Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

5 thg 1, 2014

Những ngôi nhà của một đời người

Quê nhà xa lắc xa lơ đó

Trông lại tha hồ mây trắng bay (NBính)
Cuối năm tôi đang “homesick”. Tôi đang nhớ nhà, nhớ nước, là nơi tôi đã xa gần bốn mươi năm. Tôi lơ mơ nhớ lại những căn nhà tôi đã đi qua: Căn nhà đầu tiên nhỏ lắm, nhưng rất ấm áp và đầy đủ. Nơi đó tôi không phải lo lắng ấm lạnh, đói no. Tôi chỉ ăn và ngủ. Tất cả đã có mẹ tôi lo liệu, từ đi đứng, nằm ngồi. Mẹ ăn, tôi ăn, mẹ ngủ, tôi ngủ, mẹ đi, tôi đi, mẹ cười, tôi vui, mẹ khóc, tôi buồn…Thật đáng tiếc, tôi không thể ở lâu được trong ngôi nhà này, tôi chỉ cư ngụ ở đó một thời gian ngắn, chín tháng. Tôi phải dọn ra, để còn nhường chỗ cho em tôi dọn vào sau này. Căn nhà đó chính là cái dạ con của mẹ tôi, nơi trú ngụ an toàn nhất của đời mình.
Sau này khi tôi di tản từ Việt Nam sang Mỹ, tôi liên tưởng cái dạ con của mẹ cưu mang tôi có một phần nào giống như trại tỵ nạn Camp Pendleton, tôi tới đó chờ chuyển tiếp vào một đời sống mới ở Mỹ, một nơi chốn xa lạ. Bụng mẹ cũng là nơi đón nhận tôi từ tinh cầu mơ hồ nào rơi xuống, lo cho tôi đầy đủ trước khi tôi bước vào những căn nhà lạ hoắc khác nhau của đời sống con người trên mặt đất. Khác chăng mẹ không bỏ tôi ngay sau khi tôi dọn ra, mẹ luôn đi theo bên cạnh tôi lo lắng, thương yêu, cho đến khi mẹ bắt buộc phải dọn một mình vào căn nhà cuối cùng của mẹ.Khi tôi vừa đủ trí khôn để ý thức được sự dời đổi và tôi có thể nhớ đến ngày hôm nay, một phần qua trí nhớ mơ hồ, một phần qua lời kể của cha mẹ hay anh chị lớn hơn, thì bắt đầu một cuộc hành trình dời đổi.
Từ Hà Nội cha mẹ tôi mang các con chạy loạn về quê ngoại, làng Thanh Nga tỉnh Thái Bình. Tôi nhớ được gánh trong hai cái thúng, chị tôi một đầu, tôi một đầu. Ở Thái Bình một thời gian, chúng tôi được xem tát ao, xem bắt cá, xem giã gạo, đập thóc, được câu cá và chơi với trẻ em nhà quê thò lò mũi xanh. Cha tôi hay ra đình dạy học và dạy võ cho người làng.
Rồi từ Thái Bình, lại chạy sang quê nội ở Nam Định, chúng tôi cũng qua hai ngôi nhà của họ hàng ở đây. Mấy tháng sau, từ Nam Định hồi cư về Hà Nội, ở Hà Nội được hai năm qua ba căn nhà, cha tôi là công chức bị thuyên chuyển xuống Hải Phòng, ở Hải Phòng bốn năm tiếp theo là cuộc di cư từ Bắc vào Nam.
Tôi ngồi lơ mơ nhớ lại, đếm trong đầu: từ lúc tôi ở trong ngôi nhà đầu tiên là bụng mẹ, cho đến lúc di cư vào Nam 1954, chưa được 9 tuổi, tôi đã ở qua chín ngôi nhà.
Năm 1954 tôi đã khá lớn, có thể tự nhớ những căn nhà mình đã dọn vào, dọn ra không cần nghe ai kể lại. Vào Sài Gòn bắt đầu tạm trú ngay trong sở Địa Chánh, nơi cha tôi làm việc ở đường Hai Bà Trưng, con đường ngay sau Bưu Điện Sài Gòn. Tôi đi học ở trường Hòa Bình thuộc nhà thờ Đức Bà. Được ít tháng, mẹ tôi thuê được nhà ở bên Thị Nghè. Gia đình tạm coi như yên ổn được vài năm. Chúng tôi ở Thị Nghè từ đó cho đến năm 1975. Nhưng trong thời gian dài đó gia đình tôi cũng mua, bán, thay đổi nhà thêm ba lần nữa, dù vẫn chỉ loanh quanh ở gần nhà thờ Thị Nghè.
Tôi sang Mỹ với cha mẹ già, từ Camp Pendleton, California, chúng tôi đi qua nhà người bảo trợ ở thành phố Encino; một tháng sau, tôi có việc làm dọn ra căn chung cư ở Los Angeles; lập gia đình, dọn nhà hai lần nữa; sanh đứa con đầu lòng, dọn sang nhà mới, mua ở Rosemead; rồi đổi nhà khác về Westcovina. Ở California được 13 năm, qua 7 căn nhà khác nhau. Chúng tôi lại dọn lên vùng tây bắc nước Mỹ, bang Washington cho gần quê nội bên chồng ở Montana, để mỗi mùa hè có thể lái xe mười tiếng mang các con về thăm nội. May quá, ở Seattle từ mùa hè 1988 đến hôm nay, chúng tôi chỉ đổi nhà một lần. Từ thành phố Issaquah sang Bellevue cách nhau có hai exit ở xa lộ.
Từ lúc rời căn nhà đầu tiên là bụng mẹ đi ra, ngẫm lại thì tôi đã ở không biết bao nhiêu ngôi nhà, tôi không muốn đếm nữa.Tôi đi suốt từ miền Bắc đến miền Nam nước Việt, từ quê hương Việt Nam tới nước Hoa Kỳ. Nghĩ lại mà bàng hoàng. Sao mà dời đổi nhiều thế, sao đi xa thế nhỉ?
Những ngôi nhà tôi ở dài thời gian hay ngắn cũng đã cho tôi bao nhiêu là kỷ niệm. Ký ức đôi khi lấp lánh như được rắc bằng kim nhũ, đôi khi long lanh như nước mắt. Những mái nhà từ quê đến tỉnh, từ nước Việt sang nước Mỹ. Khi thì mái lá, khi mái lợp tôn, khi mái lợp ngói, khi mái gỗ, đã cho tôi nghe bao tiếng mưa rơi mang âm điệu khác nhau và sự ấm lạnh khác nhau của cả bốn mùa.
Dưới những mái nhà đó, bao nhiêu kỷ niệm từ thời thơ dại, thuở bắt bướm, hái hoa. Có gặp gỡ, có hẹn hò. Có đêm nhìn hỏa châu, có ngày nghe pháo kích. Khi trưởng thành biết yêu, biết nhớ, biết đau khổ và biết hạnh phúc phải trả bằng giá nào mới có. Mỗi lần dọn nhà, trước khi giao nhà cho người khác, quay lại nhìn căn nhà trống, nghĩ mình đã một thời sống dưới mái nhà này, cười, khóc trong những bức tường này. Gian bếp, buồng ngủ, mảnh vườn, mỗi nơi mang theo biết bao là dấu vết của đời sống gia đình. Có căn nhà mình sống với cha mẹ ở đó, có căn là nơi mình đón những đứa con ra đời, có căn là nơi mình khóc tiễn đưa mẹ cha lần cuối. Khi dọn đi làm sao xóa được dấu tích thân yêu, tránh khỏi một chút ngậm ngùi.
Cứ mỗi lần dọn vào một nơi ở mới, dù là nhà thuê hay nhà mua, tôi thường mời linh mục đến làm phép nhà. Cầu xin cho gia đình mình bình an, cầu xin cho những người đã ở trong nhà đó trước khi chúng tôi dọn tới và cầu xin cả cho những người sẽ dọn vào sau chúng tôi:“Nhất điền thiên vạn chủ.” Làm sao tôi biết được đời sống nào, những con người sống trong căn nhà này trước tôi đã kinh qua và người đến ở đây, sau chúng tôi sẽ phải đối diện những gì.
Những căn nhà khác chi những toa tàu trong đời sống, mỗi sân ga ta xuống, mỗi toa tầu ta vịn leo lên, ta mang theo những gì, bỏ lại những gì? Hạnh phúc, đau khổ, tiếng cười, giọt lệ? Lên một toa tàu để xuống ở sân ga khác, nào ai biết được điều gì xảy ra trong chọn lựa ấy? Ta đã gặp và đã chia tay biết bao nhiêu người ở những trạm lên, xuống đó. Và người đồng hành với ta nữa. Có người gắn bó theo ta suốt cả một đời, cùng dọn ra, dọn vào trong những ngôi nhà ấm, lạnh đó. Có người ngó trước, trông sau, bỗng bâng khuâng thốt lên: “Lần này ta dọn vào đây chỉ có một mình à?”

Ôi! Những kẻ tôi chỉ chào một bận

Chân xa mau, lòng chưa kịp giao thân

Trên đường tôi nếu trở lại đôi lần

Chắc ta đã yêu nhau rồi, - hẳn chứ...
(Tình Nhớ, Huy Cận)\
Rồi còn những người được coi là vô gia cư (homeless). Có bao giờ họ mơ ước có một mái ấm đủ vợ chồng con cái quây quần bên lò sưởi trong một tối mùa đông? Một thời nào đó, những người homeless này chắc cũng đã từng được hưởng hạnh phúc mái ấm gia đình.
Căn nhà cuối cùng của mỗi người nữa. Hình như ai đó đang xây những lăng tẩm không kém gì vua chúa thời xa xưa, để dọn bộ xương của mình vào. Nhưng lại có những người từ chối cả một nấm mồ. Họ muốn rắc tro than mình lên núi hay thả vào lòng biển. Họ chọn ngôi nhà cuối cùng không có mái, không có bốn vách tường, để linh hồn được tự do tan biến vào thiên nhiên.
Nhưng ai biết được ngôi nhà cuối cùng của mình đã sở hữu trước có bảo đảm là mình được dọn vào hay không? Thiên tai có thể quét sạch, san bằng lăng tẩm đã xây. Chiến tranh có thể đẩy ta sang sinh sống ở một phần đất của quốc gia khác.
Thôi thì hãy đặt đời ta sống, chết, trong võng gió của Thượng Đế.
Một người lính thi sĩ đã viết xuống một bài thơ về những ngôi nhà và chiến tranh như sau.

Ở những ngôi nhà này
không còn gì cả
ngoài những mảnh vụn ký ức


Những người đã từng trò chuyện với tôi
không một ai sót lại


Nhưng trong trái tim tôi 
Không một thánh giá của ai rơi mất


Trái tim tôi
chứa những nỗi thống khổ tràn đầy. ./.


Read More..

1 thg 1, 2014

Happy New Year 2014.





Read More..

Sống Tử Tế! - Lời chúc năm mới.

Bình Lê

  
ĐBT: Năm 2014 đã đến. Đăng bài này trước hết là để nhắc nhở mình và con cái, sau nữa là lời chúc năm mới gửi đến mọi người.

Ảnh bên:hãy làm một việc tốt và không gây hại cho người khác để sống là người tử tế


Năm 2013 là một năm bấn loạn của xã hội Việt Nam. Những sự việc làm đau lòng như bảo mẫu đánh trẻ em, án oan sai do ép cung ông Nguyễn Thanh Chấn, xả lũ theo quy trình gây thiệt hại kinh tế và chết người ở miền Trung, phi tang xác khách hàng sau khi gây tai nạn ở thẩm mỹ viện Cát Tường. Có lẽ, một trong những điểm chung của các vụ việc này là sự thiếu vắng của giá trị sống nhân văn. Nói cách khác, chúng ta đã sống không tử tế với nhau.

Năm 2014 đã đến, hy vọng con người Việt Nam sống tử tế với chính bản thân mình, gia đình mình, bạn bè, hàng xóm và với những người xung quanh mình hơn. Điều này nghe có vẻ khó vì chúng ta đang sống trong một môi trường ô nhiễm về mọi mặt. Nhưng môi trường này do chính chúng ta tạo ra nên hãy thay đổi nó từ chính mỗi người.

Sống tử tế, trước hết là sống thật với chính bản thân mình, làm những điều mình cho là đúng và nói những điều mình suy nghĩ. Như đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy đã nói, tạo hóa cho mỗi người một cái mồm để nói điều mình nghĩ, chứ không phải để nói điều “thằng khác” nghĩ. Nếu chúng ta mãi nói dối, tôn vinh những giá trị ảo và không thật thì chúng ta góp phần vào duy trì những điều dối trá và tệ hại trong xã hội. Để cuối đời khi gần đất xa trời mới thấy hận vì mình không dám sống thật là mình. Như vậy, hơn lúc nào như lúc này, hãy khởi đầu việc sống tử tế bằng cách nói những điều thật lòng.

Sống tử tế là bao dung với những điều khác biệt trong xã hội. Bao dung và tôn trọng những khác biệt chính là tạo môi trường cho những sáng tạo và đột phá, vì chẳng có sự phát triển nào không cần những cái mới, chẳng giải pháp nào cho vấn đề hiện tại dựa được vào lối suy nghĩ cũ như Albert Einstein đã nói. Nếu kỳ thị, chối bỏ hoặc trừng phạt người khác vì họ nghĩ không giống mình, quan điểm khác mình thì vô hình chung đã vi phạm giá trị đạo đức. Con người chẳng ai giống ai và con người có quyền được là chính mình, đó cũng là sự đa dạng tự nhiên và cần thiết để xã hội phát triển.

Sống tử tế là tôn trọng con người, không sử dụng con người để phục vụ cho lợi ích của mình, dù đó là lợi ích cá nhân hay tập thể. Việc hy sinh cá nhân để phục vụ quyền lợi của tập thể chỉ là ngụy biện vì đã là con người thì không thể hy sinh để phục vụ cho người khác, đặc biệt, khi những quyền lợi tập thể thật mơ hồ, nhiều khi đánh đồng với quyền lợi một nhóm nhỏ thâu tóm quyền lực hơn là quảng đại quần chúng. Chính vì vậy, sống tử tế là tôn trọng quyền con người, coi mỗi người đều là bình đẳng, lợi ích phải được tôn trọng và bảo vệ như nhau.

Sống tử tế cũng là đứng đúng chỗ của mình trong xã hội. Công an giao thông đứng ở trên bục để điều hành dòng xe thông suốt, hơn là đứng khuất sau ngã tư để rình bắt người vi phạm. Giáo viên đứng trên bục giảng ở trường để truyền cảm hứng học hỏi, hơn là tập trung dậy thêm ở nhà kiếm tiền. Bác sĩ đứng đúng chỗ của mình là bên giường bệnh, chứ không phải ở quầy dược phẩm để kê đơn lấy tiền hoa hồng của hãng dược. Mỗi người làm tròn bổn phận của mình, đỗi đãi đúng mực với người khác thì cũng đồng nghĩa mình được đối xử tử tế bởi người khác.

Sống tử tế, suy cho cùng là sống tự do theo cách mình mong muốn. Đừng để những khuôn mẫu, những bạo quyền, và nỗi sợ cướp đi nhân phẩm của mình. Tin là thấy, hãy tin vào bản chất tốt của con người, và con người có quyền đặt ra những nguyên tắc sống cho mình. Hãy bắt đầu bằng những nguyên tắc đơn giản nhất: không gây hại cho người khác để thanh thản nói rằng “tôi là người tử tế!”.

Read More..

24 thg 12, 2013

Phải đợi chờ Godot thôi.

Đinh Bá Tuấn

Những ngày cuối năm 2013 thật nặng nề. Miền Bắc vào những ngày rét đậm, rét hại, rét tới tím tái. Miền Nam, trời âm u như chưa bao giờ âm u đến thế. Cả bầu trời xám xịt như những tảng chì, sẵn sàng sập xuống đè nát mọi sinh linh trên mặt đất. Những tin tức về xã hội, kinh tế chẳng có gì sáng sủa hơn. Một chấm buồn.

Điện cho bà Bác, năm nay ngoài tám mươi. Bà than: Đời buồn quá! Thằng con đang tuổi teen, đi học về, chả biết bức xúc gì ở lớp học, than: Chán đời quá! Ra đường, rặt những khuôn mặt, hình hài chỉ muốn lao vào thịt sống lẫn nhau. Nơi làm việc những khuôn mặt nhợt nhạt, những nụ cười lả giả. Xem báo giấy, bật báo mạng, rặt những lừa lọc, anh em lừa nhau, trò lừa thày, giết người tràn lan. Nhân cách mỏng, mạng người Việt cũng ngày một mỏng.

Con gái ở Úc điện về, kêu như cháy nhà. Nó nói, tiền nhà, tiền điện nước bên này sắp tăng từ một đến hai phần trăm. Mình tưởng nghe nhầm, hỏi lại: Bao nhiêu phần trăm? Nó nói lại đúng vậy. Mình nói, mày mới đi chưa đầy năm mà đã quên Việt nam rồi à. Năm nay, tiền điện, nước mẹ mày phải trả thêm cả mấy số 0 đằng sau mà tao có thấy mẹ mày kêu ca gì đâu.

Ừ nhỉ? Thế mới thấy cái "ưu việt" đầy khốn nạn của bất cứ chế độ nào là phải làm cho con người ta tê liệt đi, mất đi ý thức phản kháng. 

Ngồi uống café với mấy bạn già. Chuyện tào lao, chuyện thế sự, rồi đến chuyện sống chậm. Rồi lại phản biện. Sống chậm mà làm gì? Nhìn những thứ xung quanh, những người xung quanh, vẫn thấy một ngày như mọi ngày, thậm chí tồi tệ hơn. Ông bạn nhà văn nói khôi hài: Thôi, sống chậm để “đợi chờ Godot”.

Ừ nhỉ, phải “ Đợi chờ Godot” thôi.

“ Đợi chờ Godot” là vở kịch của Sumuel Beckett- nhà văn người Ireland, đoạt giải Nobel văn học. Tác phẩm nói về hai người đàn ông cả đời chờ đợi một nhân vật tưởng tượng là Godot (chơi chữ, God: chúa trời). Tác phẩm dùng cốt truyện không kịch, để nói lên một điều, nhân loại luôn có những ảo tưởng vô vọng, luôn chờ đợi một cách mù quáng và sự vô nghĩa của đợi chờ…

 Xét theo tiêu chí ấy, có lẽ rất nhiều, nhiều lắm đấy, người Việt chúng ta đang  mòn mỏi đợi chờ Godot.

Cũng là tốt thôi! Đợi chờ, hy vọng để mà sống tiếp, dù là hy vọng hão huyền.

Và, tất cả phải chờ thôi, phải hy vọng vào năm 2014 và những năm tiếp theo thôi! 

Phải Đợi chờ Godot thôi!


                                                       Vũng Tàu, Noel 2013
Read More..

20 thg 12, 2013

Ra đi hay ở lại?

Alan Phan
 
“Bạn có con đường của bạn. Tôi có con đường của tôi. Còn con đường phải, con đường đúng, con đường duy nhất…nó không tồn tại. You have your way. I have my way. As for the right way, the correct way, and the only way, it does not exist.” ― Friedrich Nietzsche
 
Tôi vừa về lại Việt Nam. Sau một thời gian dài ở Âu Mỹ, mình phải tập thích ứng lại với môi trường nơi đây, dù thú vị nhưng khá khó khăn cho mọi giác quan.


Buổi sáng ngủ dậy không còn lười biếng nằm nghe chim hót trong khu vườn nhỏ thưởng lơ thơ vài cọng nắng sớm. Thay vào đó là những âm thanh chát chúa của xe tải, còi xe, tiếng gọi nhau của nhóm tài xế, nhân công phía dưới đường. Hai buổi sáng, một loa phóng thanh chạy qua nhà, ồn ào về một buổi đại nhạc hội cuối tuần.

Cũng như mọi thành phố khác nơi Âu Mỹ, buổi sáng Saigon là một dòng chảy xiết của đoàn người lên đường vội vã tìm kế mưu sinh, quay cuồng trong cối xay của tha nhân và cơ chế. Cái khác biệt là một tư duy hơi rối loạn nơi đây, những hụt hẫng lo ngại về một tương lai không thể dự đoán. Nhưng tôi vẫn cười vỗ vai các bạn trẻ,” Hãy bình tâm. Tài sản lớn nhất của bạn vẫn là thời gian. Hãy chuẩn bị cho những gì sẽ đến, tốt hay xấu, lành hay dữ”.

Câu hỏi thường gặp trong những bắt tay chào hỏi ở các quán cà phê hay ngoài đường phố là,” Bác nghĩ thế nào về kinh tế VN trong 5 năm tới?”; “Bác khuyên cháu nên tìm đường ra đi hay bám trụ tại đây để chờ cơ hội/”…

Lại chuyện kinh tế vĩ mô

Về kinh tế, tôi nói đi nói lại nhiều lần là không thể có một dự đoán chuẩn xác nào khi các số liệu dùng trong phân tích gần như hoàn toàn bố láo. Tuy nhiên, vài hiện tương có thể giúp nhận rõ xu hướng chung của kinh tế Việt Nam trong 5 năm sắp đến. Phân khúc FDI (đầu tư nước ngoài) sẽ tăng trưởng mạnh, và các công ty FDI sẽ tạo một khoảng cách càng ngày càng xa với các doanh nghiệp nội. TPP (Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương) có thể được Quốc hội Mỹ phê chuẩn vào cuối 2014, gây thêm nhiều cơ hội cho ngành may mặc, giầy dép, nội thất…Tuy nhiên, ở mặt trái, TPP sẽ đòi hỏi những điều chỉnh đáng kể cho các ngành nghề khác, và nếu doanh nghiệp nội không sẵn sàng, các công ty FDI sẽ lợi dụng TPP để tiếp tục hưởng lợi nhiều nhất.

Hai cơ hội trên có thể bị trật đường rầy vì hai yếu tố căn bản khác thể hiện hai rào cản khá lớn cho sự phát triển của một nền kinh tế thuần Việt. Thứ nhất là sự can thiệp thường trực của các định chế chánh phủ và doanh nghiệp nhà nước (DNNN) để bảo đảm vai trò chủ đạo kinh tế quốc gia. Đây là một gánh nặng mà ngay cả Tập Cận Bình cũng không giải quyết được khi tha thiết muốn cải tổ kinh tế Trung Quốc.

Thứ hai là tổng số lượng nợ xấu, nợ công và nợ DNNN. Tôi nghĩ ngay cả các chuyên gia hoạch định kinh tế quốc gia cũng không biết rõ con số này. Ước tính từ bên ngoài đưa ra một biên độ từ 150 tỷ USD đến 200 tỷ USD. Con số nào thì cũng nằm trong “top ten” của thế giới. Và mọi giải pháp cần một khoàng thời gian hơn 10 năm.

Vẫn là những yếu tố cá nhân

Tuy nhiên, tôi luôn tin rằng kinh tế vĩ mô ảnh hưởng rất ít đến những cơ hội tiềm tàng cho mỗi cá nhân. Đơn giản vì đây là một nền kinh tế “chưa cất cánh” và khi bắt đầu dưới đáy, con đường trước mặt chỉ có hướng đi lên. Sau khi ngủ đông suốt 75 năm, những năm vừa qua là khi Việt Nam thức giấc. Rất nhiều kỳ vọng từ người dân cũng như các nhà đầu tư ngoại. Tuy nhiên, sau vài năm bon chen tranh đấu, với quá nhiều lỗi lầm và một tư duy đầy ảo tưởng, con rồng Việt bị vấp té và có lẽ đang muốn quay ra ngủ tiếp thêm vài thập kỷ?

Khi nói đến yếu tố cá nhân, chúng ta phải công nhận sự đặc thù của từng trường hợp. Nhưng theo tôi, các thành phần sau đây có lẽ nên bám trụ để rút tỉa mọi quyền lộc đang được phân chia. Thu tóm cho nhiều vì có lẽ đây là những chuyến tàu chót từ một “bonanza” của thế kỷ.

Việt Nam đang là một thiên đường cho các “con ông cháu cha”, các “thái tử đen đỏ”, các “dại gia sân sau” của thế lực chính trị vì đây là một nền kinh tế dựa trên “quan hệ”. Khi sử dụng cả cơ chế để làm lợi thế cạnh tranh, thì ngay cả những công ty đa quốc bài bản nhất cũng phải chào thua.

Thứ hai là các cá nhân hay doanh nghiệp làm việc hay gia công cho khu vực FDI. Họ sẽ an tâm với sự tăng trưởng hàng năm của khu vực này. Một lợi điểm khác là sự học hỏi các kỹ năng, kinh nghiệm và quan hệ quốc tế từ các công ty FDI. Tôi luôn tin rằng đây là một quy trình đáng giá hơn cả các bằng cấp cao nhất từ những đại học đẳng cấp.

Sau cùng, trong suy thoái, các doanh nhân có thể khám phá ra nhiều giải pháp sáng tạo và cùng lúc, họ sẽ lĩnh hội một tinh thần năng động để tiếp tục bước tới. Huấn luyện dưới những điều kiện khắt khe đòi hỏi một kỷ luật trong kiên nhẫn và chắc chắn sẽ trở thành một kỹ năng cần thiết cho những cuộc khủng hoảng trong tương lai.

Dĩ nhiên có những bạn chọn cho mình một giải pháp nhẹ nhàng hơn. Ngay cả Tôn Tử cũng nhắc nhở là “tam thập lục kế vĩ đào di thượng”. Trong đời tôi, xấu hổ mà nói, tôi cũng đã nhiều lần bỏ chạy để bảo tồn sinh lực cho các trận đấu kế tiếp. Thực ra, chỉ có mình mới biết tính toán rõ rệt hết mọi tình thế để ra quyết định sau cùng.

Tôi không phải là anh hùng, siêu nhân hay bậc đại trí đại dũng nên tầm nhìn của tôi thường bị giới hạn, không như các đỉnh cao. Nhưng tôi hiểu một điều: quyết định nào của tôi cũng là một thể hiện tự do trong tư duy cá nhân dù nhiều khi bị rất nhiều ngăn trở và sai lầm. Phải can đảm vượt qua để sống đích thực với con người của mình.

Read More..

9 thg 11, 2013

Mồng 8 tháng 11, thứ sáu...



Bùi Ngọc Tấn 
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
ĐBT:"Thương ông Nguyễn Thanh Chấn(Bắc Giang) tù oan 10 năm quá. Và mong được như ông. Nhưng mình chẳng có ai tự thú cả...". Cay đắng. Thật cay đắng.
Ông Nguyễn Thanh Chấn, còn có tòa án kết tội (dù có sai). Còn ông hơn 5 năm ngồi tù, mà cho tới tận bây giờ không biết mình mắc tội gì. Không ai trả lời ông. Không cơ quan tổ chức nào trả lời ông: Vì sao ông bị bắt đi tù. Ông chính là Nhà văn Bùi Ngọc Tấn tác giả của Một thời đã mất, Rừng xưa xanh lá, Chuyện kể năm 2000... 
Lần vợ chồng ông vào Vũng Tàu, trên bè hào ở Long Sơn, ông nói với tôi:"Tuấn tuổi con chó à? Vậy là sau mình hai giáp. Ừ nhỉ, lại cùng vần T nữa. Đáng lẽ ra với  tên Tấn, đời mình phải suông sẻ hơn. Vậy mà...! Vì thế trong các truyện, mình thường lấy tên Tuấn, thêm một chữ u, u buồn".

 Già rồi, tôi chẳng mảy may chú ý đến ý nghĩa của từng ngày, những ngày thời trai trẻ thường mong mỏi như 1 tháng 5, 19 tháng 8, 2 tháng 9. Những ngày lễ trọng của dân tộc. Giờ đây quá mệt mỏi, với thời gian chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Sao nó đi nhanh thế. Đã 80 tuổi. Đã là một ông lão 80 già lụ khụ mặc dù từ đáy lòng không chịu công nhận cái thực tế phũ phàng tàn nhẫn ây.

Sáng nay trở dậy bóc lịch. Giật mình: 8 tháng 11. Lại cả thứ sáu nữa. Ba yếu tố trùng nhau. Thật hiếm hoi. Thứ sáu 8 tháng 11 năm 1968 tôi bị bắt. Đúng 45 năm. Không biết 45 năm có bao ngày thứ 6 trùng hợp cả ba yếu tố ấy nhỉ.

* Thứ sáu mồng 8 tháng 11 năm 1968 rét lắm. Không nóng như hôm nay. Đọc lệnh, khám nhà xong khoảng 10 giờ. Vào Trần Phú với cái bụng đói. Khoảng nửa giờ sau, từ xà lim ra nhận suất cơm đặt ngay dưới đất, nguội ngắt, nước uống trong bô sắt han rỉ, không sao nuốt được.

* 7 ngày trước, 1 thang 11, cũng thứ sáu, tình cờ mở tivi, nghe tin ông Trần Đông, nguyên giám đốc công an thành phố Hải Phòng, người hạ lệnh (khác với ký lệnh) bắt tôi, đã từ trần. Ông là thứ trưởng bộ Công an, suýt nữa lên bộ trưởng. Báo Nhân Dân đã đưa tin và ảnh ông dưới măng sét: “Đồng chí Trần Đông thăm trụ sở Bộ Biên Tập báo Nhân Dân.” Một kiểu đưa tin dọn đường dư luận. Ai cũng hiểu ông sẽ lên bộ trưởng. Nhưng rồi ông phải chuyển sang làm thứ trưởng bộ Tư Pháp.

Người ta nói rằng ông đã dám vuốt râu …Lê Đức Thọ! Thật may cho tôi cái cú vuốt râu ấy của ông. Chứ không đời tôi biết ra sao?

Ông đã qua đời. Dù không muốn, tôi cũng phải buộc lòng có mấy nhận xét về ông:

-Biết bắt tôi là sai, ông cho tôi đi tập trung cải tạo. Tạm công nhận là được đi vì bắt người dễ, tha người khó. Nhưng sao ông lại đuổi vợ tôi khỏi trường đại học? Khi ông Hoàng Hữu Nhân xếp việc làm cho tôi, sao ông lại kiên quyết chống lại? Rõ ràng ông định tận diệt tôi.

* Sáng nay, 8 tháng 11 lại là ngày Luật Pháp đầu tiên của nước ta, để mọi người thượng tôn pháp luật, tất cả cùng sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Cái khẩu hiệu Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật nàyông Trần Đông đã cho căng đỏ rực đường phố Hải Phòng từ mấy chục năm nay rồi. Tôi cũng đã biết nó là thế nào rồi. Trong tủ của tôi có hơn chục ki lô đơn, kêu đủ cả các Bộ (không có Bộ Binh Bộ Hộ Bộ Hinh đâu nhé). Lần gần nhất là trực tiếp gặp ông Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân tối cao!!!!!! Và thuộc cả tên bà chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật của Quốc Hội Lê Thị Thu Ba!!

Tôi không hiểu sao luật pháp không được thực thi mà có lắm bộ, Viện, ngành liên quan thế????

* Thương ông Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang) tù oan 10 năm quá. Và mong được như ông. Nhưng mình chẳng có ai tự thú cả. Mình đã tự thú bằng tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000. Người ta bỏ tù tiếp bản tự thú của mình. Giá ông Trần Đông tự thú thì tốt. Nhưng ông ấy chết rồi.

* Ngày bị bắt 35 tuổi. Nay 80 tuổi kỷ niệm 45 năm ngày bị bắt. Chả thấy gì khác. Cố sống 5 năm nữa, đến năm 85, kỷ niệm tròn 50 năm ngày bị bắt, xem có gì mới không? Chắc không. Bởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói hết thế kỷ 21 chưa xây dựng xong chủ nghĩa xã hội cơ mà.

* Ông Nguyễn Ngọc Giao (Pháp) bình về Truyện ngắn Người Chăn Kiến của mình khá quá: Cái vòng tròn ấy không giữ nổi mấy con kiến nhưng giam trọn một đời người. Không nhớ nguyên văn. Đại ý là như vậy.

Read More..

2 thg 11, 2013

Bài trả lời phỏng vấn báo Tiền phong của nhà văn Trần Đức Tiến.

Xóa hội văn nghệ địa phương cũng được, nhưng…'
TP - Câu chuyện bi hài ở các hội văn nghệ địa phương, và không chỉ có thế - của nhà văn Trần Đức Tiến, Ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhà văn Trần Đức Tiến: “Để hội văn nghệ địa phương tồn tại thì nghĩ tiếc tiền. Nhưng nói trộm vía, nếu xóa nó đi thì có lẽ phải xóa khối thứ khác!”
Nhà văn Trần Đức Tiến: “Để hội văn nghệ địa phương tồn tại thì nghĩ tiếc tiền. Nhưng nói trộm vía, nếu xóa nó đi thì có lẽ phải xóa khối thứ khác!”.
Anh có quan tâm vụ nhà thơ Đăng Hạ “Chủ tịch Câu lạc bộ Sáng tác Văn học Nghệ thuật Việt Nam” làm mưa làm gió ở các địa phương thời gian qua? Nào lập hơn 30 CLB sáng tác, kết nạp 4 nghìn hội viên, ban phát bằng khen người “có công lao đối với sự nghiệp VHNT Việt Nam”, thu tiền vô tội vạ …
Có chuyện này một phần cũng bởi phong trào nhà nhà làm thơ người người làm thơ, dẫn đến tình trạng “ta nhất định thắng thơ nhất định thua” như có người đã khái quát? Và tại tâm lý muốn “có danh gì với núi sông” của con người ta?
Tôi quan tâm quá đi chứ, vụ lùm xùm của ông chủ tịch cái câu lạc bộ văn thơ gì đó. Do thói quen của 20 năm công tác ở một hội VHNT địa phương. Ô, nói thật, với những kiểu làm ăn như của “me xừ” Đăng Hạ, thì tỉnh lẻ là mảnh đất màu mỡ lắm.
Phải nói thế này cho công bằng: Mê thơ, mê làm thơ không phải là một cái tội. Cùng lắm cũng chỉ như mê một số thứ khác thôi! Như mê đồ cổ, mê sưu tầm các loại xe máy đồng hồ, mê chim hoa cá gái… Nhưng mê đến độ không còn giữ được sự tỉnh táo cần thiết nữa, thì có thể dẫn đến nhiều hệ lụy.
Chẳng hạn, sao cứ nhất thiết phải trở thành hội viên của một hội thơ văn nào đó? Sao cứ nhất thiết phải in cho mình tập thơ bìa cứng, giấy tốt, đứng tên một nhà xuất bản hoành tráng mới… thỏa mãn bần cố nông? Mà sách in ra có phải nhiều nhặn gì đâu, chỉ vài ba trăm cuốn để phân phát cho bạn bè, người thân. Nhưng thế cũng đủ mất toi năm, bảy tháng lương hưu. Hoặc “cấu” vào tiền cơm, tiền sữa của con, cháu. Không đủ “lực” in sách thì cố chạy để in vài ba bài cùng cái ảnh chân dung thật oách vào một tuyển tập giời ơi đất hỡi! Rồi đôn đáo chạy đông chạy tây, gửi hồ sơ, điện thoại đi khắp nơi để xin vào hội này hội nọ…
Vào hội địa phương đã khó. Hội trung ương càng khó. Bây giờ tự nhiên lại có một hội, “trung ương” hẳn hoi, mở cửa với những điều kiện mềm hơn, người ta không nhảy vào lao xao như tép tươi mới lạ. Đấy, tôi nói “màu mỡ” là ở chỗ đấy. Những anh như anh Đăng Hạ người ta tinh lắm. Ngửi ra “hơi đồng”, ngửi ra mùi lời lãi ngay.
Mà trong thực tế, không chỉ có Đăng Hạ. Mới năm ngoái, con dâu tôi làm việc ở phòng văn hóa thành phố về mách: Có một hội VHNT gì đó ngoài Hà Nội đang xin đất xây chi nhánh ở Vũng Tàu. Tôi giật mình, Hội Nhà văn à? Hay Liên hiệp các hội VHNT? Nhưng mà chi chánh chi nhiếc gì ở đây mà mình không biết nhỉ? Cháu bảo: Công văn xin đất có dấu đỏ hẳn hoi! Cháu cầm cái công văn kia về. Hóa ra là của một đơn vị trực thuộc hội X ở Hà Nội. Dấu đỏ choét thật, nhưng là dấu bầu dục! Thế, dù là bầu dục, nhưng người ta đã được phép lập hội này câu lạc bộ kia, thì người ta phải hoạt động. Nhiều bố ở địa phương u u minh minh, không phân biệt được đầu cua tai nheo, ăn quả nhầm là chắc.
 Hội Nhà văn Việt Nam có vẻ không còn độc quyền về mặt hành chính đối với tình hình văn nghệ địa phương. Trong ảnh là giấy mời dự ra mắt một trong ba chục CLB trực thuộc “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam”.
Hội Nhà văn Việt Nam có vẻ không còn độc quyền về mặt hành chính đối với tình hình văn nghệ địa phương. Trong ảnh là giấy mời dự ra mắt một trong ba chục CLB trực thuộc “Câu lạc bộ sáng tác VHNT Việt Nam”.
Nhân chuyện anh kể, nhớ lại, nhiều năm trước đã có ý kiến cho rằng các hội văn nghệ địa phương rất nhiều vấn đề? Và cũng có người phản biện giùm “sếp” Đăng Hạ rằng đấy là cuộc kinh doanh chân chính- có cung có cầu, chả nhẽ chỉ Hội Nhà văn “quốc doanh” độc quyền chi phối làng văn nghệ.
Đúng là khoảng chục năm trước, báo chí từng đặt ra vấn đề các hội VHNT địa phương “tồn tại hay không tồn tại”? Lúc ấy tôi đang làm ở hội Vũng Tàu. Nhiều ý kiến xác đáng quá, khiến mình phải nghĩ. Báo chí đặt vấn đề, các cấp có thẩm quyền chưa ai bảo xóa, nhưng thực tế thì Chính phủ từng có những thông tư, nghị định, nêu rõ đến năm này năm nọ sẽ ngừng cấp kinh phí cho các hội văn nghệ địa phương. Biên chế cán bộ cho các hội này cũng chỉ có “teo” lại, chứ dứt khoát không “phình” ra nữa.
Rồi mọi chuyện lại êm xuôi, cho đến tận hôm nay. Tranh cãi chuyện hiệu quả hay không rất khó. Anh thì bảo: Một năm tôi làm được vài cuộc triển lãm tranh ảnh, mở một trại sáng tác, in dăm ba cuốn sách, tổ chức vài đợt đi thực tế… cho hội viên, thế là hiệu quả. Anh khác bảo: Triển lãm cho ma nó xem! (vì vắng như chùa bà đanh), trại sáng tác chủ yếu để các bác hội viên đến nghỉ dưỡng; in sách thì phát không cho hội viên, còn lại chất đống trong văn phòng; đi thực tế thực chất là đi tham quan những nơi lạ, tổ chức gặp gỡ bù khú với đồng nghiệp… Thế mà là hiệu quả à? Nói tóm lại, “hệ quy chiếu” để nhìn nhận hiệu quả khác nhau, nên không thể phân định phải quấy với nhau được.
Riêng tôi, nếu được hỏi ý kiến, tôi sẽ nói: Nghĩ đi thì thấy tiếc tiền. Tiền triệu, tiền tỷ hẳn hoi. Nhưng nghĩ lại, nói trộm vía: Nếu xóa hội văn nghệ ở địa phương đi thì có lẽ những thứ không hiệu quả khác phải xóa trước!
Ngày trước Nguyễn Huy Thiệp trong một tiểu luận, có ý chế giễu “đám giặc già lăng nhăng thơ phú”, bị phản ứng cũng nhiều, rằng “chúng ta ai rồi cũng đến lúc già, kể cả ông Thiệp. Các cây bút cao tuổi mà còn cặm cụi lao động chạy đua với lớp trẻ thì tốt quá chứ, đáng kính trọng gấp hai lần. Hà cớ gì lại tẩy chay những người cầm bút đáng thương của kiếp cầm bút chúng ta”. Anh nghiêng về quan điểm nào?
Một câu của ông Thiệp không hiểu sao lập tức gợi ra trong đầu tôi hình ảnh của nhiều người. Rồi sau này, ở chỗ này chỗ khác, thấy sự hiện diện của nhiều người, tôi lại phì cười vì chợt nhớ ra một câu ấy!
Con số hàng tỷ đồng kinh phí chi cho các hội địa phương mỗi năm, rồi thường xuyên tổ chức trại sáng tác, in sách hội viên… có lẽ là hình thức ưu đãi, nâng đỡ một giới thường được hình dung là khá “hoàn cảnh”. Tuy vậy ở bên ngoài nhìn vào, như nhà văn hải ngoại Phạm Thị Hoài hàng chục năm trước, thấy: “Người viết văn trong nước sống sướng quá - được nhà nước, xã hội cưng chiều. Ở nước ngoài khó khăn khổ sở hơn rất nhiều”.
Nghe thế có vẻ như nhà văn ta sắp giàu to! Hoặc chí ít cũng có bát ăn bát để, nhờ vào đồng tài trợ của Nhà nước.
Thực tế không phải thế. Ở hội địa phương, mỗi năm nhận tài trợ từ nhà nước hàng trăm triệu, hàng tỷ thật (hội nhỏ như hội Vũng Tàu cũng khoảng trên dưới 500 triệu đồng, còn nghe nói một số hội lớn thì một vài tỷ). Nhưng tiền này phần lớn để chi vào các hoạt động chung của hội viên. Tài trợ cho cá nhân (để sáng tác, công bố tác phẩm) chỉ được mươi, mười lăm suất, mỗi suất chục triệu là nhiều. Hàng trăm hội viên, xoay cho hết vòng thì cũng phải năm, bảy năm mới đến lượt. Đa số nhà văn vẫn nghèo. Họ vẫn phải thường xuyên “chiến đấu” vã mồ hôi để nuôi vợ nuôi con đấy. Viết văn thì nhuận bút quá thấp. Phải xoay ra viết báo, viết kịch bản phim… Thậm chí có người phải làm nhiều việc không dính dáng gì tới viết lách.
Nói thế, nhưng thực tâm tôi vẫn thích coi văn chương là một nghề, như tất cả nghề khác. Phải có tài, phải chuyên nghiệp, phải sống được bằng chính cái nghề đó thì hãy làm. Còn nếu bất tài thì phải mau tìm cách bán xới đi mà làm nghề khác chứ?
Nhưng nhiều ông văn nghệ sĩ lại không nghĩ thế. Có cái mác “nhà” này “nhà” kia rồi là nghĩ ngay đến việc bám vú nhà nước. Tôi làm ở hội địa phương, có ông họa sĩ dọa: Không tài trợ cho ông, ông ứ vẽ nữa, ông đi bán phở! Tôi bảo: Tốt quá, nhà ông mặt tiền, ông mở quán đi là vừa, cho vợ con đỡ khổ, chứ tranh ông vẽ ra cứ chất đống trong bếp thế thì vẽ làm gì.
Vú nhà nước nhẽo lắm, ít sữa lắm, nhưng nhiều văn nghệ sĩ vẫn thích bám chằng vào là có thật.
Nghe thật cám cảnh. Song các “vĩ nhân tỉnh lẻ”- thứ đặc sản địa phương này, nếu là đặc sản thật, làm cho vùng đất đó thêm đáng nhớ. Ngày xưa trong bài ký “Nhan sắc phố phường” tôi cũng từng viết rằng “Các nhan sắc nổi tiếng của phố phường Hà Nội rồi phôi pha như lẽ tự nhiên nhưng không có họ, phố phường khá tẻ, như tỉnh lẻ mà thiếu vĩ nhân”.
Tuy nhiên một khi đã là đặc sản địa phương thật, thì chẳng cần hội đoàn vẫn có giá? Gần đây tôi đọc cuốn “Bãi vàng, đá quý, trầm hương” của Nguyễn Trí một người chưa bao giờ là nhà văn, trải qua đủ nghề mưu sinh nhọc nhằn trong đó có đào vàng. Nhưng ông viết truyện ngắn đầy trải đời và ngồn ngộn chất liệu sống. Đó, đâu cần phải hội đoàn nào mới làm nên chuyện?
Tôi biết có ông nhà thơ ở tỉnh, in xong tập thơ đi đâu cũng khoe: Tôi được nhà nước đầu tư chục triệu để in tập này. Cả năm nay chỉ có anh Nguyễn Khải và tôi được thôi. Anh Khải viết văn xuôi thì được nhiều hơn (hồi ấy Nguyễn Khải chưa mất). Đến nhà in, ông khoe với anh “cò” (thợ sửa mo-rat) rằng tập thơ của ông phải in thêm 5.000 cuốn để gửi ra nước ngoài cho bà con Việt kiều!... Đại khái cứ dựng đứng lên như thế. Khoe đi khoe lại mãi, thản nhiên, trơn tru đến mức mình cảm thấy ông ta tin thế thật, và khối người tin theo. Những “vĩ nhân” như thế thì đương nhiên phải gắn bó với hội rồi.
Họ cũng là “đặc sản” của địa phương chứ, theo một nghĩa nào đó.
Anh thấy sao về dự kiến đề nghị UNESCO công nhận thơ lục bát là quốc thi?
Tôi thấy mâm bát. Cứ đà này thì không biết đến bao giờ mới đủ cỗ nhỉ? Chị lại làm tôi sực nhớ đến câu nói lúc nãy của ông Nguyễn Huy Thiệp đấy. Hi hi.
Nhà văn Trần Đức Tiến, ủy viên BCH Hội Nhà văn VN, nguyên Chủ tịch Hội VHNT Bà Rịa-Vũng Tàu (1998-2007).
Tác phẩm: Tiểu thuyết Giờ của quỷ, Bụi trần. Tập truyện ngắn Bão đêm, Mười lăm năm mưa xói, Tuyệt đối yên tĩnh, Lỏng và tuột. Nhiều tập truyện cho thiếu nhi.
Giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam (2004), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2010) và nhiều giải thưởng khác.

DƯƠNG PHƯƠNG VINH

Read More..

16 thg 10, 2013

"Lãnh tụ vĩ đại" tỷ lệ thuận với đói nghèo và lạc hậu.


Nhật Tuấn                                       4

 Có mối liên hệ tỉ lệ thuận giữa “lãnh tụ vĩ đại” với đói nghèo và lạc hậu?” từ thực tế rồi suy ngẫm quả là đúng thật. Trộm nghĩ, những nước này mà có thêm “thiên tài quân sự” nữa thì đúng là bỏ mẹ dân. Không biết nó có còn tỷ lệ thuận với đói nghèo và lạc hậu đến đâu,hay nó như mũi tên vút lao xuống âm phủ?”.

Mình thấy những nước đang có hoặc đã từng có các “lãnh tụ vĩ đại” thường là những nước đói nghèo và lạc hậu so với những nước không có “lãnh tụ vĩ đại”. Những nước càng có nhiều “lãnh tụ vĩ đại” thì càng đói nghèo và lạc hậu.

Bắc Triều Tiên có tới 3 “lãnh tụ vĩ đại” là Kim Il-sung (Kim Nhật Thành), Kim Jong-il (Kim Chính Nhật) và Kim Jong-un (Kim Chính Ân). Năm 2012, GDP bình quân đầu người (GDP per capita) ở Bắc Triều Tiên là $783, so với Nam Triều Tiên không có “lãnh tụ vĩ đại” nào, có GDP per capita là $22.590.

Những nước giàu có và văn minh không có “lãnh tụ vĩ đại” như Luxembourg có GDP bình quân đầu người trong năm 2012 là: $107.476; Na-uy: $99.558; Thụy sĩ: $79.052; Thụy Điển: $55.245, Úc: $67.036; Canada: $52.219; Mỹ: $49.965; Đan Mạch: $56.210; Nhật: $46.720…
Trẻ em nước Triều Tiên
Trẻ em nước Triều Tiên

Những nước đang có hoặc đã từng có các “lãnh tụ vĩ đại” thường là những nước nghèo, chẳng hạn như Trung Quốc có “Mao Chủ tịch vĩ đại”, có GDP bình quân đầu người trong năm 2012 là $6.188; Cuba có “lãnh tụ vĩ đại” Fidel Castro, có GDP per capita năm 2012 là $9.900, Liên bang Nga, trước là Liên Xô, có “lãnh tụ vĩ đại” là Lenin, Stalin… có GDP per capita năm 2012 là $14.037.

Cũng có những nước đói nghèo và lạc hậu, có GDP per capita thấp, mặc dù không có các “lãnh tụ vĩ đại”, nhưng những nước hiện có hoặc đã từng có các “lãnh tụ vĩ đại” và người dân đang tôn thờ các “lãnh tụ” ấy, thì chưa từng có nước nào giàu có hay văn minh, tiến bộ.

(Các số liệu trên lấy từ nguồn WordBank, CIA World Factbook, IMF và LHQ)
Read More..

11 thg 10, 2013

Lối kiêu hãnh ngược của nhiều người Việt.

Nguyễn Hoàng Đức

Một dân tộc sẽ không thể nào phát triển nếu không có đường xá giao thông đi lại. Điều này đã rất rõ ràng khi chủ nghĩa thực dân vào châu Á, Trung Quốc rồi Việt Nam, với đường hỏa xa được xây dựng đã tạo ra một sự phát triển nhảy vọt. Rồi đường quốc lộ, liên tỉnh, liên huyện được nối liền đã tạo ra một khuôn mặt thông thương phát triển cho quốc gia từ thành phố đến thôn quê.

Con đường là của chung, bởi vì nó nối từ nơi nọ đến nơi kia thì mới là đường. Nhưng không chỉ có vậy, con đường chung đó còn là biểu hiện của công lý, vì người ta chỉ có thể lưu thông khi tuân thủ các qui tắc giao thông, chứ không thể ai muốn đi thế nào thì đi. Từ chuyện con đường là tất yếu, chúng ta buộc phải học một bài học tất yếu:

- Không có đường thì không thể lưu thông phát triển quốc gia.

- Không có công lý chung thì vạn sự không thể vận hành, đơn giản vì công lý là qui tắc chung để cùng lưu thông trên những con đường.

- Chỉ khi sống theo công lý, con người mới là chủ nhân tự do đi trên con đường của mình làm ra cũng như tham gia vào với mọi người. Đơn giản vì nếu là nô lệ thì bắt bò phải bò, cho đi mới được đi.

Đã có rất nhiều quốc gia sau khi giành độc lập nhưng không thể nào phát triển bởi lẽ người ta đã không sống tự giác với công lý, người ta vẫn chỉ coi quốc gia và hiến pháp quốc gia như một cái làng “phép vua thua lệ làng”. Có rất nhiều nơi, và nhiều hoàn cảnh, khi ông chủ giải phóng cho nô lệ, ít ngày sau, nhiều nô lệ quay lại và bảo “xin cho chúng tôi được quay lại làm người ở, vì khi được tự do chúng tôi chẳng biết làm gì. Giờ chúng tôi về đây để ông bà chủ nghĩ việc sai chúng tôi làm”.

Muốn sống tự do khó lắm, vì đó là một phẩm chất của tinh thần. Điều này đã được thánh Gandhi dạy dân tộc Ấn Độ vào thời điểm cuối của cuộc cách mạng “Bất bạo động”. Gandhi nói: “Vấn đề không phải ở chỗ giành độc lập cho Ấn Độ, mà là chúng ta phải có đủ phẩm chất để sống trong độc lập”. Vấn đề này cũng đã được lãnh tụ Tôn Trung Sơn dạy dân tộc Trung Quốc: “Người Trung Quốc chỉ biết đến tông tộc và gia tộc mà không biết đến Quốc tộc. 400 triệu nhân dân Trung Quốc (đầu thế kỷ 20) chỉ là một bãi cát rời rạc”. Một dân tộc chỉ biết đến gia tộc thì có khác nào chỉ có đường đi trong nhà. Lại không có Quốc tộc thì là không có đường quốc lộ cũng như công lý nên dù có đông thì cũng chỉ là bãi cát rời rạc.

Người Việt cũng xác định vai trò của ông chủ “một người lo bằng một kho người làm”. Người lo, tức là người nghĩ bằng óc đó. Còn người làm tức là tay chân. Nếu óc không có đủ phẩm chất để lo, thì chỉ có thể làm việc tay chân của nô bộc thôi. Người Việt cũng bảo:

  Ông chủ ngồi trên sập vàng
              Cả ăn cả mặc cả làm cả lo
            Thằng bếp ngồi dưới xó tro
             Ít ăn ít mặc ít lo ít làm


Thi sĩ Tản Đà thì nói toẹt ra, một dân tộc không có công lý của đường quốc lộ, không trưởng thành như bộ não thì chỉ là thứ tay chân nô bộc:

 Dân hai nhăm triệu ai người lớn
             Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Đấy vẫn là nói xa, gần hơn, các chuyên gia nước ngoài nói “Xã hội của những kẻ nô lệ dù có được trả tự do vẫn là xã hội vô trật tự, hỗn loạn, và đổ nát”. Rồi người ta còn chỉ ra hàng loạt thí dụ về các nước được trả độc lập nhưng vẫn nghèo nàn lạc hậu. Tại sao vậy? Vì xã hội nô lệ không có thói quen chịu nghĩ bằng đầu.

Người Việt thì sao? Rõ ràng hiện nay trong bảng xếp hạng chúng ta đang ở cuối thế giới và cuối châu Á. Thậm chí, theo nhiều đánh giá phải mất cả thế kỷ nữa chúng ta mới có thể đuổi kịp nước trung bình khá ở châu Á. Lý do tại sao? Ở đời, người ta khôn hơn người, giầu hơn người, đẹp hơn người mới tự hào, đằng này rất nhiều người Việt có kiểu tự hào ngược, theo kiểu: “Bố mày đang ngồi bệt đất đây, có ngã cũng chỉ ngã xuống đất, bố đếch sợ thằng nào”. Trong này tôi gặp không ít người trí thức, cái gì họ cũng tham gia vào. Ở đời không ai giỏi mọi thứ, đó là điều chắc chắn. Người Việt nói “biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe”. Có không ít người trí thức, chuyện gì họ cũng nhảy xổ vào, dùng mỗi một khẩu quyết “tôi đếch cần biết cho dù những vĩ nhân trên đời…” tóm lại người ta tìm cách chiến thắng bằng cơ bắp “cưỡng từ đoạt lý”. Xu hướng kêu căng nhờ sự thấp hèn còn được người Việt thể hiện qua phương ngôn “Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền”. Đã ngu dốt thì chỉ làm tớ cho đời, sao mà lắm tiền được? Việc này cũng chỉ thấy ở người Việt chăng? 

Còn có một ca dao chính thức hơn:
Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rông
Nhất nông nhì sĩ

Đây là câu chắc lấy ý của Trung Quốc “Dĩ thực vi thiên” – lấy gạo làm trời. Đem cái dạ dầy “giá áo túi cơm” đặt cao hơn não và chữ nghĩa thì bao gời mới khá? Việc nhờ cậy vào cái thấp, cái dốt khiến người châu Á cả mấy nghìn năm không phát triển được. Lãnh tụ Tôn Trung Sơn nói: “Trung Quốc cả mấy nghìn năm chỉ có đánh nhau giàng đất, ngôi báu, và đàn bà, mà không có đấu tranh về tư tưởng, tự do và tôn giáo”. Cụ thể, trong triều đình mỗi khi có việc gấp, hỏi đám quan lại chỉ nghe thấy câu của nô lệ cao cấp “Bệ hạ sáng suốt, thần gan óc lầy đất không dám”. Tóm lại đó là cách đổ trách nhiệm cho bệ hạ mà mình ăn lộc bấy lâu lầu son gác tía quan lại oai phong đến khi được hỏi thì lại chỉ là nô tài tuyệt đối.

Một dân tộc trưởng thành là phải bằng óc. Óc sinh tư tưởng! Tư tưởng sinh lý luận! Một dân tộc chỉ có mấy câu thơ cảm xúc vần vèo thì chỉ yếu ớt và mãi mãi chịu kiếp nô tài. Trung Quốc là quốc gia thơ từ thời Đường mà họ còn bỏ thì mới mong gặt hai giải Nobel cho tiểu thuyết vừa qua. Còn Việt Nam có vài mẩu thơ vụn, trường ca thì không có nhân vật, hay hoặc dở tự mình không cách gì đánh giá nổi, mà có hay chăng nữa như các đại ca được giải lớn kia còn chỉ nhận là tép riu, hoặc hội chứng “một bài”, vậy thứ tép riu thật thì lượn chỗ nào trong ao tù nước đọng?

Người Việt có câu “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết”. Cửa quan tức là công lý, có giỏi thì trình diễn trước mắt mọi người so đọ cao thấp, đàng hoàng, “án tại hồ sơ”, văn bản có chạy đi đâu mà lo?! Vậy mới là tư thế của ông chủ chứ! Còn khoe mẽ trong bếp làm gì để trở thành anh hùng xó bếp ư? Ngựa xích thố lại chạy trong sân, tùng bách lại mọc trong chậu, đã thế còn giấu vào xó kín nhà mình, xóm mình thì còn gì để bàn. Không bàn được lại văng “đếch biết!” “đếch cần!” sao? Là một người dân Việt, ngày nào tôi cũng muốn ngâm cả trăm lần câu thơ của thi sĩ Tản Đà mà thấy không chán và cũng không thấy đủ.
Read More..

Đâu là nơi duy nhất người Việt nam không bị khinh bỉ.

Khánh Hưng

Nhân đọc bài viết của một người Nhật nhận xét về người Trung Quốc mà phần bình luận đăng trên Bauxite Việt Nam có liên hệ với đặc tính của người Việt Nam hiện nay, tôi muốn góp nhặt mấy mẩu chuyện tai nghe mắt thấy sau đây.
1
Năm 2006, một công ty của người gốc Việt ở Mỹ thuê tôi về Việt Nam làm một nghiên cứu cho một dự án đầu tư kinh tế. Vài người quen đưa tôi đi làm việc với chính quyền một vài tỉnh để tìm hiểu các kế hoạch kinh tế của địa phương. Đi đến đâu, tôi cũng nhận được một lời khuyên tương tự là, tôi nên đưa theo một người Mỹ trắng, dù người đó là một nhân viên bảo vệ hay là một lao công cho công ty tôi ở Mỹ, miễn sao người đó nói “xí bô xí ba” gì đó, rồi tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi mới được tiếp đón nồng hậu và nhiệt tình!
Trở lại thành phố Sài Gòn, gặp một cậu “Việt kiều” 26 tuổi, sinh ở Mỹ, tốt nghiệp Cao học Anh ngữ tại Đại học Los Angeles (UCLA). Với nguyện vọng tha thiết được làm việc tại Việt Nam, cậu xin vào dạy tại một trung tâm Anh ngữ trực thuộc một trường Đại học lớn của Việt Nam. Ở đây, người ta trả lương theo giờ cho cậu ít hơn ba lần so với mấy người Tây ba lô. Họ nói, cho dù anh có trình độ và khả năng hơn hẳn mấy người Tây đó, nhưng vì anh là người “gốc Việt” nên không có… giá cao!
Bản thân tôi, trong một lần trú tại một khách sạn của công ty Du lịch Tp Hồ Chí Minh, có hôm tôi gọi tiếp tân yêu cầu cử người giúp sửa đường dây internet, gọi đến lần thư ba vẫn chỉ hứa hẹn. Sau đó, khi tôi gọi và nói chuyện bằng tiếng Anh, thì cô tiếp tân rối rít “Yes, sir” và vài phút sau, một nhân viên xuất hiện! Tương tự, vài lần đi máy bay Vietnam Airlines từ Đài Loan về Việt Nam, tôi đã rút được kinh nghiệm là phải sử dụng tiếng Anh nếu muốn được phục vụ tốt và lịch sự!
Hết biết! Người Việt tự kỳ thị nhau và bị kỳ thị ngay chính ở Việt Nam!
Thế còn người nước ngoài, họ nghĩ gì về Việt Nam?
Một người tôi quen, là cán bộ lãnh đạo của một cơ quan văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bữa “nhậu,” ông ấy vừa nhai ngồm ngoàm cái đùi ếch, vừa thuyết trình với anh bạn người Mỹ bên cạnh tôi (tất nhiên tôi là thông dịch viên bất đắc dĩ), rằng Việt Nam tuy còn nghèo nhưng nhờ có độc lập nên giữ được phẩm giá. Ông lấy ví dụ, vừa rồi, trong một chuyến du lịch ở Mỹ, trong lúc ông bị lạc khi tham quan Hollywood, ông đã được hai viên cảnh sát Mỹ “hết sức lể phép, trân trọng, và nhiệt tình” giúp ông tìm đường. Họ luôn gọi ông bằng “sir,” tức là “ngài.” Ông kết luận, vì họ biết ông là cán bộ của Việt Nam, nên họ đã đối xử với ông một cách trọng thị như vậy!
Anh chàng Mỹ ngồi bên cạnh tôi tròn mắt và… không nói gì cả!
Nghe ông cán bộ này nói, tôi nhớ lại ba câu chuyện:
Năm 2005, tôi đưa cậu con trai 4 tuổi, trên đường về thăm Việt Nam, ghé lại tham quan và nghỉ ngơi ở Nhật ba ngày. Chúng tôi trú tại một khách sạn ở Tokyo. Thấy hai cha con chúng tôi trao đổi qua lại bằng tiếng Anh, hầu như tất cả nhân viên làm việc ở đây đều cư xử với chúng tôi một cách hết sức thân tình và trân trọng. Họ nghĩ chúng tôi là người Mỹ gốc Nhật. Thế nhưng, khi nghe tôi cải chính lại là người Việt Nam, thì thái độ họ thay đổi hẳn!
Một anh bạn tôi là một nhà giáo và một nhà báo nghiệp dư ở vùng Vịnh San Francisco kể rằng: Trong chuyến đi du lịch vùng Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga… anh luôn gặp rắc rối vì cái hộ chiếu Việt Nam của vợ anh. Lúc nào vào ra cửa khẩu của các nước này, thì cả đoàn du lịch 20 người có passport Mỹ đều cho qua một cách thoải mái, chỉ duy nhất vợ anh với hộ chiếu Việt Nam là bị tách ra vào phòng riêng xét hỏi. Lần nào anh cũng phải viết giấy bảo lãnh! Mà mấy nước này vốn là “anh em xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam mấy năm trước đây!
Chuyện thứ ba, trong một lần du lịch tại Jakarta, Indonesia, tôi đi với một người bạn địa phương vào một câu lạc bộ khiêu vũ (dancing). Mấy cô vũ nữ nghe tôi nói chuyện bằng tiếng Anh thì vồ vập và tò ra rất tình cảm. Thế nhưng, khi nghe tôi nói là “người Việt Nam”, thì mấy cô dần dần lảng ra! Trời, ngay cả mấy cô… bán hoa mà cũng… đối với người Việt Nam như vậy!
Tôi định kể cho ông bạn cán bộ nghe ba câu chuyện này, nhưng lại thôi vì e là ông cũng không hiểu, và nếu hiểu ra thì không khéo ông lại qui cho tôi tội “theo đuôi đế quốc, xúc phạm dân tộc” thì mệt lắm!
Còn người Việt Nam xem người ngoại quốc thế nào?
Vợ chồng người bạn khác của tôi tại Hà Nội đều là “trí thức”, thuộc gia đình quyền thế và khá giả tham vấn tôi về kế hoạch mở một trường Mẫu giáo cao cấp, trong đó có qui định là chỉ nhận con em của người nước ngoài da trắng. Tôi hỏi lại vài lần chữ “da trắng” và xin được giải thích thêm. Họ nói rằng, ở Việt Nam đã có hai trường như vậy và đã tồn tại nhiều năm (?!), nói rõ là chỉ nhận học sinh người “da trắng.” Người ngoại quốc mà da màu cũng không được, thậm chí ngay cả con cái cán bộ Việt Nam cao cấp hoặc đại gia cũng không được nhận. Vợ chồng anh bạn này khẳng định, tiền bạc chỉ là một vấn đề nhỏ, điều anh chị muốn là thể hiện “đẳng cấp” của anh chị, và của cơ sở do anh chị thành lập!
Tôi sống ở Mỹ, một đất nước do người da trắng thành lập và xây dựng nên, thế nhưng trên cả nước Mỹ, không nơi nào có một trường học với qui định như vậy cả! Nếu ai đó ở Mỹ mà có cái ý tưởng như vậy, thì có lẽ trước khi bị lôi ra tòa án cho phá sản, chắc chắn là sẽ bị dư luận ném xuống loại “đẳng cấp” man rợ! Tôi không biết thật sự ở Việt Nam đang có kiểu trường “quốc tế” như vậy không, nhưng chỉ riêng thái độ tận tụy phục vụ người “da trắng” của hai vị trí thức trẻ và quyền lực Hà Nội cũng đủ để nhận ra một thế hệ “quí tộc” Việt vô cùng… quái đản!
Kề lại những câu chuyện này, một người bạn của tôi nói rằng, trên thế giới hiện nay chỉ có duy nhất một nơi mà người Việt Nam không bị khinh rẻ, đó là nước Mỹ!
Thật mỉa mai, nhưng đó là sự thật! Tôi sống ở Việt Nam 30 năm, 15 năm ở Mỹ, và đi đây đó khoảng chục nước, tôi công nhận điều anh bạn này nói. Ít ra, đây cũng là điều an ủi cho những kẻ “tha hương” – người Việt ở Mỹ như chúng tôi. Và đó cũng là lý do, mà tôi đã bỏ ý định trở lại quê hương Việt Nam sau khi học hành xong ở Mỹ, như kế hoạch của tôi ngày ra đi!

(Bài viêt thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả)
Read More..

6 thg 10, 2013

Nhậu nhẹt ba miền

Nguyễn Quang Lập

Dân viết lách thường hay tụ bạ nhậu nhẹt, phần vì ham vui, rời khỏi bàn làm việc, sau khi một mình chống chọi với “ pháp trường trắng”, đa phần đều muốn tìm kiếm bạn bè giải stress; phần vì nhu cầu tìm kiếm thông tin, nhặt nhạnh tư liệu sống quanh bàn nhậu. Đôi khi nghe lỏm được nhiều ý tưởng cực hay, nhiều đề tài hấp dẫn bạn bè buột miệng nói ra.


            Bây giờ nhậu nhẹt ba miền na ná nhau, ngày xưa khác nhau lắm. Sài Gòn sôi động, đời sống chảy xiết, dân nhậu  Sài Gòn, là nói cánh viết lách, sáng dậy sớm hẹn nhau đi ăn sáng uống cà phê nói chuyện công việc, rồi cắm cổ làm việc cho đến chiều tối xong việc mới nhậu nhẹt tới số, có khi kéo dài tới khuya.


 Nhậu nhẹt ra nhậu nhẹt, mọi người quẳng hết việc hát hò chọc quê chơi vui, đúng là dân nhậu chuyên nghiệp. Anh nào gọi đi nhậu anh đó trả tiền, luật bất thanh văn từ xưa đến nay. Không như dân Bắc cứ gọi nhau đi,  nhậu xong ai có tiền thì trả, thành thử đến giờ thanh toán cứ nhìn nhau nói cười nhàn nhạt, nhiều anh cứ đúng giờ đó thì nhìn đồng hồ đứng dậy, nói mình có việc phải về sớm, bí quá thì nhảy đại nhảy vào toilet, hi hi.

 Sài Gòn mỗi trận nhậu thường chia thành ba hiệp, hiệp một bia hơi, uống mồi chừng dăm bảy vại là kéo nhau đi Karaoke, hội hát bằng mồm hội hát bằng tay. Cuối cùng thì nháy nhau đi massage, kẻ massage sấp người massage ngửa. Sau đó thì biệt tăm, có khi nửa năm chẳng gặp nhau.

 Sài Gòn lắm việc, bạn bè từ xa đến, sơ thì mời nhau cà phê ăn sáng, thân thì nhậu một trận tơi bời rồi lặn mất tiêu, ít ai mời bạn về nhà. Nhiều người mới vào vào Sài Gòn hay bị sốc. Đã quen thói ở miền Trung miền Bắc, hễ có bạn tới là đánh đu với bạn suốt ngày, nay thấy bạn lặn mất tiêu suốt kì mình ở chơi, đến ngày về gọi điện chào cũng chỉ nói đi mạnh giỏi nghen, chẳng thấy tiễn tiếc gì thì ngạc nhiên lắm, đôi khi tủi thân, bực mình nữa.

Ngược lại dân Sài Gòn lần đầu ra Bắc cũng hay bị sốc. Sáng mấy anh quen gọi đi nhậu, chiều cũng mấy anh đó đón đi, ngay mai ngày kia vẫn mấy anh đó, đến ngày ra đi cũng mấy anh đó. Nhiều người cứ băn khoăn không hiểu sao người ta mất quá nhiều thời giờ vì mình, đâu biết thời đó cánh viết lách xứ Bắc chỉ có một món tiêu xài thoải mái, đó là thời gian.

Dân Hà Nội cà phê không ham, công việc cũng chẳng nhiều, ngủ  dậy muộn, ăn sáng xong làm mấy chén chè chén mới túc tắc đến công sở. Vật vờ vào ra cho đến trưa, giờ cơm trưa cũng là giờ đàn đúm, đến chiều tối lo về với vợ. Phàm đã chui vào chuồng lập tức nội bất xuất ngoại bất nhập, cố gắng làm anh chồng ngoan cho đến sáng hôm sau. Nhậu nhẹt nhiều khi như họp, bàn đủ chuyện trên trời dưới đất, cãi nhau ỏm tỏi.

Thi thoảng mới có cuộc nhậu chia làm ba hiệp, hiệp một nhậu say chí tử, hiệp hai mới kéo nhau đi hát hay massage. Nhưng  quân số hiệp hai thường mất đi một nửa, đủ thứ lý do để bỏ cuộc, người sợ vợ, kẻ sợ quan trên nhìn xuống người ta trông vào.

Dân nhậu Hà Nội quan tâm đến cái view, thoáng đãng yên tĩnh càng tốt vì họ cần nói chuyện, cuộc nhậu nào cũng có người nêu vấn đề mọi người góp bàn hoặc tranh cãi, gọi là nhậu vấn đề. Cánh viết lách Hà Nội ngồi với nhau mỗi ông là một ông trời con, không việc gì không phán được, ông nào ông nấy phát ngôn tầm cỡ uỷ viên trung ương, rất ghê. Hết nhậu về công sở lại bóp miệng vật vờ vào ra vô cùng khiêm tốn, hi hi.

        Dân viết lách miền Trung thường nhậu nhẹt bất tử, bất kể giờ nào miễn có tiền. Việc vàn chẳng có bao lăm, thời gian không thành vấn đề, chỉ cần cái cớ là kéo nhau vào quán. Bạn bè ở Nam ra, ở Bắc vào là cái cớ tuyệt vời để khai báo với vợ, có thể đi thâu đêm suốt sáng.

            Miền Trung vẫn giữ được thói quê, bạn bè từ xa đến không thể không mời về nhà, làm mâm cơm đãi bạn, nhậu nhẹt ở nhà chán chê rồi mới đi ra quán. Khách khứa nhiều người chạy sô ăn cơm nhà bạn cũng đủ chết xác nhưng không thể từ chối, bữa cơm nhà như là chứng chỉ của tình thân sự quí trọng, thiếu nó lắm người rất áy náy.

            Không có khách khứa thì tụ bạ quán cà phê  ngồi chán thế nào cũng có người kéo đi quán, nhậu hết cuộc này sang cuộc khác, tối vừa về nhà có người gọi lại vọt,  các bà vợ chỉ nguýt lườm ít ai dám nói. Ngày nào cũng nhậu, ít ai có khả năng bao sân, thành ra có kiểu nhậu nối dài. Anh đến sau bảo kể từ đây là phần của tôi nhé, một anh khác đến lại bảo kể từ đây là phần của tôi nhé, mỗi anh chịu thanh toán một khúc, cứ thế nối dài ra mãi.

Về sau cánh nhà báo có kiểu nhậu bắt Fulro, gọi người ra trả tiền hộ. Nhậu giữa chừng thì gọi ai đó, thường là các ông chủ doanh nghiệp, các quan chức trong tỉnh mời họ ra nhậu chơi. Mấy ông này lập tức hiểu ý, vọt ra làm đôi ba chén, góp vui đôi ba câu rồi giành lấy  bill thanh toán cái rẹt. Không phải ai cũng thích kiểu nhậu bắt Fulro, vì nó luỵ đến đạo đức nghề nghiệp, nhưng tỉnh nào cũng có một anh bắt Fulrro cực tài, rất đáng sợ.

Ngày nay văn hoá nhậu ba miền đã có nhiều điểm tương đồng. Dân nhậu Bắc, Trung đã chuyên nghiệp tựa dân nhậu Nam. Cánh viết lách Hà Nội không chỉ nhậu vấn đề, nhậu đờn ca cũng rất phê. Cánh viết lách Sài Gòn không chỉ nhậu đàn ca mà nhậu vấn đề cũng rất nổ. Cánh viết lách Hà Nội không chỉ nhậu vấn đề, nhậu đờn ca cũng rất phê. Cánh viết lách Sài Gòn không chỉ nhậu đàn ca mà nhậu vấn đề cũng rất nổ. Cánh viết lách miền Trung đã có nhiều việc làm hơn, anh nào cũng cộng tác với vài ba tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn, nhậu nhẹt đã có giờ, không còn triền miên như ngày xưa nữa. Cả ba miền bây giờ chỉ nhậu hết hiệp một là về, ít ai sa đà sang hiệp hai hiệp ba tốn tiền mất thời giờ phí sức.

Phục vụ nhà hàng ba miền cũng có nhiều đổi khác. Miền Bắc, miền Trung học miền Nam đã thực bụng coi khách hàng là thượng đế. Nhân viên nhà hàng Hà Nội biết mềm mỏng lịch lãm nhiệt tình, đã mất đi khá nhiều các bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh, di chứng thời bao cấp. Nhân viên nhà hàng miền Trung cũng tiến bộ rất nhanh, không còn nhiều nhà hàng cho nhân viên ra tranh giành nhau chặn bắt khách hàng, bắt được rồi gọi gì cũng dạ, dạ riết mà chẳng thấy đưa món ra. Hỏi vì sao chưa đưa món ra, lại dạ. Nói tôi hỏi vì sao chưa đưa  món ra dạ dạ cái gì, vẫn cúi đầu lễ phép dạ dạ, tức phát điên. Việc ấy bây giờ tuồng như đã chấm dứt. Có lẽ văn hoá dịch vụ thời bao cấp sắp chết thật rồi chăng?
Mừng.


Read More..

Đám tang

Võ Trung Hiếu

Khi bạn chết như một phó thường dân
Hàng xóm và lũ trẻ con khu phố bắt đầu buôn chuyện
Câu chuyện sẽ bắt đầu từ ngày bạn còn tè dầm
Cho đến những lần bạn bị đòn và bắt đầu hò hẹn
Những lần bạn thất tình và bị bỏ rơi
Những thói hư tật xấu đến những thành công hay ho
Có cả những chuyện bạn chưa từng làm
Thậm chí còn chưa từng ý định ...


Các đồng nghiệp sau khi thương cảm sẽ trà dư tửu hậu
Sẽ thằng này con này tuy hay abc thế này nhưng được cái xyz thế kia
Sau khi chén chú chén anh, nhân chia cộng trừ
Họ sẽ tặc lưỡi bảo nhau, " Thôi, nghĩa tử là nghĩa tận "
Những nén hương và những vòng khói trắng
Sẽ tiễn bạn đi vào cõi vuông tròn

Khi bạn qua đời như một yếu nhân
Ngay cả nguyên nhân bạn chết cũng tạm trở thành bí mật
Ngay cả ngày giờ bạn chết cũng tạm trở nên khuất tất
Ngay cả nơi bạn chết cũng không phải ai cũng được quyền nói ra
Bạn và sự tồn vong của bạn là con tin cho những ý đồ
Bạn ra đi sẽ là điểm cộng hoặc trừ
Cho một âm mưu, thế lực, quyền năng

Bạn sẽ chẳng bao giờ được chết trong thoải mái tự do
Báo chí sẽ tranh nhau đăng tin và khai thác
Nói xin lỗi ... như kền kền mổ xác
Những người thân yêu của bạn sẽ bất ngờ được báo chí ghé thăm
Cả những bạn bè rất xưa của bạn cũng sẽ được quan tâm
Những nhật ký, sổ tay, thư riêng sẽ được soi bằng kính hiển vi
Những bí mật rất thiêng liêng của bạn sẽ lần lượt phơi dần ra ánh sáng

Trong khi đó bạn nằm giữa những vòng tang trắng
Bất lực lắng nghe lao xao những câu chuyện của mình
Trên miệng thế nhân, trên báo chí, truyền hình ...

Và có thể, biết đâu ngay khi đó
Bạn muốn chết yên thân như con mèo con chó
Không cần linh đình ồn ã ma chay
Không cần những điếu văn sáo rỗng giả cầy
Không cần những nước mắt sặc mùi kịch cọt

Nói vậy mà bạn không thể nào làm khác được
Đám tang của mỗi chúng ta là nhân quả của đời
Cho dù bạn viết gì vào di chúc cũng vậy thôi
Người chết không thể cản ngăn người sống

Bạn có thể nằm ở chỗ khỉ ho cò gáy
Tấm bia có thể còn sai chính tả, vẹo xiêu
Hoặc tệ hơn bạn chỉ là nấm cỏ
Nằm chơ vơ nơi vắng vẻ tịch liêu

Nhưng vì một chủ nghĩa abc hay một tín điều
Bạn có thể được lên khuôn, tạc tượng
Rải khắp nơi từ thành thị đến nông thôn
Cả núi đô-la sẽ được chi dần
Để cho xác bạn vào đền đài lăng tẩm
Rồi nằm đấy cho muôn người đến ngắm

Nói cho cùng cuộc đời này là kịch
Chúng ta đã và đang trong vai diễn của mình
Cho đến khi tử thần cùng lưỡi hái vung lên
Thì sân khấu vẫn cần người thay thế

Phía sau những đám tang
Trong những đám đông sụt sùi hương khói
Có buồn vui thế thái những nỗi niềm
Người đời lắm khi không gọi nổi thành tên./.
Read More..