính quyền” của Mao) mãi mãi không thể là phương thuốc chữa nổi con bệnh Trung Hoa, không cứu nổi nước Trung Hoa chìm trong cơn mê ảo tưởng, lạc hậu, nghèo hèn. Mao đã vay máu của hàng trăm triệu chú AQ, chắc chắn chỉ có thể trả bằng máu…Và quả thực, lời tiên tri bằng văn học của Lỗ Tấn rất chính xác : Mao Trạch Đông đã tắm máu nước Trung Hoa không phải chỉ một lần. Mao còn tìm cách tắm máu các dân tộc khác bằng món bánh bao chấm máu người có tên là “tư tưởng Mao Trạch Đông”…
Trước hết, phải khẳng định một sự thực, rằng Lỗ Tấn chưa bao giờ là một người cộng sản, mặc dù ông từng là bạn thân một nhà văn, một lãnh tụ cộng sản Trung Hoa là Cù Thu Bạch ( bị Quốc Dân đảng xử bắn năm 1935). Ông từng cùng với Cù tiên sinh lập ra phong trào Tả liên – các nhà văn cánh tả. Lỗ Tấn mãi mãi là một người quốc gia, yêu nước Trung Hoa của người nghèo khổ bị cả bốn nghìn năm quan quyền bần cùng hóa, AQ hóa…
Chính là Mao Trạch Đông đã “vơ  vào”, đã lôi tên tuổi kiểu nhận vơ ông vào phong trào cộng sản của mình sau khi ông chết năm 1936, để gọi ông là nhà văn vô sản số một Trung Hoa, là tấm gương cách mạng Trung Hoa, coi ông như là Goocki của Trung quốc.
Từ năm 1949 Trung Quốc đã cho dạy văn chương Lỗ Tấn trong nhà trường, từ năm 1954 ở Việt Nam cũng dạy học về Lỗ Tấn y chang Trung Quốc, đều dùng lăng kính cộng sản để soi vào văn Lỗ Tấn, biến ông thành công cụ tuyên truyền cho đảng cộng sản chính là công cuộc giết chết  văn tài Lỗ Tấn.
Giả sử trời cho Lỗ Tấn sống thọ đến U 90, thì năm 1966, năm Mao làm cách mạng văn hóa, chắc chắn Lỗ Tấn đã phải bị đấu tố tới chết hoặc cùng đường phải tự tử như Lão Xá mà thôi.
Suốt cả đời, Lỗ Tấn luôn chống chủ trương ngu dân của những kẻ nhân danh cách mạng, như ông viết trong lời tựa tập truyện “ Gào thét”(1923), như sau :
 "Dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng chăng nữa, cũng chỉ có thể làm thứ người mà người đưa ta đưa ra chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà thôi.. Cho nên, điều chúng ta cần phải làm trước là biến đổi tinh thần họ, và theo tôi hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ..." (Tựa viết lấy cho tập Gào thét, Trương Chính dịch)

Tinh thần ngạo nghễ nhưng hiền dịu, nhu mì của Lỗ Tấn chừng như giấu ẩn trong câu thơ tuyệt vời này của ông :
Hoành mi lãnh đối thiên phu chi
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu.
Xin tạm dịch là:
Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ
Cúi đầu làm ngự các nhi đồng.

Lỗ Tấn một bác sĩ chữa bệnh tinh thần cho nước Trung Hoa rất tài giỏi, gọi tên căn bệnh ấy là bệnh mê ăn thịt người, bệnh ảo tưởng cho cái ngu của mình là tài giỏi, cho cái ấm ớ của mình là minh triết, cho cái hèn hạ của mình là anh hùng, cho cái tàn ác vô song của mình là thiện căn…Nhưng căn bệnh tinh thần của đời mình, Lỗ Tấn chừng như không chữa nổi.
Một người có tham gia vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào cuộc cách mạng Tân Hợi, xóa bỏ mấy nghìn năm phong kiến, trao nước Trung Hoa vào tay nhân dân gọi là dân quốc, thế mà Lỗ Tấn vẫn còn bị hủ tục cha mẹ đặt đâu con ngồi đó hành hạ một đời. Đang du học tại Nhật thì mẹ ông là Lỗ Thụy gọi về cưới vợ. Cuộc hôn nhân không có tình yêu này là bi kịch cả đời ông.
Đêm tân hôn ông mới biết mặt cô dâu Chu An là một phụ nữa xấu, lại mù chữ nên suốt cả đêm động phòng hoa chúc, ông quyết không động phòng, thức đến sáng đọc sách. Và cả đời ông cho đến chết vẫn không hề động phòng với bà vợ lấy do mẹ ông chọn. Cuộc hôn nhân này đã là nấm mồ chôn bà Chu An ngay trên cõi dương thế. Và tâm hồn ông chừng cũng bị chôn sống trong nỗi đau khổ cô đơn, khi nhìn thấy sự bất hạnh ghê gớm của bà vợ Chu An bị chữ hiếu cực đoan của mình giết chết ngay trong cõi sống…
May là cô sinh viên của ông : Hứa Quảng Bình đã đến yêu ông và trở thành vợ hai của ông, cho ông một đứa con trai nối dõi.
Bi kịch từ nhau của người em ruột Chu Tác Nhân ( cũng là một nhà văn, một giáo sư đại học) vì chuyện không đâu do cô vợ ngươi Nhật của ông em ghét anh chồng, vu cho Lỗ Tấn rình xem trộm em dâu tắm, đã trở thành nỗi đau lớn trong tâm hồn Lỗ Tấn, cùng với nỗi đau không một lần ân ái với bà vợ cả do không có tình yêu, khiến ông sinh bệnh mà chết sớm lúc 55 tuổi.
Sau 13 năm Lỗ Tấn qua đời, nước Trung Hoa đã rơi vào tay bạo chúa Mao Trạch Đông. Mao nhất quyết dùng máu, hơn nữa dùng cả biển máu chữa căn bệnh Trung Hoa bằng mấy cuộc tắm máu sau : năm 1949 sau chiến thắng do cuộc tranh hùng Mao-Tưởng, Mao đã tắm máu hàng triệu đảng viên Quốc Dân đảng, rồi cuộc tắm máu cải cách ruộng đất, cuộc đại chết đói do phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đại chết đói trong cuộc đại nhảy vọt, cuộc đại tắm máu 1966 cách mạng văn hóa…
Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử Trung Hoa mà cái ác, cái xấu, cái đểu cáng dối lừa lại được tôn vinh đến thế. Chưa bao giờ máu Trung Hoa lại đổ nhiều đến thế, hội chứng ăn thịt người lại trở thành kinh khủng như dưới thời Mao đến thế. Xin quý độc giả xem hai đoạn trích dưới đây :
 “Ngày 27-5-2012, Tân Hoa xã đưa tin, công an đã bắt Trương Vĩnh Minh, 56 tuổi, người thôn Nam Môn, thị trấn Tấn Thành, huyện Tân Ninh, tỉnh Vân Nam vì bị cáo buộc giết người hàng trăm người để ăn thịt và lấy thịt người giả làm thịt đà điểu đưa ra chợ bán nhiều năm.Năm 1992, vợ chồng ký giả Nicholas D.Kristof và Sheryl Wudunn của tờ New York Times tìm được một số hồ sơ tiết lộ chi tiết về những vụ ăn thịt người tập thể trong giai đoạn Đại cách mạng văn hóa tại một số khu vực ở tỉnh Quảng Tây hồi cuối thập niên 60.
Theo những tài liệu kể trên, đã có ít nhất 137 người đã bị ăn thịt – mỗi nạn nhân bị cả chục người cùng ăn. Hầu hết những người liên quan đến việc ăn thịt người tại tỉnh Quảng Tây chỉ bị phạt nhẹ sau khi kết thúc Đại cách mạng văn hóa.
Theo cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” của tác giả Tân Tử Lăng:Trong tình cảnh này xuất hiện nạn ăn thịt người ở tỉnh Tứ Xuyên và nhiều nơi khác – khi chôn người chết chỉ vùi sơ sài, đợi đến tối bới lên lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng.
Tàn nhẫn nhất là nạn ăn thịt trẻ con ở Đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.
Đội sản xuất này có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong 1 năm (từ tháng 12-1959 đến tháng 12-1960) đã có 48 bé gái (từ 7 tuổi trở xuống) bị người lớn làm thịt và 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người.
Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện tình trạng ăn thịt trẻ con bởi khi đó tuy nhà ăn tập thể đã ngừng hoạt động trên thực tế vì không còn lương thực, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.Các gia đình đổi con cho nhau để giết thịt chúng cho bớt đau lòng.
Đêm ấy, đến lượt Vương Giải Phóng cùng 2 người khác đi tuần và họ phát hiện một dải khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Khi ập vào nhà Mạc Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng khi đó chỉ thấy có 5 bởi bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết, xẻ lấy thịt và đang luộc trong nồi.
Trong lúc tổ tuần tra tìm cây trói can phạm, Mạc Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài, ăn ngấu nghiến. Lãnh đạo địa phương sau khi cân nhắc đã quyết định ỉm vụ này đi vì sợ bị kỷ luật – sau 1 ngày bị giam giữ, cả nhà Mạc Nhị Oa được phóng thích.
Những tưởng các câu chuyện kể trên chỉ có thể diễn ra trong thời kỳ “đói kém”, nhưng sự kiện Trương Vĩnh Minh thực sự khiến dư luận bị sốc bởi bởi lẽ xã hội Trung Quốc ngày nay không làm gì có chuyện đói kém đến thế.
Ngày 225-2012, Vince Weiguang Li, người nhập cư gốc Trung Quốc không bị kết án cho dù đã chặt đầu và ăn thịt Tim McLean trên xe buýt Greyhound ở Canada trước sự chứng kiến của hành khách hôm 30-7-2008 bởi ông ta bị coi mắc bệnh tâm thần phân liệt chứng hoang tưởng.”
Báo chí Hàn Quốc đưa tin từ tháng 8.2011 hải quan Hàn Quốc đã ngăn chặn tới 35 vụ buôn lậu thuốc làm từ thịt trẻ em tán bột và cho rằng chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Họ đã tịch thu 17.451 viên được cất giấu trong hành lý của du khách hoặc chuyển qua đường bưu điện. Nhiều người cho rằng, loại thuốc này có khả năng trị bách bệnh và tăng cường sinh lực. Cơ quan Giám định pháp y quốc gia Hàn Quốc đã kiểm định, cho thấy 99,7% thành phần trong viên thuốc tương ứng với ADN của người. Có nhiều thông tin khác nhau về thứ thuốc “thịt người” này. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng đó chỉ là những mẩu nhau thai được lấy từ các bệnh viện phụ sản, mà theo y học cổ truyền, đó cũng là những vị thuốc chữa bệnh. Nhưng một đài truyền hình lớn của Hàn Quốc đã mất công điều tra công nghệ làm thuốc kinh hoàng này. Những người trực tiếp chế thuốc dường như không có cảm giác ghê tay. Họ cắt nhỏ từng xác thai nhi ra thành từng mảnh, sau đó đưa vào lò vi sóng sấy khô. Khi những lớp da và thịt đã khô cong, những miếng nhỏ này được đưa ra, bỏ vào máy nghiền, hoặc máy đập để tán nhỏ thành bột. Sau đó, chất bột này được trộn đều với các loại thảo dược theo tỷ lệ vừa đủ để đóng thành viên nang hòng che giấu thành phần thực sự của nó với mục đích đánh lừa các nhà điều tra y tế và các nhân viên hải quan…”
Lỗ Tấn hình như đã truyền lại cho hậu duệ Mạc Ngôn ám ảnh một nền văn minh nghiện ăn thịt người suốt bốn nghìn năm ? Trong các tác phẩm của Mạc Ngôn có thấy nhân vật nào giết thịt người  ăn đâu ? Nhầm !
Chả lẽ con người chỉ có thể xác mà không có tâm hồn ru ? Này nhé, các nhân vật của Mạc Ngôn hầu như đã bị bọn quan quyền, bọn buôn cách mạng,bọn đầu lậu chính trị ăn thịt hết linh hồn họ là gì ?
Cứ nhìn các bà các chị trong “ Mông to vú nở” bị cán bộ nông trang buộc rọ vào miệng khi bóc vỏ đậu để họ khỏi ăn hạt đậu sống vì đói, thì họ có khác gì con vật đâu ? Những người đàn bà này và hàng ngót tỉ chú AQ tân thời hình như đã bị tà thuyết của các bác ăn thịt hết linh hồn, khiến họ sống y như súc vật đó sao ?
Xin hãy đọc dòng văn học vết thương được mở đầu bằng truyện “ Chủ nhiệm lớp” ( 1977) của nhà văn Tứ Xuyên Lưu Tâm Vũ, các tác giả kế tiếp : Lý Bích Hoa, Tông Phác, Trương Khiết, Trần Thế Cưu, Trịnh  Nghĩa, Vương Á Bình, Vương Tống Hán, Ngô Cường, Lục Văn Phu…Rồi đến các tác phẩm của Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Vương Mông…Hầu hết các nhân vật bi kịch của dòng văn học vết thương nơi các tác giả trên đều đã bị tà thuyết của bác Mao ăn thịt hết linh hồn…
Văn học mô tả con người ăn thịt thân xác nhau đã kinh khiếp như Lỗ Tấn đã viết; chẳng lẽ việc con người bị kẻ khác ăn thịt hết linh hồn của mình như nhân vật của Mạc Ngôn lại ít kinh hãi hơn sao ?
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nhắc các vị cầm quyền Việt Nam rằng, đừng quên chuyện Trương Phụ tướng nhà Minh sang cướp nước ta vẫn thích ăn thịt người dân Việt, đã tiếp sứ thần
Nguyễn Biểu thay mặt vua hậu Trần là Trùng Quang đến gặp tướng nhà Minh Trương Phụ cầu hòa.Trương Phụ đãi sứ Việt ngay trên đất Việt món đầu người luộc để thử gan tướng Việt nhà hậu Trần có dám xơi thịt người như chúng hay không ? Xin trích từ điển mạng Wikipedia mục “Nguyễn Biểu”:
“Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối thời Trần, làm quan đến chức Điện Tiền Thái sử (Ngự Sử). Khi quân nhà Minh xâm lược Đại Ngu, ông đã phò vua Trần Trùng Quang Đế (1409-1413) tổ chức cuộc kháng chiến.
Năm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An, vua Trùng Quang Đế chạy vào Hóa Châu, sai ông đi sứ giảng hoà. Tướng giặc là Trương Phụ dọn cỗ đầu người để thử lòng. Nguyễn Biểu móc mắt ăn, rồi làm thơ đòi quân Minh công nhận chủ quyền Đại Việt, ông tức giận mắng Trương Phụ: "Trong bụng thì mưu đánh lấy nước, bên ngoài giả làm quân nhân nghĩa. Đã hứa lập con cháu nhà Trần, lại đặt quận huyện, không chỉ cướp lấy vàng bạc châu báu, lại còn giết hại nhân dân, thực là giặc tàn ngược". Trương Phụ trả thù bằng cách buộc ông vào cột cầu sông Lam để cho nước dâng lên ngập chết. Tương truyền ở dưới chân cầu ông dùng móng tay vạch vào thân cầu tám chữ: "Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử" (Nguyễn Biểu tử tiết ngày 11 tháng 7).
Vua Trùng Quang Đế cảm kích của với khí tiết đáng trân trọng của ông đã làm bài thơ tiễn Nguyễn Biểu đi sứ và bài văn tế Nguyễn Biểu. Cả hai bài này đều được lưu truyền đời sau.”(hết trích)
 Cần nên nhớ, rằng hàng tỉ chú AQ nước họ , mà họ còn xơi thịt cả thân xác lẫn tâm hồn, lẽ nào họ lại đi thương bọn ngoại tộc mà họ từng khinh bỉ gọi là man di ? 
Read More..

16 thg 10, 2012

SUY NGẪM VỀ TỰ XỬ


Đinh Bá Tuấn 

 Nho giáo phát xuất từ Trung Hoa và người khai sinh ra nó là Khổng Tử. Với  Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức,  theo Khổng Tử nếu giữ và làm tốt được nó thì xã hội sẽ an bình. Mặc dù còn những hạn chế, nhưng các nhà nước phong kiến Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam… đã biết vận dụng nó để trị nước, an dân.

Trong quá trình tu thân, Nho giáo đề cao đạo quân tử. Quân tử phải đạt được ba đức: “ Nhân – Trí – Dũng”. Sau khi tu thân người quân tử phải Hành Đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này  được công thức hóa: “Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ”. Nếu không làm được điều đó thì người quân tử phải tự rút lui. Còn nếu như mắc phải tội nặng thì Vua sẽ ban cho thanh kiếm để tự xử mình. Đó là cái chết trong danh dự. Nó thể hiện tính tự giác của cá nhân và nghiêm minh trong trị nước của các nhà nước phong kiến Trung Hoa.

Nho giáo du nhập vào Nhật bản  kết hợp với tinh thần Võ Sĩ Đạo sẵn có, đạo quân tử của người Nhật lại nâng thêm một bậc. Lúc này không phải có một thanh kiếm vua ban nữa mà là hai thanh kiếm. Thanh kiếm thứ hai thường ngắn hơn dùng để tự xử mình. Sự can đảm đã tạo dựng cho các samurai xem cái chết để giữ gìn danh dự như một điều vinh dự, một cái đẹp của cánh hoa đào rơi.

Một thanh kiếm khi ở Trung Hoa, hai thanh kiếm khi vào Nhật bản. Những thanh kiếm ấy chỉ dành tự xử các quan lại trong triều đình và các Samurai, thường dân thì không có. Nhưng nó lại tác động và định hướng đến toàn bộ xã hội. Sự tự trọng ấy là tấm gương để mọi người soi chiếu.

Nho giáo du nhập vào Việt nam cùng với Đạo Lão và gặp từ bi sẵn có của Đạo Phật. Sự pha trộn của các đạo giáo, tiếc thay không ra được món cocktail  ngon mà lại ra món hổ lốn, lổn nhổn chưa định được đúng tên là món gì. Sự sắc bén của các thanh kiếm cũng không còn, lòng tự trọng cũng dần mất đi. Người Việt nhất là quan lại, thường nói nhiều, làm ít, không biết trọng lời hứa, ít dám chịu trách nhiệm với công việc mình làm. Tự xử lại càng không có.

Nên chuyện xảy ra trong những ngày qua trên chính trường, chẳng có gì phải buồn. “ Chung quy chỉ tại Vua Hùng …”./.  
                                                          
                                                               Vũng Tàu, 16/10/2012
Read More..

13 thg 10, 2012

GỌI MỘT LY ĐEN

Đây là truyện ngắn mới viết của Trần Đức Tiến, đăng trên báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Truyện được viết theo một phong cách mới, khác nhiều so với cách viết trước đây của anh và khác hẳn so với cách viết chung của các nhà văn Việt hiện nay. Đọc, tùy theo mỗi người có cảm nhận khác nhau. Xin giới thiệu với các bạn truyện ngắn này.(Đ.B.T) 

 TRẦN ĐỨC TIẾN


Y hẹn tám giờ. Ở cà phê Vườn Thúy, đường Dốc Nhà Thờ. Bấm nút chuyển cái tin nhắn đi xong, nửa phút sau Tâm nhắn lại: “Vâng”. Y định nhắn tiếp, nói thêm mấy câu cho chắc ăn. Thật ra y không thông thạo cái thị xã này lắm. Mới tới đây vài ba lần. Đi một mình. Lần nào cũng chỉ ngủ một vài đêm trong cái khách sạn rẻ tiền, ăn mấy bữa cơm bình dân, và rỗi rãi thì ngồi giết thì giờ ở cái quán cà phê văng vắng nào đó. Xong việc, về… Y không nhớ Vườn Thúy số nhà bao nhiêu. Chỉ nhớ từ ngã tư chỗ có cái nhà thờ cổ cổ đi lên, khoảng hơn trăm mét. Bên ngoài quán có rặng liễu rủ, bên trong là vườn. Nhưng soạn xong cái tin thứ hai, y lưỡng lự một chút rồi xóa. Tâm “vâng” là được rồi. Nhắn thêm biết đâu Tâm đổi ý? Vả lại, giờ này chắc gì chồng nàng đã ra khỏi nhà? Y không muốn gây rắc rối cho nàng vì những cái tin nhắn không đúng lúc. Ô, nhưng y đã biết gì về chồng con Tâm đâu? Hai người hầu như chưa biết gì về nhau cả. Đây là lần đầu tiên hẹn hò…
Y đi bộ dọc theo bờ hồ, nhận thấy đoạn đường đã từng qua lại mấy lần không có gì thay đổi. Hàng cây bằng lăng già cỗi trổ hoa tím. Cái bến cho thuê thuyền vịt bỏ hoang. Cái nhà hàng nổi hình như chỉ mở cửa vào buổi tối... Y đến Vườn Thúy lúc tám giờ kém năm. Quán vắng. Chọn cho mình một góc khuất, y nghĩ: chắc phải tám giờ mười lăm Tâm mới đến. Thậm chí còn muộn hơn.
Nhưng Tâm sẽ đến. Y tin thế. Kinh nghiệm mách bảo y: cuộc đời có lắm thứ chỉ có thể tin được thôi, chứ  giải thích thì chịu.
Y gọi một ly cà phê đen. Cà phê Vườn Thúy ngon. Mấy lần trước, y cũng ngồi nhâm nhi ở đây. Không ngờ một cái quán vớ vẩn tỉnh lẻ lại có thứ cà phê ngon như vậy. Nhưng điều này có lẽ cũng chỉ mình y biết. Dân thị xã buổi sáng đến đây không phải để thưởng thức cà phê, mà chủ yếu là ngắm chim, ngắm cá và buôn chuyện.
Trong góc sân Vườn Thúy có một hồ nước nhỏ, nuôi cá và rùa. Hai con rùa to bằng cái rá vo gạo, thường ngoi lên nằm ngủ trên tảng đá giữa hồ. Trong làn nước hồ xanh đen, mấy con cá mình dài, đầu nhọn, lấp lánh ánh bạc, lượn lờ mềm mại như rắn. Phía trên bờ hồ, treo trên sợi dây thép chăng ngang là những chiếc lồng chim to nhỏ các kiểu. Cái sơn vàng, cái sơn trắng, có cái trùm vải hoa. Cu gáy, chào mào, chích chòe, phường chèo, bạc má, lách tách, nhồng, vẹt… Những con chim đã dạn khách, ăn uống, nhảy nhót thoải mái ở trong lồng, thỉnh thoảng còn hót lên chiều người nghe.
Phin cà phê của y bưng ra, vừa nhỏ xuống ly những giọt đầu tiên nâu sánh thì có thêm hai người khách bước vào. Hai người đàn ông đã có tuổi, dáng vẻ nhàn nhã. Một ông gầy cao tóc xoăn. Ông kia thấp béo tóc bạc.
Cả hai ung dung đến ngồi cạnh chiếc bàn kê sát bên hồ nước. Bàn số 17. Hình như cái chỗ quen thuộc ấy vẫn dành cho họ. Gầy Xoăn gọi chanh muối. Bạc Béo gọi trà gừng. Gầy Xoăn duỗi thẳng đôi chân dài dưới gầm bàn, khom người nhìn xuống mặt hồ:
- Đi đâu một con rồi?
- Cái giống cái bao giờ cũng đủng đỉnh - Bạc Béo cười khìn khịt.
Quả nhiên lão vừa dứt lời thì mặt nước dềnh lên: con rùa thứ hai xuất hiện. Nó chậm rãi bơi đến bên tảng đá, bám hai chân trước lên đó, kềnh càng đu cả người lên theo. 
Con rùa thứ nhất đã nằm ngủ trên mặt tảng đá từ lâu, mai khô hết nước. Mắt vẫn nhắm, đầu vẫn rụt sâu, nó khẽ nhúc nhắc nằm dịch sang bên, nhường chỗ cho con cái vừa bò lên. Con này ý tứ nghển cổ đảo xung quanh một vòng, trước khi nằm xuống cạnh con đực.
- Nằm sát nữa vào. Khéo rơi xuống nước - Bạc Béo lại cười khìn khịt, giọng dỗ dành.
“Đời còn dằng dặc thế. Tình yêu đã cạn rồi” - Gầy Xoăn ngẫu hứng ư ử một câu hát trong cổ họng.
Y liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Quá mười phút. Y nhấc chiếc phin lên khỏi miệng ly. Cà phê vẫn nhỏ xuống đều từng giọt.
Quán lại có thêm ba người khách. Ba phụ nữ. Hai chị tuổi sồn sồn khoác túi. Một cô trẻ hơn, áo sơ mi bỏ trong quần, đeo cả chục chiếc lắc vàng trên cổ tay. Họ tìm đến góc vườn, dưới gốc cây sa kê. Vừa đặt đít xuống ghế, chị sồn sồn mặc áo đen đã ghé tai cô tre trẻ thì thầm điều gì. Cô này đỏ mặt lên, mủm mỉm cười:
- Em không tin.
- Tao cũng không tin - Chị kia nói to - Nhưng lúc nhìn cái mặt thằng kia thì tao lại tin.
- Đẹp trai à?
- Không. Đểu. Con gái dễ chết vì những thằng đàn ông mặt đểu đểu.
Chị sồn sồn còn lại không tham gia câu chuyện. Chị ta kéo tay con bé phục vụ ở quán, giọng mềm mỏng:
- Cho chị xin ly cà phê tiểu đường.
- Cà phê gì ạ? - Con bé hỏi lại như không nghe rõ.
Vẫn giọng thẽ thọt, nụ cười tươi như hoa:
- Cà phê tiểu đường, em!… Cà phê không đường ấy.
Chủ quán, trẻ hơn Gầy Xoăn và Bạc Béo một chút, mặc đồ pijama, khoan thai từ sau quầy bước ra. Gã không nói không rằng, với tay lần lượt gỡ từng chiếc lồng chim máng trên dây thép xuống, cất vào trong mái hiên. Lũ chim nháo nhác một hồi rồi im.
Gầy Xoăn ngừng hát, bất giác ngửa cổ nhìn lên vòm trời màu xám đục thấp thoáng sau tán cây:
- Sắp mưa.
Cùng lúc đó, một chiếc xe máy xộc thẳng vào cổng. Ngồi trên xe là gã thanh niên rất kẻng trai, quần bò, áo chẽn kẻ sọc đỏ, tóc để ngôi giữa. Rất nhanh, gã tắt máy, dựng chân chống, bước vội đến chiếc bàn còn trống dưới mái hiên như sợ ai nhanh chân hơn chiếm mất chỗ. Bàn số 2. Gã có vẻ vào quán để trú mưa chứ không phải để uống cà phê. Tuy nhiên, sau khi cúi xuống buộc lại dây giày, gã cũng kêu một ly đen đá.

Trời chưa mưa, ly cà phê của gã thanh niên cũng chưa kịp mang ra, trong quán lại có thêm người nữa. Nhân vật này như từ dưới đất chui lên: thằng bé đánh giày. Thằng bé xách hòm đồ nghề, tiến đến trước mặt gã thanh niên:
- Chú! Giày?
Gã kia nhìn thằng bé với cặp mắt khinh khỉnh. Gã không nói gì, chỉ ngọ nguậy hai bàn chân ra ý bảo: giày của tao là giày da lộn, không đánh xi.
- Giày chú bẩn. Để cháu lau cho sạch?
Thằng bé đánh giày gạ gẫm.
Gã thanh niên nhìn xuống chân. Giày gã có vết bẩn thật. Hình như nhớt xe máy dính vào mũi giày.
- Mày lau bằng cái gì?
- Cháu lau bằng gì là việc của cháu. Đảm bảo giày chú không mất màu là được.
Gã thanh niên nhìn thằng bé có vẻ hay lý sự một thoáng rồi cúi xuống, tháo chiếc giày bẩn ra khỏi chân.
- Chiếc kia nữa? - Thằng bé đánh giày nhắc.
- Chiếc kia không bẩn - Gã thanh niên sẵng giọng.
- Nhưng phải lau đều cả hai chiếc. Chú thích một cái màu vàng một cái màu nâu à?
Gã thanh niên đành tụt nốt ra chiếc giày thứ hai. Thằng bé đánh giày nhanh nhẹn lồng đôi dép nhựa cũ đã mòn vẹt vào chân cho gã, rồi xách đôi giày da lộn đi nhanh ra phía cổng. Gã thanh niên định nói với theo câu gì, nhưng biết đã lỡ đà nên dừng lại.
- Toi rồi - Gầy Xoăn thở dài.
Bạc Béo vẫn ngồi im. Lão hiểu ngay ông bạn đi cùng đang nói về chuyện gì. Đề tài ấy đã trở đi trở lại với hai người trong quán cà phê này hàng chục buổi sáng.
- Vậy bao nhiêu công sức của bà lương y đổ cả xuống sông xuống biển?
- Đổ cả xuống sông xuống biển.
- Nhưng rõ ràng đã có lúc người ta nhận ra sai lầm, và thả thằng bé ra rồi? -Bạc Béo gặng hỏi.
- Người ta thả, rồi người ta lại bắt.
- Như trẻ con ấy nhỉ?
- Ông đi mà hỏi họ.
Bạc Béo chăm chú nhìn xuống mặt hồ tối sẫm. Con cá lớn, mình ánh bạc uốn lượn như rắn, giờ nằm im phắc dưới chân tảng đá. Trong cái hốc đá cạnh đấy, một chú cá nhỏ bằng đầu ngón tay đang ngo ngoe. Thấy yên tĩnh, chú cá nhỏ liền phóng ào ra. Chú không hề biết miệng con cá lớn đã ngoác ra chờ sẵn. Chú cá nhỏ lao thẳng vào cái khoảng tối chết người giữa hai hàm răng lởm chởm như răng cưa của con cá lớn.
- Thế hóa ra cái huyệt dương minh ấy là bịa à? - Bạc Béo lại hỏi.
- Tôi chắc không bịa.
Gầy Xoăn nói xong quay sang, nhìn chăm chăm vào một bên tai của Bạc Béo. Rồi đưa tay lên sờ sờ vào cái dái tai đã héo của bạn:
- Đây, chính xác là nó ở chỗ này. Các nhà khoa học bảo: lúc người ta còn trẻ, vào những ngày đẹp trời, nhìn kỹ sẽ thấy nó nổi lên, mảnh như một sợi chỉ màu hồng.
Bạc Béo bị sờ tai hơi lâu, nhột, rụt cổ lại, nhưng vẫn sa sả như cãi nhau:
- Như thế thì bà lương y kia đúng. Khoa học không thể sai được. Tại sao lại bắt thằng bé? Huyệt dương minh của nó còn sờ sờ ra đấy, ai cũng thấy. Nó là trai tân. Nó không phạm tội hiếp dâm!
Một con rùa giật mình, lăn bủm xuống nước. Con rùa cái. Con đực như không hề biết gì, vẫn nằm im trên tảng đá ngủ say. Y nhìn đồng hồ. Tám giờ hai mươi lăm. Chắc tám giờ ba mươi Tâm đến. Nàng đang chờ đèn đỏ ở một ngã tư đường. Hoặc cũng có thể đang dừng xe nói chuyện với một người quen nào đó. Nếu gặp người quen, có thể nàng còn dừng lại lâu hơn bình thường. Phụ nữ là như vậy. Những lúc cần nhanh, họ lại chậm. Hẹn hò càng quan trọng họ càng muốn kéo dài thời gian. Đàn ông ít người hiểu rằng, trong lúc mình sốt ruột vì chờ đợi, thì người phụ nữ đã bắt đầu tận hưởng cuộc hẹn hò rồi.
Chủ quán lại lẹp kẹp đôi dép lê từ sau quầy đi ra. Gã hỏi với vào nhà trong:
- Hôm nay đã cho rùa ăn chưa mày?
- Vừa ăn hôm qua rồi bố ơi - Giọng một đứa trẻ từ trong nhà vọng ra.
Gầy Xoăn nghiêng đầu nghe. Lão quay ra hỏi chủ quán:
- Rùa nhà cậu ăn gì?
- Dạ thưa, ăn thịt bác ạ - Chủ quán mau miệng đáp.
- Ngày xưa nhà tớ cũng nuôi một con rùa. Nhưng chỉ cho ăn cơm. Suốt ngày cu cậu nấp trong gầm giường. Đến bữa tớ nắm cho cục cơm bằng ngón tay cái, quẳng vào cho cu cậu. Cu cậu cứ lỉm nghỉm chén sạch lúc nào không biết. Ấy, có con rùa trong nhà, muỗi mòng cứ gọi là tiệt nọc, cậu ạ.
- Rùa nhà cháu không ăn muỗi, cũng không ăn cơm.
- Xơi toàn thịt à?
- Toàn thịt.
 - Mỗi bữa mấy lạng?
- Mỗi con ngốn hết một cân đấy bác.
- Chết chết…
- Bọn này bụng rỗng, ăn tốn lắm. Nhưng được cái ăn xong lăn quay ra ngủ, nên cả tuần mới cho ăn một lần.
- Thế mấy con cá trong bể này thì nuôi bằng gì?
- À, chúng nó ăn nhau.
Bạc Béo rụt đầu, cười khụt khịt. Lão đã nguôi chuyện huyệt dương minh với thằng trai tân bị bắt oan. Gầy Xoăn không nói gì, lại ngửa cổ, rên rẩm như cái cassette hỏng: “Đời còn dằng dặc thế. Tình yêu đã cạn rồi”…
Tám giờ ba mươi. Ly cà phê của y vơi một nửa. Chủ quán ra ngồi cùng bàn vớiGầy Xoăn và Bạc Béo. Có vẻ như gã cũng thích buôn chuyện tào lao với hai ông khách quen. Góc vườn, chỗ ba người phụ nữ, thỉnh thoảng lại rú lên tiếng cười của chị sồn sồn áo đen ngắt quãng chuỗi âm thanh thì thầm. Bàn số 2, thanh niên để ngôi giữa nhấp nhổm đứng hẳn dậy. Bố khỉ, thằng bé đánh giày sao lâu thế? Hay nó biến mất cùng với giày rồi? Nhưng từ chỗ gã thanh niên nhìn ra vướng bức mành, không thể thấy gì ngoài cổng. Gã đành ngồi xuống.
 “Chỉ lướt qua một cái là mình biết sẽ xảy ra chuyện gì” - y mỉm cười, nghĩ. Lần ấy, cũng ở thị xã này, y từ trong hiệu sách bước ra. Hè phố ít người. Y vừa đi vừa chúi mũi vào cuốn sách mới mua được. Bất chợt y ngẩng lên và bắt gặp cái nhìn lạ lùng của nàng. Xoẹt, ý nghĩ đầu tiên nhoáng lên trong đầu y như ngọn lửa quẹt ga: “Đây là người đàn bà của mình”.
Bước thêm ba bước, y quay lại. Nàng cũng đang dừng hẳn, nhìn y.
- Xin lỗi, chị là…?
- Em là Tâm - nàng nhanh nhảu.
- Hình như tôi gặp Tâm ở đâu rồi?
- Dạ vâng. Ở Phan Thiết, lầu ông Hoàng...
Y vắt óc nghĩ. Y đến Phan Thiết một lần,  từ lâu lắm, và chưa từng ghé lầu ông Hoàng. Nhưng thấy nàng có vẻ cả quyết như vậy, y đành ậm ừ rồi xin nàng số điện thoại.
Một mình trở về khách sạn, y phì cười. Lầu ông Hoàng, lầu ông Hoàng! Cái địa danh gắn liền với giai thoại nổi tiếng về mối tình của chàng thi sĩ họ Hàn với người đẹp. Nhưng lầu ông Hoàng ở chỗ quái nào nhỉ? Lần ấy, xe của y ghé qua Phan Thiết vào buổi trưa. Nhớ lời vợ dặn, y chỉ kịp dừng lại mua mấy thùng nước mắm tống lên xe. Dọc đường về, có một chai bị vỡ, mùi  mắm len cả vào giấc ngủ gà ngủ gật, mơ mơ màng màng. Đấy, chỉ có thế - kỷ niệm duy nhất của y về Phan Thiết.   
Tâm.
Một cái tên.
Một số điện thoại.
Và một cuộc hẹn.
Y hẹn nàng tám giờ, ở cà phê Vườn Thúy.                    
Bây giờ là tám giờ bốn lăm.
Thằng bé đánh giày bất ngờ xuất hiện ngay sau lưng gã thanh niên để ngôi giữa. Hóa ra ngoài cổng chính, Vườn Thúy còn có cửa ngách mà chỉ những người ra vào quán thường xuyên mới biết. Thằng bé xếp gọn đôi giày da lộn sạch như mới dưới chân gã thanh niên.
Mặt gã thanh niên giãn ra trong nụ cười đểu:
- Mẹ. Ông tưởng phải lê đôi dép này đi tìm mày?
Thằng bé đáp trả ngon lành:
- Cháu mà lặn thì chú có bới tung cả cái thị xã này lên cũng chả thấy.
Gã thanh niên gật gù, xỏ giày, trả tiền thằng bé rồi nhảy ba bước đến chiếc xe của mình. Xe nổ máy, vọt nhanh ra đường.
Chủ quán rời khỏi bàn bước vào hiên. Gã gỡ những chiếc lồng chim xuống, lần lượt mang từng chiếc ra sân máng lên sợi dây thép.
- Sao khó mưa thế nhỉ? - Bạc Béo bâng quơ.
Không ai hưởng ứng câu hỏi của lão.
“Đời còn dằng dặc quá. Tình yêu đã cạn rồi” - Gầy Xoăn gõ gõ ngón tay lên mặt bàn.
Y thở dài, nhìn đồng hồ. Rồi gọi thêm một ly đen./.

Lời bình: Một quán Cafe. Thị xã nơi tỉnh lẻ. Hàng cây bằng lăng già cỗi trổ hoa tím. Cái bến cho thuê thuyền vịt bỏ hoang .... một cô gái tên Tâm vừa thực, vừa mơ hồ. Một ông Béo. Một gã thanh niên. Một thằng bé đánh giày. Đám đàn bà buôn dưa lê. Những câu chuyện tào lao, giời ơi đất hỡi, không đầu, không cuối, lộn xộn. Đẹp trai à?-  Không. Đểu. Những câu hát chẳng ăn nhập :" Đời còn dằng dặc quá. Tình yêu đã cạn rồi". Không ai biết đích xác mình đang chờ gì, muốn gì. Truyện trủng chẳng, câu chữ có xu hướng  ngắn lại...
Nhưng đấy lại là một buổi sáng điển hình của một quán Cafe ở một thị xã, thi tứ nào đó. Một buổi sáng có có đầy rẫy trong đời. Một cuộc hẹn mà trong đời thường ai cũng có. Ai cũng đã từng chứng kiến, từng có giờ phút sống qua nó nhưng không biết biến thành văn chương như Trần Đức Tiến.
Truyện ngắn này khách quan, không cốt truyện, nhưng thực sự ám ảnh người đọc.

Read More..

6 thg 10, 2012

LIỆU CON NGƯỜI CÒN LÀ VỐN QUÝ NHẤT?

Nguyễn Quang Thân
 
“Người là vốn quý nhất!” – cả đấng minh quân thân dân và chí ít có một tay độc tài khét tiếng, nói thế. Tư tưởng cơ bản nhất của nhiều tôn giáo như đạo Phật, đạo Ki tô, Khổng giáo, v.v.  đều lấy con người làm bản vị. Tinh thần nhân bản tràn trề trong Phật pháp, trong Kinh Thánh cũng như kinh Coran. Thường thấy những gì con người sinh ra, nghĩ ra và tiếp tục hoàn thiện đều nhân danh quyền lợi con người, kể cả bom nguyên tử. Tu thân có mục đích sâu xa là “bình thiên hạ”, “bình thiên hạ” ngày nay là sự nghiệp cái lưỡi bò. Hư thật lẫn lộn hoài khó nhận biết. “Vua nước Tề yêu ngựa, thích cưỡi ngựa nên thấy ngựa là đưa tay ve vuốt, âu yếm. Vua nước Tần thích đánh nhau nên yêu trẻ con” (theo Hàn Phi Tử).

Nếu không có con người, không lấy con người làm vốn quý thì không tôn giáo nào, không quốc gia nào có thể tồn tại được. Cho nên dù có nghĩ như thế hay không, có thực sự vì con người hay ngược lại, vì chính bản thân mình, bất kỳ ai muốn được đi theo, được ủng hộ đều phải nói là mình yêu mình quý con người dù trong đó có không ít kẻ nói dối! Ngọn cờ nào cũng hàm chứa một chữ nhân lờ mờ phía trong, có điều là lời nói có đi đôi với việc làm hay không mà thôi, có khi giơ lên soi lại thấy ba chữ “ăn thịt người” (ý của Lỗ Tấn về lịch sử Trung Quốc).

Yêu được con người thật khó! Vì muốn yêu được người khác thêm một chút, ta phải bớt yêu mình đi một chút. Lev Tolstoi, nhà văn vĩ đại chuyên rao giảng tình thương, đã có lần sám hối rằng ông đã bịt mũi, buồn nôn, không đủ can đảm để đến gần, chưa nói đến chuyện vực dậy, một kẻ say rượu bẩn thỉu hôi hám nằm ngất trên tuyết bên vệ đường. Ông đã không bớt yêu mình dù một chút để yêu người. Sám hối vì đã không thực hiện những lời mình khuyên răn kẻ khác. Những người như thế rất nhiều, không chỉ một Tolstoi.  Nhưng họ vẫn ít hơn những kẻ cố tình nói dối, cố tình chơi ác với con người mà lại không biết sám hối.

Nhiều lúc ta tự hỏi, vì sao một xã hội lấy con người làm vốn quý nhất, lấy dân làm gốc (chứ không phải gốc cây), một xã hội có mênh mông giáo đường các loại răn dạy yêu quý con người, vì con người, con người là vốn quý, con người vang vang hai tiếng tự hào, v.v.  lại để xảy ra những chuyện tưởng một người sống thời Trung cổ nằm mơ cũng khó thấy được.

Tại sao người ta lại có thể nhẫn tâm xua chó cắn đến chết một người phụ nữ nghèo đi mót cà phê như vụ xảy ra trong rẫy ông Thành ở Tây Nguyên? Tại sao, một em bé mồ côi như em Bình ở ngay thủ đô Hà Nội, em Phương ở Hòa Bình, phải đi làm quần quật để kiếm cơm trong quán phở, như bé Hào Anh làm thuê trong đầm tôm ở Cà Mau, bữa cơm nào của các em cũng chan nước mắt. Thế mà các em vẫn bị tra tấn, đánh đập với những đòn roi khủng khiếp như vết cào của mãnh thú chứ không phải của chính những người vừa được các em hầu hạ?

Tại sao một tay dân phòng hay một sĩ quan công an lại có thể đánh đến chết người vô tội khi đã còng tay họ vào ghế, khi họ không còn có thể có được một phản ứng tự vệ nào như vụ viên cựu Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh vừa được xử hay vụ 4 tên tội phạm đánh chết dân vừa bị pháp luật khởi tố ở Đông Anh? Liệu đó còn là con người đối xử với con người? Liệu đó có phải là thái độ của những kẻ không chịu nổi người khác thách thức quyền lực của mình dù chỉ là cái oai bé tẹo của một anh dân phòng? Tội ác, án mạng xảy ra gần đây cũng có nhiều nét đáng sửng sốt. Tội phạm không còn mấy khuôn mặt người mà là mặt dã thú. Trước đây phần lớn tên sát nhân giết người vì tiền, vì nghèo đói. Hôm nay có nhiều vụ giết người chẳng vì gì hết, chỉ vì một cái nhìn được coi là “nhìn đểu” hay một câu nói vu vơ có thể bỏ qua giữa người và người với nhau. Nhưng kẻ giết người ấy vẫn thản nhiên lấy đi mạng sống của người khác, thậm chí của đấng sinh thành hay của người mình vừa yêu, vừa ân ái xong. Chúng giết người vì cái máu dã  thú nổi lên mà thôi! Nét mới ấy trong tình trạng tội ác làm đau đầu, nhức nhối mọi người trong xã hội, đòi hỏi câu trả lời nghiêm túc. Có một lối rẽ to tướng, một con đường phi nhân đang hiện ra và đã không ít người có vị trí xã hội từ thấp đến cao, hăm hở bước tới.

Phải chăng thời ta đang sống, mạng người quá rẻ? Liệu con người còn là vốn quý nhất?

Và con đường phi nhân ấy đang tạo ra ngàn lẻ một hoàn cảnh hạ giá con người. Trong chiến tranh, mạng người khó giữ nhưng đắt giá. Người ta chết vì lý tưởng của bản thân, vì đại nghĩa của dân tộc hay nhân loại. Nhưng thời nay chúng ta phải chứng kiến những cái chết lãng nhách, chết không vì cái gì hết. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể vậy mà thành hư vô chỉ vì một giây lơ đễnh trên đường. Hầu như năm nào cũng vậy, nước ta có trên 13 ngàn người chết trong cuộc vật lộn hàng ngày trên đường phố hay trên đường thiên lý. Và kinh hoàng thay, cùng quãng thời gian một năm ấy, tại xứ sở Đại Việt lắm suối nhiều sông, có tới 6000 trẻ em chết đuối!

Con người cũng bị rẻ rúng khi đồng lương không đủ để tái tạo sức lao động. Hơn một thế hệ học sinh, sinh viên lặn ngụp trong một nền giáo dục “lạc hậu và lạc lối”, chưa tìm được ngõ ra đúng đắn để hòa nhập với tri thức nhân loại cũng như cuộc đại sản xuất thời @. Thay vì sáng chế ra và sử dụng rôbốt để nâng cao vị thế con người, không ít trẻ em đã trở thành rôbốt, bị đẩy vào cái ngăn hẹp cô đơn giữa hai tấm ván của quán NET, mê muội hủy hoại tuổi thơ và cuộc đời tương lai trong games và những trò chát chít vô nghĩa. “Con người làm ra thần thánh nhưng khi thần thánh lên ngôi thì con người thất bại” câu nói ấy của Tagore phải chăng là tiên đoán cho những ngày kỹ thuật số lên ngôi hôm nay?

Khủng hoảng lý tưởng sống làm con người loạng choạng và mất giá về mặt tinh thần. Lạm phát phi mã cũng như những chính sách tận thu sức dân đẩy con người chìm sâu vào vũng bùn tục lụy, khơi nguồn tội ác và hủy hoại thể xác. Con người “vang vang hai tiếng tự hào” nhờ văn hóa. Mà văn hóa chỉ phát triển khi con người không ngừng nâng cao được mức sống vật chất. Năng suất lao động cao mới có thêm thời gian nhàn rỗi và ngày nghỉ xác để làm văn hóa và “mưu cầu hạnh phúc”. Chúng ta có đủ về mặt lý thuyết. Không mấy quốc gia nói nhiều về “chiến lược về con người” như chúng ta, thường so sánh triệu lần, vạn lần hơn thiên hạ như chúng ta.

Đã đến lúc chúng ta cần nghiêm chỉnh nhìn thẳng vào sự thật và thừa nhận một chân lý đơn giản: tất cả vì con người! Không vì con người thì mọi thứ đều vô nghĩa, mọi việc làm đều vô ích. Nếu bằng cách tước đoạt của người khác để mang lợi ích cho một nhóm người thì đó chỉ là lặp lại thói quen đáng ghê tởm của thú dữ tha mồi vào hang, nó chống lại con người và đang là nỗi xấu hổ của nhiều quốc gia. Tăng trưởng cao ư? Tăng trưởng cao sẽ có nghĩa lý gì khi môi trường sống bị hủy hoại, khi hàng loạt nông dân mất đất phải bỏ làng ra sống cầu bơ cầu bất ở thành phố, khi người ta cho xây dựng đập thủy điện để lấy lời mà không hề quan tâm xem phía dưới kia tính mạng người dân sẽ ra sao như trường hợp Sông Tranh 2.

Mong sao mọi chính sách tầm quốc gia bên trên cũng như hành động của một anh dân phòng bên dưới, thực hiện được những gì đã từng ghi trên lá cờ đại nghĩa của dân tộc cách đây hơn nửa thế kỷ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Và “dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (Tuyên ngôn độc lập VNDCCH 1945).

Không có gì mới lạ. Người ta chỉ cần làm được những gì đã nói ra mà thôi. Con người được đề cao và được tôn trọng trong thực tế sẽ là nhân tố của bất kỳ xã hội và nền chính trị lành mạnh nào.
Read More..

25 thg 9, 2012

CÁI CHẾT CỦA CHỊ HẰNG

 

 
Nguyễn Thị Thảo An

“Ánh trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Ôm một mối mơ...”

Hồi nhỏ, hằng năm vào độ Rằm Tháng Tám, mỗi khi nghe lũ trẻ nghêu ngao ngoài đầu ngõ là thể nào tôi cũng hỏi.

“Mẹ ơi, tại sao người ta lại gọi Cuội già là “thằng” hở mẹ?”
“Tại Cuội nói dối.”
“Mẹ ơi, Chị Hằng lên trăng hay chú Cuội lên trước hở mẹ?”
“Chắc... Chị Hằng.”
“Sao mẹ biết?”
Mẹ tôi ngần ngừ, “Vì mẹ nghe chuyện Hằng Nga Hậu Nghệ trước.”
“Chuyện như thế nào hở mẹ?”

Mặc tôi hỏi nhây, cứ mỗi độ Trung Thu, thể nào mẹ cũng dỗ tôi ngủ bằng cái câu chuyện mà tôi đã thuộc nằm lòng.

“Ngày xửa, ngày xưa, thuở quỷ thần còn hỗn mang, có chín con quạ tu luyện thành tinh biến thành chín mặt trời. Chín mặt trời ngày đêm tỏa ánh sáng hừng hực như muốn thiêu đốt thế gian. Sông ngòi khô cạn, đất đai nứt nẻ, đồng ruộng xác xơ. Thiên hạ chết khát, chết đói la liệt khắp nơi. Dân tình than oán như đã đến ngày tận thế.

Ở kinh thành, nhà vua rao truyền trong dân gian, ai làm tắt được chín mặt trời, ngài sẽ gả con và nhường ngôi cho. Những bậc hiền tài khắp nơi đều mong giúp nước, nhưng không ai đủ sức giương cung bắn tới mặt trời.

Có một hôm, giữa lúc nhà vua đang tuyệt vọng nhất thì có một người tự xưng là Hậu Nghệ vác một cây cung thật to, xin vào yết kiến. Thấy chàng khôi ngô, lực lưỡng, vua rất thuận lòng. Hậu Nghệ xin lên núi cao, vận hết thần lực giương cây cung chín thước. Khi chàng buông cung, tên lao vun vút rồi mất dạng giữa bóng mặt trời.  Trong chín ngày, chàng bắn chín phát, mỗi phát trúng một mặt trời. Tới ngày thứ chín, bầu trời chỉ còn lại một mặt trời nguyên thủy. Nắng lửa không còn. Không gian trở nên mát mẻ.Thiên hạ khắp nơi vui mừng nhảy múa, nhà vua cũng đẹp dạ truyền gả Hằng Nga và nhường ngôi cho. Trên thiên đình, Bà Tây Vương Mẫu  cũng cảm kích tặng Hậu Nghệ một viên linh đơn trường sinh bất tử. Hậu Nghệ giấu kín linh đơn, cái bí mật này chàng chỉ tiết lộ với Hằng Nga, người vợ xinh đẹp nhất đời của mình.

Từ khi lên ngôi, Hậu Nghệ thường ỷ công bắn hạ mặt trời nên đâm ra kiêu ngạo. Một hôm nhân lúc chàng mải mê săn bắn, Hằng Nga tò mò lấy thuốc ra xem. Đúng lúc đó, Hậu Nghệ trở về. Sợ chồng bắt được quả tang, Hằng Nga túng thế nuốt vội viên thuốc. Thuốc thần hiệu nghiệm, thân thể Hằng Nga trở nên nhẹ hẫng, từ từ bay bỗng lên cao. Hậu Nghệ đành bất lực, trơ mắt mà nhìn Hằng Nga mất dấu trên trời.

Từ đó, đời đời tương truyền, Hằng Nga bay lên cung trăng và sống cô độc một mình giữa chốn khôn cùng.

  Mấy ngàn năm trôi qua.
  Nhân loại già rồi chết.
  Chỉ có một người cứ sống. Sống mãi... Sống mãi.

Tôi nhìn lên trăng, lòng đầy thương cảm. Ai hoài cho một người bị giam cầm trong cõi mịt mùng.

Dân gian kể, mỗi năm vào độ Trung Thu, đúng vào lúc trăng sáng nhất, Chị Hằng sẽ bước ra ngoài cung trăng để vũ khúc Nghê Thường.

Hồi nhỏ, tôi tin là thật, nhiều đêm cứ đăm đăm nhìn lên trời để mong rình gặp Chị Hằng.

Ôi! Tuổi thơ tôi. Và những mùa trăng đếm được.

Ngày 21 tháng 7 năm 1969. Thế giới chấn động. Phi thuyền Apollo 11 đưa con người đặt bàn chân đầu tiên lên tới mặt trăng.

“That’s one small step for a man, one giant leap for mankind.”

“Đó là bước nhỏ của một con người, nhưng là một bước nhẩy vọt vĩ đại cho nhân loại.”

Cả thế giới đứng tim theo dõi bước đi của Neil Amstrong.
Còn tôi, tôi cũng đứng tim theo dõi bước chân của... một người khác.

“Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi.”

Tôi thấp thỏm. Tôi lo âu. Cứ nghĩ đến nỗi mong nhớ trần gian của Chị Hằng thì biết. Khó mà tưởng tượng! Mấy ngàn năm trôi qua! Bao nhiêu lần hình dung ra cảnh Chị Hằng chạy như bay tới chỗ Neil Amstrong. Là trái tim tôi nức nở. Chị không thể nào bỏ qua. Chị không thể nào không biết. Cơ hội mấy ngàn năm có một như vầy.

Nhưng Neil Amstrong đã không gặp Chị Hằng. Một dấu vết nhỏ cũng không. Mặt trăng chưa từng có sự sống.

Thế thì Hằng Nga đi đâu?

Nếu Hậu Nghệ là một nhân vật lịch sử thì Hằng Nga không phải là một nhân vật chỉ có trong huyền thoại. Chính sử Trung Quốc viết, Hậu Nghệ là vua nước Hữu Cùng. Hữu Cùng là một nước chư hầu tí hon thời Nhà Hạ. Ông nổi tiếng thần xạ, bách phát bách trúng. Năm 2188 TCN, vua Nhà hạ là Khải mất, con là Thái Khang lên nối ngôi. Nhưng Thái Khang là kẻ ham chơi, thích săn bắn, không quan tâm đến triều chính và tin dùng Hậu Nghệ. Mỗi lần săn bắn thường mời Hậu Nghệ đi cùng. Thấy Thái Khang bỏ bê chính, hậu Nghệ nảy sinh ý định cướp ngôi.

Một hôm, nhân dịp Thái khang rời kinh đi săn ở đất Lạc, Hậu Nghệ một mặt bí mật sai quân ở nước Hữu Cùng bất ngờ tấn công kinh đô Nhà Hạ, một mặt đem quân phong tỏa lối về của Thái Khang.

Nghe tin có biến, Thái Khang vội vàng mang quân trở về, nhưng không phá nỗi vòng vây, đành dẫn quân sang các nước chư hầu.

Thái Khang định liên kết với chư hầu đánh Hậu Nghệ, nhưng vì chư hầu không phục, đành lưu vong rồi mất ở nước ngoài.

Hậu Nghệ sau khi cướp được Nhà Hạ lại tỏ ra kiêu ngạo, lại bắt chước như Thái Khang đắm mình trong tửu sắc, mê săn bắn và bỏ bê việc nước. Nhiều trung thần can ngăn nhưng Hậu Nghệ lại đâm oán ghét rồi điều họ đi nơi khác. Một người bề tôi tên là Hàn Trác thấy thế cũng nảy sinh ý định cướp ngôi.

Hàn Trác là kẻ giảo hoạt, dùng lời xu nịnh, tán tụng Hậu Nghệ lên tận mây xanh. Hậu Nghệ hết lòng tin tưởng, trao hết triều chính cho Hàn Trác để hưởng lạc. Hàn Trác thường xuyên ra vào cung cấm, lộng quyền, lại còn cả gan tư thông với Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ.

Về sau, có kẻ mật báo, Hậu Nghệ tức giận cầm gươm vào cung tra vấn. Trong cơn ghen tột độ đã giết chết Hằng Nga. Sau đó phao lên, Hằng Nga lén uống linh đơn nên bay về trời. Tin từ miệng vua truyền, không ai dám tra vấn hay nghi ngờ chi cả. Câu chuyện truyền từ đời này sang đời khác, mỗi người thêm thắt, riết thành huyền thoại.

Mà huyền thoại bao giờ cũng sáng rực trong thi ca.

 Xưa nay, có thi sĩ nào mà lại không yêu trăng?

Giả sử, trời không có trăng, đêm sẽ buồn biết mấy! Thi ca sẽ là những dòng chữ tối tăm, mờ mịt.

Trong bài Điểu Minh Giản, Vương Duy viết

“Người nhàn hoa quế rụng.
  Đêm Xuân núi đìu hiu.
  Trăng lên chim thảng thốt
  Khe Xuân vọng tiếng kêu”

Đêm trong núi, bất chợt có ánh trăng nhô lên, lồng lộng sáng trên đầu ngọn rừng, làm con chim phải bàng hoàng, giật mình mà thảng thốt. Hóa ra, vạn vật đều say trăng, không cứ chỉ con người.

Trăng chỉ có một nhưng mỗi người yêu mỗi cách.

Nhà thơ Lý Bạch Trung Hoa đôi lúc cũng hỏi trời, hỏi trăng.

“Trời xanh, trăng có tự bao giờ?
  Nâng chén, đêm nay hỏi một câu.
  Người với lên trăng, vin chẳng được.
  Khi đi, trăng lại mãi theo nhau.”

Trăng tự ngàn xưa mà trăng vẫn mới.
Thơ của người xưa sao ý vẫn mới?
Trăng chỉ có một, mà người mỗi nước yêu mỗi khác.
Trong thơ Việt, nhà thơ kéo trăng xuống đời.

“Gió theo lối gió, mây đường mây.
  Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
  Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.
  Có chở trăng về kịp tối nay?”

Mà hình như chỉ ở Việt Nam, trăng mới đầy huyền thoại. Chị Hằng trong trăng, trăng hóa Chị Hằng.

 “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu.
   Đợi gió Đông về để lả lơi.
   Hoa lá ngây tình không muốn động.
   Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi!”

Hay trăng của Vũ Hoàng Chương,

  “Sao đọng kim cương sáng ngập bờ
    Lúa thì con gái mượt như tơ
    Gốc đa cổ thụ duyên còn đượm
    Và cái trăng vàng quá lẳng lơ”

Trăng chỉ có một, sao trăng Việt Nam lại lẳng lơ hơn? Chị Hằng cũng có một, sao Chị Hằng trong mắt Việt lại gợi tình hơn? Hay chỉ tại nhà thơ Việt quá đa tình? Đến nỗi “thi cuồng” Bùi Giáng cũng lên tiếng trêu,

“Trăm năm tắm gội dưới trời
  Ngày thì tắm nắng, tối rồi tắm trăng.
  Nhớ em tắm với chị Hằng
  Tận cùng tắm với ngọn đèn cô đơn.”

Nhưng yêu trăng nhất có lẽ chính là Tô Thùy Yên, nhà thơ lớn của Việt Nam, một tâm hồn lớn mở hết với trăng.

  “Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ
    Ta thức đêm nay chơi với trăng
    Nghĩ tội thương sau này, mãi mãi.
    Quanh mồ ta, trăng phải lang thang.”

Trăng tít tận trời, mà trăng gần gũi như người bạn. Thức trắng đêm để chơi với trăng. Yêu trăng hằng đêm, yêu trăng tới nỗi khi nghĩ đến cái chết mai sau, mình mất rồi thì sẽ trăng quạnh quẽ mà chạnh lòng. Yêu đến vậy thì tột cùng. Thì mới là yêu nhất.

 Năm 1983, tôi đi vượt biên. Ngồi trên chiếc ghe nhỏ chòng chành giữa trùng khơi mịt mùng. Sinh mạng mong manh, mỏng tựa sợi tơ, chỉ chực đứt đời khi trời gió nổi. Mấy đêm liền trời tối đen như mực, chúng tôi 62 người như những người mù ngồi im trong bóng tối. Tôi giơ bàn tay, bàn tay cũng chìm trong cái mầu đen kịt. Tôi nghĩ đến cái chết của một con người. Của tôi. Giống như một dấu chấm nhỏ nhoi đột nhiên biến mất. Không hề gây ra một xao động nào. Một sự tĩnh lặng tuyệt nhiên trong trời đất.

 Vậy mà hôm sau trời lại có trăng. Một lần trong đời ngắm trăng trên biển. Tôi như con chim trong thơ Vương Duy bỗng giật mình thảng thốt kêu. Những thi sĩ không yêu trăng quá đà. Thơ không hề cường điệu. Không có nơi nào đẹp bằng trăng trên biển. Trên núi non, trên sông ngòi, mặt đất hẹp quá nên trăng không giải hết. Chỉ có biển, biển mới đủ rộng cho thỏa tình trăng tỏa. Đêm đó tôi ngồi giữa biển trăng mà chảy nước mắt. Những giọt nước mắt cảm động tạ ơn Thượng Đế. Cảm ơn Ngài đã cho tôi một ân phước lớn trong đời. Trước khi chết còn thấy được một kỳ công của tạo hóa. Biển trăng.

Bây giờ, cũng đang là mùa trăng.

Đã lâu, tôi không ai nghe ai hát bài “Ánh trăng trắng ngà...”

“Mẹ ơi, không có ai ở trên cung trăng đâu mẹ.”

“Mẹ ơi, thằng Cuội không phải là kẻ nói dối nhất đâu mẹ?”

Trăng trên đất lạ xa cách và lạnh. Cũng là mầu vàng trăng nhưng trăng xưa đã khác. Huyền thoại về trăng cũng không còn. Mà huyền thoại là những câu chuyện đầy mầu sắc, nó phát ra một thứ ánh sáng huyễn hoặc dẫn dắt con người ta đi hết thuở thiếu thời.

Không có huyền thoại, thế thì con tôi có lẽ đang đi qua tuổi thơ bằng những con đường khác.

Có ai làm ơn chỉ giùm tôi lối đi của chúng?
 
Read More..

10 thg 9, 2012

ĂN VÀ... CỦA NGƯỜI AN NAM

( Bài lấy từ diễn đàn OS,com )

Tại một nhà hàng ở Thái Lan.Tiếng Việt lên ngôi!



















Tấm biển  này thì ở nước bạn Lào.



 
 

Read More..