Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

28 thg 2, 2013

"Hội chứng ... lá chuối"


Bùi Hoàng Tám


Hình như trên thế gian này chỉ mỗi cây chuối là suốt đời không rụng lá. Loại lá thiếu tự trọng từ lúc mọc đến khi thối nẫu cũng không chịu rời bỏ thân cây. Và cũng vì thế, khi chuối đã ra buồng là không còn chiếc lá non nào được sinh ra nữa.

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất ý kiến về việc tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động có trình độ chuyên môn cao, người làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt lên 5 năm so với quy định hiện nay. Lý do là để đối phó nguy cơ vỡ quỹ lương hưu và và phù hợp với xu thế tuổi thọ người dân gia tăng.

Các lý do mà Bộ LĐ - TB&XH đưa ra về lý thuyết là có lý. Theo đánh giá của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), tuổi về hưu của Việt Nam là sớm, trong khi đó tuổi thọ của người Việt Nam gần đây đã tăng cao so với nhiều năm trước. Việc chi trả cho bảo hiểm xã hội và các chính sách khác hiện đang quá cao khiến quỹ lương hưu sẽ bắt đầu thâm hụt từ năm 2020 và hoàn toàn cạn kiệt vào năm 2029.

Tuy nhiên, trừ việc áp dụng đối với các nhà khoa học lớn, tâm huyết với đất nước cần mời trân trọng tiếp tục cống hiến, còn xét từ thực tế đời sống xã hội của Việt Nam thì các lý do trên có phần chưa thỏa đáng.

Về lý do tuổi thọ, tuy những năm gần đây tuổi thọ người Việt Nam có được nâng cao nhưng thực tế cho thấy, người Việt Nam sống dai song thể lực yếu. Phụ nữ ngoài 50, nam giới ngoài 55 tuổi đã có biểu hiện uể oải, giảm tính năng động… Mặt khác, người Việt Nam không phải chỉ đến 18 tuổi mới lao động mà phải tham gia làm việc từ trước đó nhiều năm.

Về thâm hụt ngân sách, đúng là hiện nay vì nhiều lý do, mỗi năm chúng ta phải chi một khoản tiền rất lớn. Song, với sự phát triển của kinh tế, đây không phải là bài toán không có lời giải. Vả lại, chỉ cần làm tốt công cuộc chống tham nhũng, lãng phí chúng ta đã có một khoản tiền khổng lồ dành chi trả cho việc này. Đó là chưa kể nếu nhìn ở bình diện quốc gia, đồng tiền đó không hề mất (như tham nhũng, lãng phí) mà nó phục vụ chính đời sống người dân. Cần nói thêm, không biết số tiền cả ngàn tỉ đồng mà Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho vay bất hợp pháp hiện đã đòi được chưa?

Do đó, việc tăng tuổi nghỉ hưu sẽ vấp phải nhiều hệ lụy. 

Đã có ý kiến cho rằng đối tượng muốn tăng tuổi nghỉ hưu có lẽ là những người có chức, có quyền, có “bổng lộc” nhưng lại ít năng lực, muốn “bám” lấy chiếc ghế quyền lực để nhằm mục đích cá nhân hơn là lợi ích đất nước. Bởi thực tế, những cán bộ có chức, có quyền và có năng lực thật sự luôn luôn nhận được sự chào đón từ các doanh nghiệp tư nhân. Các bác sĩ, nhà giáo cũng rất được các bệnh viện tư và trường dân lập, tư thục mời chào ngay từ khi chưa kịp nhận sổ hưu. Đã có không ít chuyên viên của các doanh nghiệp hiện cũng là các cựu công chức nhà nước. Thậm chí, nhiều người còn tự lập doanh nghiệp riêng cho mình.

Tuy nhiên về hệ lụy sâu xa, là công cuộc trẻ hóa cán bộ công chức. Hiện đang có một thế hệ trẻ nhiều năng lực, giàu nhiệt huyết và khát khao cống hiến. Nếu không được tạo cơ hội, họ sẽ chán nản, ngọn lửa đam mê sẽ dần tắt và về lâu dài, đó là bi kịch của một đất nước muốn phát triển. 

Đó là chưa kể qui định này hoàn toàn có thể bị thói tham quyền cố vị, “đó rách ngáng chỗ” lợi dụng. Đã xuất hiện không ít trường hợp “cải lão hoàn đồng”, càng sống lâu càng… trẻ ra, tuổi nghỉ hưu thấp hơn nhiều do với tuổi thực.

Khi viết những dòng này, tôi chợt nghĩ về những chiếc lá. Những chiếc lá không chỉ biết "lá lành đùm lá rách", không chỉ biết già "rụng về cội" mà mỗi mùa đông, lá còn biết tự rụng để mùa xuân, nhường chỗ cho những chồi non mới. 

Hình như chỉ mỗi cây chuối là suốt đời không rụng lá. Loại lá thiếu tự trọng từ lúc mọc đến khi thối nẫu cũng không chịu rời bỏ thân cây. Và cũng vì thế, khi chuối đã ra buồng là không còn chiếc lá non nào được sinh ra nữa.

Xin đừng biến cơ quan công quyền thành nơi dưỡng lão của những người cao tuổi. 

Xin đừng tạo cơ hội cho những những kẻ ăn bám, lợi dụng chính sách này để chui lủi dưới “ngọn cờ lá chuối” , thực hiện phương châm “bám trụ kiên cường!”.
Read More..

13 thg 2, 2013

Anh S., bạn tôi


Nguyên Ngọc
Tôi quen anh S. rất tình cờ, nhưng rồi về sau, khi đã thân, chúng tôi thường cười nói với nhau: Chẳng ngẫu nhiên hoàn toàn đâu, có duyên trời cả đấy. “Trời” đây là cuộc thế mấy mươi năm nay của đất nước ta, với bao nhiêu uẩn khúc trầm luân, đưa con người đi theo những con đường chẳng ai ngờ trước, tạo nên trong số phận từng người nhiều bi kịch, mà lắm khi may mắn cũng nhiều.
Tôi từ Boston bay đi Washington DC và có việc cần ở lại DC năm bảy ngày. Người quen ở Boston nhiều, nhưng ở DC tôi lại chưa hề biết ai. Anh bạn tôi ở Boston bảo: “Tôi gửi anh cho anh S. ở DC nhé, nhà anh ấy rộng, rất yên tĩnh, nhưng quan trọng hơn, anh ấy là người rất hay. Khéo các anh lại trở thành thân thiết cũng nên”. Tôi chú ý chữ “hay” anh bạn tôi dùng. Tôi có nghe tên anh S. nhưng chưa gặp lần nào, có đọc đôi bài của anh, chủ yếu về phê bình văn học, cảm giác chung là một cây bút sâu sắc, cả sắc sảo nữa, nhưng không ồn ào, gây cho người đọc một cảm giác tin cậy và nể trọng. Và đọc văn tôi thường thích thử đoán người, tôi hình dung một con người trầm tĩnh, dấu tâm huyết nồng cháy dưới một bề ngoài có thể hơi chút gì đó cứ tưởng chừng dửng dưng…
Anh đón tôi ở sân bay Baltimore, hôm ấy sân bay không hiểu sao có khá nhiều người Việt đón người thân, vậy mà tôi nhận được ra anh ngay, và anh cũng nhận ra được tôi ngay. Tức cái cảm giác của chúng tôi về nhau bước đầu vậy là không sai.
Anh S. bây giờ hầu như ở nhà chỉ một mình, các con anh đều đã trưởng thành và ra ở riêng, chị ấy thì hết đi nuôi cháu này lại đi nuôi cháu khác. Chúng tôi tự nấu ăn với nhau, và ngoài những lúc anh đi làm hay những hôm anh đưa tôi đi xem DC, hai chúng tôi thường ngồi với nhau, nói đủ thứ chuyện. Những đêm ngồi với anh S., nhiều đêm đến gần suốt sáng, tôi cứ thầm nghĩ: tôi đang đối diện, tôi không muốn dùng chữ to tát đâu nhưng mà sự thật đúng là vậy, tôi đang đối diện với một phần máu thịt của dân tộc ta, mà những trầm luân của cái thế giới và cái thời đại vừa tuyệt vời vừa khốn nạn này đã chia cắt ra, từng đưa đến đối mặt sống còn với nhau, và bây giờ xa cách nhau đến hàng vạn cây số, muốn đến với nhau đi về phía Tây hay phía Đông đều phải qua cả đại dương mênh mông, và có vượt qua đại dương rồi cũng chẳng thể đến ngay với nhau được thật dễ dàng đâu, bởi những ngăn cách kỳ quặc mà người ta gọi là ngăn cách ý thức hệ. Mà cái phần máu thịt ấy nào có ít đâu, những gần ba triệu người, riêng ở Mỹ gần hai triệu. Có ai đó đã nói: trên thế giới có hai dân tộc lưu vong nhiều và lâu trong lịch sử, dân Do Thái và dân Trung Quốc (có lẽ phải kể cả người di-gan nữa). Còn đây là lần đầu tiên người Việt Nam mới biết đến lưu vong. Người Việt chúng ta là một dân tộc không có kinh nghiệm lịch sử lưu vong. Vậy mà bây giờ đó là một thực tế, và một thực tế lớn. Ta đang tạo ra những kinh nghiệm mà cha ông ta từ nghìn đời trước chưa biết đến bao giờ…
Tôi không muốn nói rằng anh S. là đại diện cho cái phận máu thịt bị cắt ra đó, cắt ra một cách giả tạo. Và chắc chắn anh ấy cũng không bao giờ muốn nhận vai trò đó. Nhưng một cá nhân, bằng nhân cách đặc biệt của mình, đôi khi lại có thể cho phép ta qua họ mà hiểu ra được nhiều điều cần hiểu và ta lại không hiểu về một bộ phận người không nhỏ nào đó do những hạn chế khó tránh của cái góc độ mà cuộc đời đã đặt ta vào đấy nhiều chục năm dài. Anh S. theo tôi là một cá nhân như vậy. Tôi cám ơn số phận đã cho tôi gặp anh, cám ơn anh đã cho tôi hiểu thêm về cái phần dân tộc mà hoá ra tôi vốn hiểu rất ít, thậm chí hầu như chẳng hiểu gì, nếu không nói là từng hiểu chẳng ra làm sao cả.
Để tránh dông dài, tôi xin phép nói rất vắn đôi điều về cuộc đời anh, như anh đã tâm sự với tôi trong những đêm dài. Hoá ra con đường đời của hai chúng tôi suýt chút nữa đã có thể găp nhau từ nửa thế kỷ trước, thậm chí cùng đi với nhau một nhịp từ ấy đến giờ. Anh quê ở một thành phố biển đẹp nhất miền Trung, trong một gia đình theo tôi là một gia đình khá giả và trí thức. Người chị cả của anh là sinh viên khóa đầu tiên của trường Mỹ thuật Gia Định. Tôi có được gặp chị hôm chị từ Cali lên thăm anh và các cháu. Chắc chắn hồi trẻ chị là hoa khôi của thành phố quê hương, năm nay đã 90 mà nét đẹp vẫn hầu chưa phai, sắc sảo mà thuần hậu, thanh nhã và cao quý. Nhà anh S. treo nhiều tranh của chị, hiện đại đến không ngờ. Một người chị thứ hai của anh thì tôi biết rất rõ, từ hơn nửa thế kỷ trước: chị đã bỏ thành phố bị chiếm của mình ra tham gia kháng chiến, và ở cùng đơn vị bộ đội với tôi nhiều năm, thuộc lớp tuổi đàng chị của tôi, và tôi nhớ chị rất đẹp, nổi tiếng một thời ở vùng kháng chiến chúng tôi. Về sau, do hoàn cảnh gia đình, chị không đi tập kết … Ba anh S. thì, theo như anh kể, hồi đầu kháng chiến chống Pháp từng lên chiến khu tham gia sản xuất vũ khí, rồi sau đó cũng vì những điều kiện gia đình, trở về thành phố, một người trí thức yêu nước thầm lặng … Vậy đó, cuộc thế với những sắp xếp cứ như thật tình cờ và nhỏ nhoi đã đặt cái gia đình trí thức nền nếp và yêu nước đó đứng về cái phía mà chúng ta gọi là “phía bên kia của cuộc chiến”, khi đất nước bị chia đôi và đi vào chiến tranh lần thứ hai.
Anh S. lớn lên trong hoàn cảnh gia đình và đất nước đó. Anh học giỏi, yêu văn chương nghệ thuật, là một thanh niên tài hoa. Anh hiểu kháng chiến, nhưng anh không thích cộng sản và những người cộng sản, anh nói rõ với tôi như vậy. Vì sao? Vì cái hệ thống lý thuyết của nó mà anh không tán thành, cái hệ thống theo anh đã đưa đến một sự mô tả giả về tình hình giai cấp ở ta rồi lại từ đó tổ chức một cuộc đấu tranh giai cấp thật tàn bạo và chia rẽ dân tộc một cách vô lý. Anh biết điều đó qua những câu chuyện về cải cách ruộng đất tệ hại do những người di cư từ miền Bắc vào sau năm 1954, trong đó có những văn nghệ sĩ tài năng và nổi tiếng nhất ở miền Nam bấy giờ mà anh quen và thân kể lại, … rồi sau này nữa khi những người cộng sản chiến thắng tiến vào Sài Gòn và lặp lại cái công cuộc cải tạo tư sản ở đấy. Cả trong việc họ giam giữ, hành hạ, làm nhục kéo dài đối với những người thuộc chính quyền và quân đội Sài Gòn cũ … Tất cả những ấn tượng nặng nề ấy ám ảnh anh, nhưng đối với anh, điều còn nguy hiểm và gây cho anh nhiều đau đớn hơn là tất cả những cái đó đã tàn phá những nền tảng văn hoá đạo đức lâu dài, bền vững nhất của xã hội, làm băng hoại con người. Anh nhìn xã hội và cuộc thế dưới cái nhìn của một nhà văn hoá, và những gì của đất nước hiện ra dưới cái nhìn ấy khiến anh không nguôi quằn quại tận tâm can.
Sống ở miền Nam thời bấy giờ, anh đã chọn một nghề anh cho là trong sạch nhất: anh đi dạy học, ở một trường đại học nhỏ mà có tiếng ngay tại thành phố quê hương. Cũng có bị bắt lính vài năm, nhưng rồi xoay xở thoát được, lại trở về ngôi trường thân yêu của mình…. Sau năm 1975, khi đã định cư ở Mỹ, anh đã có mấy lần về nước, thăm lại ngôi trường của anh, gặp lại thầy xưa, bạn cũ, sinh viên cũ của mình. Anh có cho tôi xem một số ảnh và một số đoạn phim quay cảnh bạn bè thầy trò cũ gặp lại nhau, và tôi nhận ra: rõ ràng anh được tất cả những con người ấy, nay đang sống và làm việc ở nhiều cương vị khác nhau tại Việt Nam, cũng có người có cương vị khá cao, hết sức quý trọng, thật sự kính yêu.Một nhà giáo dục tâm huyết, mẫu mực và tài hoa. Một con người trung thực, giàu sức hấp dẫn, một người trí thức chân chính.
Anh sang Mỹ ngay sau năm 1975, không phải do nợ nần gì với cách mạng, mà do không đồng tình với hệ tư tưởng nay đang trở thành thống trị trong xã hội, anh thấy sẽ rất khó sống trong không khí xã hội ấy. Vợ con anh lần lượt đi theo sau, nhiều lần vượt biên không thành, bị bắt lên bắt xuống, đến lần sau cùng đi được là do có sự giúp đỡ của một cán bộ rất cao cấp nay đang làm việc trong một ngành liên quan đến đối ngoại, nhưng ngày trước, trong kháng chiến chống Pháp lại là cán bộ quân sự từng có quen biết người chị đã ra tham gia bộ đội ở đơn vị tôi lúc bấy giờ, thậm chí cũng rất có thể anh ấy đã từng thầm yêu chị, tôi không sợ đoán nhầm lắm đâu, ngày đó anh ấy là sinh viên Hà Nội Nam tiến, tài hoa và lãng mạn, đánh giặc giỏi và đẹp trai, còn chị thì như là hoa khôi ở vùng kháng chiến chúng tôi. Vậy mà khi được giúp đi Mỹ, thì cả gia đình anh S. đi hết, riêng chị lại ở lại, nay vẫn sống ở Sài Gòn. Trong cuộc đời, làm sao hiểu hết được những níu kéo riêng tư đối với từng con người…
Có dịp làm quen với nhiều người Việt ở Mỹ, tôi mới thật sự hiểu ra những năm đầu sang đấy họ đã chịu bao nhiêu gian nan ghê gớm và đã can trường vượt qua khó khăn đến chừng nào. Mỗi cuộc đời làm lại trên đất khách là cả một sự tích kỳ diệu, mà lắm trường hợp gọi là anh hùng cũng không quá đáng đâu. Chẳng hạn, tôi có được làm quen với một người chủ hiệu sách tiếng Việt ở Cali. Anh ấy từng là chủ xuất bản một nhà sách nổi tiếng ở Sài Gòn trước đây. Anh không viết lách gì, nhưng yêu và tôn sùng sách như một tín đồ của một tôn giáo nhiều khi đến cực đoan. Sang Mỹ sau 1975 với hai bàn tay trắng, anh liều mình lên tận vùng Alaska sát ranh giới Bắc cực, 10 năm làm nghề đánh cá mà anh chưa từng biết chút gì, chắt chiu nhịn nhục âm thầm gom góp, 10 năm ròng vật lộn đầm mình trong băng tuyết, để cuối cùng có được chút vốn trở xuống Cali lập lại một nhà xuất bản, lấy lại đúng tên nhà xuất bản ở Sài Gòn trước đây của anh, in những quyển sách thật quý, thật đẹp, thật sang trọng …. chủ yếu để mà ngắm chứ nào có bán được mấy đâu. Tôi đến mua sách của anh lần đầu năm trước, năm sau trở lại, đã thành bạn quen, anh ra chào tôi, rồi lấy xuống từ kệ sách một cuốn Lược Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê anh mới in lại, bìa cứng, thanh nhã, tuyệt đẹp, ký tặng tôi: “Tặng anh cuốn sách cuối cùng của nhà xuất bản VN”. “Cuốn sách cuối cùng”, vì cái nhà xuất bản mà anh đã phấn đấu như một người anh hùng để khôi phục trên đất khách, bất chấp tất cả hy sinh to lớn của anh, đến nay cũng phải đành đóng cửa thôi. Lớp người Việt đọc được tiếng Việt trên đất Mỹ ngày càng mòn mõi đi. Thế hệ một, thế hệ một rưởi, rồi thế hệ hai, thế hệ ba … Rồi sẽ đến lúc hầu như không còn người gốc Việt biết nói và đọc tiếng Việt nữa. Biết làm sao được, cuộc sống là vậy…
Anh S. cũng từng trải qua những vật lộn ghê gớm chẳng kém để tồn tại và tìm được một chỗ đứng trong cái đất nước và xã hội mới, đầy hứa hẹn mà cũng lắm dữ tợn này. Cũng như rất nhiều trí thức đã bỏ nước ra đi những năm ấy, anh đi làm đủ thứ công việc, không từ cả nghề khuân vác, gác gian …Và ra sức học, học như lao vào một cuộc chiến sinh tử. Không chỉ để tìm chỗ đứng cho chính anh, mà còn để chuẩn bị cho vợ và các con anh sẽ sang sau nữa. Anh hùng và thông minh, cực kỳ tài năng, anh trở thành kỹ sư, rồi trở thành nhà nghiên cứu khoa học, làm chuyên viên kỹ thuật trong một cơ quan khoa học hàng đầu của nước Mỹ, và cũng có thể của cả thế giới ngày nay… Ba mươi năm. Vợ và các con anh sang sau, nay cũng đều đã ổn định và trưởng thành. Cả năm người con anh, con gái con trai, đều đã là tiến sĩ. Còn anh, anh bảo tôi năm nay anh sẽ xin nghỉ hưu. Anh muốn trở về với công việc yêu thích nhất của anh: viết và vẻ. Và lang thang đây đó, nhìn ngắm và suy nghĩ về cuộc đời …
Trong những đêm trắng ngồi với anh giữa ngôi nhà mênh mông ở DC, nhâm nhi rượu vang đỏ mà anh có đầy cả một tầng hầm, chúng tôi nói với nhau lang bang không biết bao nhiêu chuyện về đủ thứ trên đời, từ văn học nghệ thuật, cả triết học phương Đông và phương Tây, về các bạn bè cũ mà hoá ra chúng tôi bằng con đường này hay con đường khác đều cùng quen biết, thậm chí thân thiết, số phận khác nhau của từng người, cho đến chuyện chính trị nước Mỹ, nước Tàu, nước Nga, rồi nước mình … Nhưng rồi hầu như bao giờ cũng vậy, cứ như bằng một sức hút nam châm vô hình mà có thực và dai dẳng, câu chuyện cuối cùng bao giờ cũng lại dắt chúng tôi về một đề tài, một trăn trở không sao dứt ra nổi, và không biết rồi có bao giờ hoàn toàn dứt ra được không: Vì sao chúng tôi, những người như anh và tôi, từ trong sâu thẳm mỗi chúng tôi, chúng tôi gần nhau đến thế, có thể gặp nhau ở vô số điểm và đều là những điểm căn cốt nhất của nhân sinh … lại bổng bị chia cắt ra xa nhau đến thế, và bây giờ nói cho thật chân thành thì con đường đến lại với nhau cũng không hoàn toàn đơn giản và suông sẻ. Vẫn có một rào cản nào đó mà chúng ta, chúng tôi đang cố gắng vượt qua, mong rằng sẽ vượt qua được, nhưng quả thật chẳng hoàn toàn dễ dàng.
Anh S. thường kể với tôi về cuộc sống của anh và các bạn anh, những người anh thật sự thân thiết và quý trọng, trong đó có những người là nhà văn, là nghệ sĩ, là nhà giáo, mà cũng có một số người là sĩ quan trong quân đội Sài Gòn trước đây. Và dần dần tôi nhận ra điều này, mà trong một đêm tôi cũng đã thẳng thắn nói với anh: hoá ra tôi, chúng tôi, những người kháng chiến chống Mỹ, chủ yếu lăn lộn ở trên rừng những năm tháng ấy, chúng tôi quả thật không hề biết rằng trong các thành phố miền Nam ngày ấy còn có một bộ phận đời sống như thế, với những con người như thế. Trong hình dung của chúng tôi, ở các thành phố ấy bấy giờ chỉ có hai tình trạng đối lập nhau: một cuộc sống bức bối, ngạt thở, hết sức đen tối về tinh thần, và cả nhầy nhụa nữa cũng nên, dưới gót dày chiếm đóng của người Mỹ thô lỗ và hống hách; và mặt khác một cuộc chiến đấu căng thẳng, lặng lẽ và vô cùng anh hùng của những người nằm vùng chống lại ách chiếm đóng ấy. Chúng tôi không biết có những người như anh, không phải chỉ từng người cá lẻ mà là cả một tầng lớp, một bộ phận xã hội đáng kể, yêu nước và cả chống Mỹ nữa, một lòng yêu nước đáng kính trọng dù con đường để thực hiện lý tưởng đó có khác con đường chúng tôi đã đi; và chống Mỹ, ghét Mỹ, khinh bỉ Mỹ một cách đầy bi kịch vì lại phải dựa vào Mỹ để chống lại cái hệ ý thức mà họ nghĩ là có thể gây hại lâu dài cho đất nước, dân tộc… Và họ không chỉ có một đời sống tinh thần như vậy, mà thật sự cũng đã tạo ra được một không gian xã hội không quá nhỏ bé đâu, để chẳng hạn làm sinh nở cả một trào lưu văn học và nghệ thuật, một đời sống văn hoá tinh thần trong đó có những giá trị không nhỏ chút nào … Có lẽ chính cái khoảng không gian lớp người ấy từng dũng cảm tạo được đó đã tạo điều kiện để có thể có được chẳng hạn một nhạc Trịnh chắc sẽ còn sống lâu dài lắm với chúng ta. Trịnh mà tất cả chúng ta đều yêu, và chắc chắn sự nghiệp nghệ thuật của anh là một phần tài sản tinh thần từ nay không thể thiếu của dân tộc. Và cả những giá trị văn học nữa mà tôi nghĩ đến một lúc nào đó, cũng không nên để chậm trễ quá nữa, cần được đánh giá công bằng và khôi phục lại, bởi vì nói cho đúng đấy cũng đều những tài sản văn hoá quý báu của đất nước, chẳng ai có quyền tước đi mất của nhân dân… Giá như ngày ấy chúng tôi, chúng ta hiểu thêm được thành phố như thế thì tình hình đã có thể khác, cho lúc bấy giờ, và cho cả bây giờ … Nhưng, ở đời là vây, “giá như” tức là “nếu”. Mà lịch sử thì không có “nếu”. Lịch sử, khi nó đang còn là hiện thực tức thì diễn ra trước mắt chúng ta, không bao giờ cho chúng ta nhìn thấy được tất cả bức tranh toàn cục của cuộc thế. Nó che lấp đi rất nhiều mặt, trong đó rất có thể có cả những mặt thật sự rất quan trọng .
Tôi đã nói với anh S. suy nghĩ đó của tôi, và tôi cũng đã nói với anh rằng về phần anh, các anh cũng vậy, các anh ngày ấy cũng bị cái gọi là lịch sử cụ thể đó che lấp đi một mảng rất lớn của hiện thực. Các anh chủ yếu sống ở thành phố, hầu như không biết chút gì về nông thôn mênh mông của chúng ta cả. Mà tội ác của chính quyển miền Nam và của Mỹ thì chủ yếu lại diễn ra ở nông thôn, bên ngoài xa lắc các thành phố hào hoa và cũng khá phồn thịnh và tương đối yên bình thời ấy. Một hôm ở Texas, tôi tình cờ gặp một người cùng quê, trước đây từng làm tỉnh phó tỉnh Quảng Nam, đúng thời chính quyền Ngô Đình Diệm, giữ một chân phụ trách phần hành chính gì đó hình như cũng không quan trọng lắm.Anh ấy rất thản nhiên bảo tôi rằng theo chỗ anh ta biết một cách chắc chắn thì đạo luật chống cộng khét tiếng 10-59 đúng ra chỉ giết có mỗi hai người thôi! Tôi không nghĩ anh ta cố tình nói dối. Anh nói đúng điều anh biết: đạo luật ấy đúng là đã đưa ra xử tử hình hai người trước toà án công khai của chính quyền Sài Gòn. Còn hàng ngàn, hàng vạn người bị tàn sát, đày đoạ ở khắp nông thôn miền Nam những năm tháng ấy trong các chiến dịch tố cọng diệt cộng trả thù những người kháng chiến chống Pháp, anh không biết và không nói đến. Tôi có nói với anh ấy rằng chính người cậu ruột tôi, quê ở thôn Hưng Mỹ, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, Quảng Nam, vùng đất mà anh ấy chắc chắn biết rất rành rọt, đã bị giết chết trong cái chiến dịch khốn nạn ấy, ngay từ 1955, bị giết vô cùng dã man bằng cách dùng một cấy đũa tre vót nhọn đâm xuyên qua tim khi đã bị trói chặt tay chân. Sau năm 1975, người con trai của ông, tức người anh con cô con cậu của tôi, đã hằm hằm về tìm đúng tên ác ôn đã sát hại cha mình, quyết trả thù, và chính tôi đã giật lấy khẩu súng trong tay anh, ngăn hành vi manh động của anh… Quả thật đã có hận thù, quá nhiều hận thù chồng chất từ cả hai phía, tôi nói với anh S. Vấn đề bây giờ là, nếu quả thật dân tộc chúng ta là một dân tộc anh hùng, thì sự anh hùng bây giờ là hãy anh hùng “bước qua lời nguyền” lịch sử để lại ấy đi, để đến với nhau, mà tôi tin là hoàn toàn có thể đến với nhau được, như tôi và anh, chúng tôi đã đến với nhau và đã tìm thấy ở nhau vô số điều đồng cảm, từ những buồn vui nhỏ nhặt đời sống hằng ngày cho đến những nghĩ suy sâu xa và mong ước thống thiết, cả tin tưởng nữa ở số phận dân tộc. Tôi cũng nói với anh rằng tôi thật lòng cảm phục những người như anh, và không ít những người bạn khác tôi gặp và được quen ở Mỹ, đã vượt qua được cái bước khó khăn ấy để có một thái độ ôn hoà và một lòng mong muốn hoà giải thật sự giữa những bộ phận máu thịt của dân tộc đã bị lịch sử chia cắt ra, mặc dầu còn rất nhiều bất đồng ở phía bên này cũng như phía bên kia. Tôi biết các anh cần nhiều sự dũng cảm hơn chúng tôi để làm cho được việc ấy, vì trong cuộc chiến vừa qua chúng tôi đã là người chiến thắng, mà đối với người chiến thắng lẽ ra thái độ và hành động hoà giải phải chủ động và dễ dàng hơn nhiều. Nếu chúng tôi không chủ động và thấy dễ dàng hơn trong việc này, thì quả thật chúng tôi rất kém cõi và hết sức đáng trách…
Đêm ngoại ô DC yên tĩnh một cách khác thường. DC thật đẹp, nhất là ở những khu ngoại ô này, ở thành phố mà cứ như ở trong rừng, và rừng thì bao giờ cũng vậy, dễ gợi cho người ta vừa sự bình tâm sâu xa lẫn những suy tư có thể thăm thẳm. Khuya lắm rồi đêm ấy, anh S. trầm ngâm rót đầy ly vang cho tôi rồi cho anh, chúng tôi lặng lẽ cụng ly với nhau, lại im lặng rất lâu, rồi anh nói, rất chậm và nhỏ: “Nhiều lúc tôi có suy nghĩ thật vớ vẫn, anh ạ. Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn … Nhưng mà miền Nam thì chắc chắn không thể nào thắng được, làm sao mà thắng được, hở anh. Vì vô số nguyên do và đều là những nguyên do có tính chất cơ bản, quyết định cả.Vậy đó! …”
Tôi đã có lần đọc câu này của anh trong một bài anh trả lời phỏng vấn. Và tôi hiểu anh: Anh muốn nói đến những nền tảng cơ bản nhất của văn hoá và đạo đức xã hội, mà chúng ta, trên con đường mà chúng ta đã chọn để đi đến chiến thắng, do éo le và áp lực từ chính con đường bắt buộc phải chọn ấy, và do cả những lỗi lầm lẽ ra cũng có thể tránh được của chúng ta nữa, chúng ta để cho băng hoại mất đi. Tổn thất đó rất lớn, có những điều thuộc về nền tảng cơ bản và lâu dài. Ở miền Nam, trong một chừng mực nào đó và trong những phạm vi nào đó, anh và những người như anh đã cố gắng gìn giữ nó tốt hơn. Ý nghĩ đó của anh chắc là còn phải được cân nhắc kỹ và tinh tế lắm nữa để nhận ra cho thật rành rẽ chỗ đã phải chỗ chưa hoàn toàn phải. Nhưng có điều chắc chắn, chỉ một người yêu đất nước mình và nền văn hoá của đất nước mình lắm mới có thể nghĩ và nói đến những điều như vậy. Thổ lộ ra những suy nghĩ như vậy, một cách đau đớn, đến chừng rớm máu. Riêng tôi nghĩ, không biết tôi có sai không, có “mất lập trường” quá không, tôi, một con người đã cầm súng kiên định suốt ba mươi năm ở phía bên này của cuộc chiến, tôi thật sự muốn lần ra một phần lẽ phải, dù là nhỏ thôi nhưng mà cần thiết lắm, trong điều anh nghĩ và chân tình và đau đáu nói với tôi…
Tôi có gặp các con anh., cả các cháu nội ngoại của anh. Trong gia đình anh, bây giờ phân tán từ bắc đến nam nước Mỹ, có một quy định nghiêm ngặt: mọi người phải biết và nói giỏi tiếng Việt. Anh bảo gia đình anh sẽ giữ điều đó cho đến đời chắt, đời chít của anh chị. Nhưng rồi có hôm anh hỏi tôi, trăn trở và đau đớn: “Nếu ở thế hệ này của chúng ta, trong nước với ngoài nước chúng ta không thật sự hoà giải được với nhau, thì rồi đến thế hệ sau, thế hệ sau nữa, sẽ ra sao đây? Những người ở bên này lúc ấy có còn là một bộ phận máu thịt thống thiết của Tổ quốc chúng ta, như chúng tôi bây giờ nữa hay không?”.
Dân tộc Việt chúng ta trong lịch sử là một dân tộc không có kinh nghiệm lưu vong, trong khi người Do Thái, người Trung Hoa từng có kinh nghiệm lịch sử lâu dài đó, và đã biến thực tế đó thành một sức mạnh nhiều mặt, thậm chí vô giá của đất nước và dân tộc họ trong tồn tại và phát triển.
Còn chúng ta?
Câu hỏi ấy đặt ra đương nhiên cho những người Việt đang ở cả hai bên đại đương, nhưng cũng đương nhiên trước hết cho chúng ta, vì chúng ta đã là người chiến thắng và đang có trong tay cả đất nước và chịu trách nhiệm về đất nước ấy./.

Read More..

8 thg 2, 2013

Mùa cúm của những người đón Tết xa nhà


Cá vàng




Nhưng nhiều người thì không thể như thế. Mấy ngày gần đây khi lên mạng, Cá xem và đọc được rất nhiều tâm sự của nhiều bạn du học sinh ăn Tết xa nhà từ nhiều nơi trên thế giới, không phải  chỉ ở Mỹ. Hôm trước, Cá đã được xem một clip chúc tết có sự tham gia của các bạn du học sinh trên nhiều nước. Các lời chúc bắt đầu từ Rome, Italy, xuyên suốt nhiều quốc gia, thành phố ở Châu Âu, rồi quay lại Châu Á, rồi đi xuống Châu Úc phía cực Nam, rồi vòng qua Angola ở Châu Phi, vượt đại dương để sang Bắc Mỹ, và cuối cùng dừng chân ở Việt Nam. Clip có độ dài gần 15’ trên Youtube và được thực hiện khá công phu nhưng cũng không kém phần giản dị, dễ thương của các du học sinh. Một người một tâm sự, hai người hai tâm sự, trăm người cũng có thể có trăm tâm sự khác nhau.

​​Rồi khi lướt qua những dòng statuses và những bức ảnh trên facebook, Cá thấy thú vị lắm. Các bạn trẻ ở nhà, có người hăm hở cho post những bức ảnh mình đang ‘nghịch’ gói bánh chưng, trong khi đó có người thì post những bức ảnh chụp lại không khí Tết thời xưa với thịt muối dưa hành câu đối đỏ, với những chùm pháo. Có người thì cầu trời năm nay vẫn được nhận lì xì mừng tuổi. Người thì chỉ cầu mong không còn chịu cảnh ‘cô đơn’ – hay theo ngôn ngữ của các bạn trẻ bây giờ là không còn FA (forever alone) trong năm mới.
Còn có những cập nhật khác, chỉ cần nhìn qua là biết ai là du học sinh vì vào thời điểm này, bạn nào cũng đang bắt đầu bước vào những bài kiểm tra đầu kỳ. Nhất là những bạn nào là sinh viên năm nhất, năm hai đại học, thì lại càng không muốn chểnh mảng học tập. Chỉ có những bạn năm cuối việc học tập gần như xong xuôi hoặc ai đang học cao học thì mới có tâm trạng mà nghĩ đến làm gì cho Tết. Nhưng mà dù sao chăng nữa, cho dù bận học hay không, thì có một điều mà Cá khá chắc chắn rằng: đối với nhiều người, đây là mùa flu, mùa sick - cảm lạnh, mùa cúm; còn đối với những người xa nhà, họ cũng bị sick, nhưng mà là ‘homesick’ – nhớ nhà.

Khi ở nhà, với nhiều bạn ở thành phố, bánh chưng, thịt đông, dưa muối, thì hồi đó gần như ai cũng toàn nhường cho ‘người lớn’ làm hết, còn ‘trẻ con’ là các bạn trẻ thì có bày ra, bưng đến tận miệng, chưa chắc đã muốn ăn. Không chỉ có Tết, những dịp khác như Trung Thu cũng vậy. Ở nhà ít khi ăn bánh nướng, bánh dẻo; nhưng đến khi sang nước ngoài du học, nhìn thấy một hộp bánh Trung Thu có ghi Tiếng Việt, thì mừng như bắt được kim cương đá quý, phải vội vã lôi điện thoại ra chụp ảnh lại mình với…cái bánh. Dễ dàng nhận ra, khi đi du học rồi, không còn những thứ ‘hiển nhiên’ là phải có ấy nữa, thì bỗng dưng lại thèm, lại nhớ, lại da diết, lại khắc khoải, rồi lại bùi ngùi. Nhiều bạn may mắn học ở những trường ở vùng có phương tiện đi lại và gần chợ Việt thì còn đỡ, các bạn có thể dễ dàng ra mua lá chuối, rủ nhau tụ tập đóng khuôn rồi gói bánh chưng. Tỉ lệ thành công thì cũng không cao lắm vì đa số chưa ai tự mình gói bao giờ, ở nhà cũng ít khi ăn, thế mà đến bây giờ, không ai bảo ai, cứ thế mà rủ nhau cùng làm.


Được sắm Tết là một điều gì đó khá xa vời cho những bạn du học sinh ở các trường không gần cộng đồng Việt. ​​Nhưng cũng có nhiều bạn, ở vùng nông thôn – rural areas – thì làm gì có chợ Việt, nói gì đến Tết. Họ không thể có bánh chưng, đồ ăn hàng ngày của họ không khác thường ngày. Nhất là những bạn nào học ở những trường năm đầu hoặc hai năm đầu bắt buộc phải ăn ở trong trường thì khẩu phần ăn của họ vẫn là pizza, vẫn là burgers, vẫn là khoai tây chiên, vẫn là sandwich. Họ hàng ngày vẫn phải cắm mặt lên thư viện học cho các bài kiểm tra, rồi chạy đến lớp, học xong lại chạy đôn chạy đáo làm thêm. Nhưng cũng kì lạ một điều, ai cũng thiếu thời gian ngủ, nhưng trong những ngày này, họ thà thiếu ngủ còn hơn bỏ lỡ những tin tức liên quan đến việc người thân, bạn bè của họ chuẩn bị cho cái Tết ở nhà.

Người ta nói, đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Thực ra, nói đi cũng phải nói lại, được đi du học, cho dù là nước nào đi nữa, thì các bạn du học sinh đều đã may mắn hơn rất nhiều người chưa có cơ hội đi đó đi đây rồi. Đúng là đi nước ngoài thì mở mang được nhiều điều, tiếp xúc được nhiều nền văn hóa, được thử nhiều đồ ăn, được gặp gỡ nhiều người, được tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm; nhưng phải thừa nhận, Tết có lẽ là mùa cúm nặng nhất của các bạn du học sinh hay những ai sống và làm việc xa nhà. Mong các bạn luôn giữ vững tinh thần làm các bài thi thật tốt hay làm việc thật tốt và sẽ không bị trận cúm này đánh gục.

Gửi lời chúc các bạn độc giả của Blog Đinh Bá Tuấn một năm mới an khang, hạnh phúc, mạnh khỏe, và thành công.  

Read More..

4 thg 2, 2013

Những công chức vui tính

Nguyễn Đoàn

Mừng là tuổi thọ của dân ta đã liên tục nâng cao, từ 40 tuổi năm 1960 đến 73 tuổi năm 2011, và tôi cho rằng được vậy do có những công chức vui tính, làm dân lúc nào cũng cười.

Điều đó chẳng phải tôi nói ngoa đâu. Này nhé, ở một huyện nọ có hai ông bà liền kề nhà nhau tranh chấp đất đai. Một hôm, hai người tá hỏa khi nhận được giấy triệu tập của tòa án huyện gọi hai người lên không phải để giải quyết vụ án tranh chấp đất mà để xử … ly hôn. Hóa ra cô công chức khi soạn thảo văn bản triệu tập của Tòa đã sử dụng mẫu văn bản ly hôn lưu sẵn trên máy tính, chỉ thay đổi tên, họ, địa chỉ rồi in ra trình thẩm phán,  thẩm phán cũng không đọc lại, thò bút ký luôn. Thế là mọi người được mẻ cười nôn ruột. Nhưng vẫn chưa buồn cười bằng một cụ ông 73 tuổi vào Bệnh viện đa khoa thành phố nọ chữ bệnh, giấy ra viện của cụ, bác sĩ Trưởng khoa Điều trị và Giám đốc Bệnh viện đã ký tên, chẩn đoán: thai 16 tuần!

Hơn thế nữa, những công chức vui tính còn liên tục hàng năm đề xuất hoặc ban hành những văn bản rất hài hước. Này nhé, văn bản “Về việc ban hành tiêu chuẩn sức khoẻ người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ” quy định ai có chiều cao đứng dưới 1,45 m, trọng lượng dưới 40 kg và ai có vòng đo ngực trung bình dưới 72 cm không được đi xe trên 50 phân khối. Đọc văn bản này, cứ tưởng tượng cái cảnh cảnh sát giao thông stop già trẻ trai gái đang lưu thông xe máy trên đường để đo vòng ngực và đưa lên bàn cân mà không nhịn được cười. Lại nữa, có thông tư ban hành quy định “Thịt và phụ phẩm bảo quản ở nhiệt độ thường chỉ được bày bán trong vòng 8 giờ kể từ khi giết mổ” nhưng ra thông tư xoẹt cái chơi thế thôi,  có tài thánh cũng không thể xác định được thịt này là thịt quá 8 giờ, vì đâu có thiết bị để kiểm tra, rồi giả dụ phát hiện quá 8 giờ thì tiến hành thu hồi, tiêu hủy thế nào, kinh phí ở đâu… biết chắc chẳng thể làm được, thế là dân lại được cười. Lại nữa, có thành phố ra văn bản quy định cán bộ, đảng viên địa phương tổ chức tiệc cưới không được quá 300 người và 50 mâm cỗ. Ô hay, người ta có nhiều người thân, bạn bè thì người ta mời chứ có ảnh hưởng gì đâu mà cấm? Chẳng lẽ có nhiều bạn bè người thân thì tiêu cực nhiều hay sao? Tiêu cực là trong tâm của con người chứ không phải trong tiệc. Cứ nghĩ đến chuyện vì yêu cầu khống chế số lượng người đến dự mà bỗng dưng bạn nhận được một thiếp mời đám cưới có in dòng chữ: “Thiếp này chỉ có giá trị cho một người, cấm đi kèm”, rồi chứng kiến cái cảnh cửa vào dự tiệc cưới có người soát thiếp mời như soát vé ở rạp chiếu phim, lại chứng kiến cái cảnh đám cưới nhà người ta mà có người hùng hổ xông vào đếm bàn tiệc, đếm đầu khách là thấy vui đến cỡ nào rồi. Lại nữa, Nghị định phòng cháy chữa cháy ban hành, ở điều 11 có quy định phạt tiền từ 2 trăm đến 5 trăm ngàn đồng những ai mang điện thoại di động vào trạm xăng. Để thực hiện, chả lẽ mỗi trạm xăng đều phải tuyển thêm 3 người làm theo 3 ca để nhận điện thoại di động của dân gửi khi vào mua xăng và 3 công an theo 3 ca ấy để xử phạt những ai cố tình mang điện thoại di động vào?! Lại nữa, Bộ Xây dựng ra văn bản quy định người nào cho thuê nhà phải làm thủ tục lập doanh nghiệp với điều kiện phải có vốn pháp định 6 tỷ đồng, mà theo Luật Doanh nghiệp lại quy định hộ kinh doanh có trên 10 lao động trở lên mới được lập doanh nghiệp. Vậy thì hai ông bà già về hưu, sống với đồng lương ít ỏi, muốn dành tầng dưới cho thuê kiếm thêm thu nhập, rút lên tầng trên ở, cũng phải bắt buộc có vốn pháp định 6 tỷ và 10 lao động sao? Vui thật!

Những công chức vui tính đến giờ vẫn tiếp tục cho ra những văn bản gây cười kiểu vậy, chẳng hạn xử phạt hành chính đối với những trường hợp nhà vừa ở vừa kết hợp kinh doanh sản xuất, cấm có kính che mặt trên nắp quan tài,  chó, mèo phải chính chủ … làm dân luôn được những mẻ cười thỏa thích, mà các cụ đã có câu: “mỗi lần cười bằng mười thang thuốc bổ”. Nhờ nạp nhiều thuốc bổ quá nên tuổi thọ của dân ta ngày một nâng cao.

 Phát hiện đó của tôi, đố ai cãi nào!
Read More..

4 thg 1, 2013

Thư giãn cuối tuần

BÓP… TRÊN, BÓP… DƯỚI   
          (Sưu tầm)

Một ông miền Trung du mới vào chơi thăm bạn cùng quê đang làm việc ở một thành phố miền Tây Nam bộ. Tối ngồi nhậu, ông rủ rỉ hỏi bạn:
- Này, sao cái món ”vốn tự có” trong này vừa thoải mái, vừa bèo thế ông nhỉ?
Ông bạn miền Tây thủng thẳng:
- Thì ngoài mình cũng bèo chứ sao. “Hàng” Đồ Sơn, Hải Phòng, “hàng” Quất Lâm, Thịnh Long huyện Hải Hậu, Nam Định nghe nói bèo lắm mà.
Ông Trung du cãi:
- Ừ, “hàng” hai nơi ấy cũng bèo, nhưng không thoải mái bằng ở đây đâu ông ơi.
Ông miền Tây vặn:
- Thoải mái nghĩa là thế nào, sao ông nói rõ ra đi.
Ông Trung du:
- Tôi thấy chị em đứng ngồi hè phố ở đây trưng cái bảng to tướng, viết chữ đỏ rực: BÓP 20 NGÀN. Có chị còn nói với mấy đứa thanh niên kì kèo: BÓP TRÊN 20 NGÀN, BÓP DƯỚI 30 NGÀN…Chẹc…chẹc…chẹc…Tôi thấy bèo quá, nhưng mình mới từ xứ khác đến nên… chưa dám hỏi…
Ông miền Tây cười phá:
- Ham, chẹc…chẹc… chẹc… cái gì? Trời ơi trời, cha nội! Cái ví đựng tiền ngoài mình trong này người ta gọi là CÁI BÓP, rõ chưa? BÓP TRÊN là cái ví người ta cài phía trên giá treo, làm giả  da nên rẻ hơn CÁI BÓP DƯỚI  bằng da thật cài phía dưới, rõ chưa?
Ông Trung du ngẩn người một lát rồi đột nhiên cười sằng sặc:
- Bố khỉ, tôi hơi bị ngu lâu, hí… hí. “Hàng” đếch nào thì bóp dưới bao giờ chả đắt hơn… bóp trên. Hí…hí… 


Read More..

1 thg 1, 2013

TÌNH NGƯỜI TRÊN ĐẤT MIẾN


Ngày đầu năm 2013 Blog Đinh Bá Tuấn chúc các bác, các anh chị, các bạn một năm mới tràn đầy hạnh phúc.


Cũng ngày đầu năm này Blog Đinh Bá Tuấn đăng bài viết của bác Dương Đình Giao một trong những người vừa thoát khỏi tai nạn máy bay ngày 25-12-2012 tại Miến Điện để mọi người cùng suy ngẫm về những nghịch cảnh đã xảy ra. 


Dương Đình Giao

Thoát nạn ở xứ người


Ngày thứ 2 của hành trình, hôm 25-12-2012, máy bay của hãng hàng không Air Bagan đưa chúng tôi từ Yangon đi Heho, nơi có hồ Inle nổi tiếng. Theo lịch trình, chuyến bay sẽ đến Heho lúc 9 giờ sau khi dừng lại ở sân bay Mandalay để đón và trả khách trong khoảng 30 phút.
Khi máy bay hạ độ cao chuẩn bị xuống sân bay Heho, tôi nhìn đồng hồ, lúc ấy là 8 giờ 55 phút. Một lát sau, tôi cảm thấy một cú tiếp đất mạnh hơn bình thường khi máy bay hạ cánh. Ngay sau đó là những rung lắc liên tục trong vòng khoảng 10 giây. Đang bất ngờ vì không hiểu chuyện gì đã xảy ra, tôi nghe một tiếng kêu ở phía sau. Biết là đã có chuyện, tôi nhắc mọi người bình tĩnh và đứng lên bật nắp khoang hành lý để lấy ba lô của mình. Nhưng nắp vừa bật, tôi bị đẩy ngã nhào về phía trước. Đứng lên, quay lại nhìn phía sau, tôi thấy các thành viên trong gia đình mình đã rời khỏi ghế và ra được lối đi. Bước lên mấy bước, tôi chợt ngửi thấy mùi khói. Một ý nghĩ thoáng qua: “Chỉ cần một tiếng nổ là tất cả sẽ chấm hết!”
1
Chiếc máy bay vẫn bốc cháy nhiều giờ liền sau vụ tai nạn.
Xuống khỏi thang máy bay, tôi mới thấy máy bay đã không hạ cánh trên đường băng bê tông mà đang nằm trên một cánh đồng, phía đuôi máy bay đang bốc cháy, khói nghi ngút. May mắn bất ngờ, tất cả chúng tôi (6 người trong gia đình và hai mẹ con bà thông gia người Úc) đều an toàn. Tôi vội giục mọi người nhanh chóng chạy ra xa.
Trên chuyến bay có 65 người, kể cả phi hành đoàn, trong đó ngoài 5 người Việt Nam trong gia đình tôi, còn lại đều là khách du lịch từ các nước Mỹ, Pháp, Hà Lan, Hàn Quốc, …
Nơi máy bay hạ cánh khẩn cấp cách sân bay khoảng 3 km và cách đường ô tô khoảng 200 m. Khi ra tới nơi, mấy xe cứu hỏa đã có mặt đang tìm cách tiếp cận với đám cháy. Nhưng vì không có lối vào, phải nối dài vòi rồng nên việc cứu chữa không thật kết quả. Trên đường, chúng tôi đã thấy nhiều biển tên khách của các công ty du lịch, khách sạn mà khách du lịch trên chuyến bay đã đặt chỗ. Họ nhanh chóng tiếp cận với khách của mình. Sự có mặt của họ dù là những người chưa quen biết cũng khiến chúng tôi yên tâm hơn, vì đã có người sẵn sàng hỗ trợ khi khó khăn nơi đất khách quê người. Nhiều xe máy, ô tô đã dừng lại chứng kiến đám cháy trong đó có cả nhiều người dân Myanmar đang làm việc trên cánh đồng. Lúc này dù đã hơn 9 giờ, nhưng mặt trời chưa kịp xua tan sương mù. Trời khá lạnh. Thật cảm động, khi thấy những người nông dân lam lũ, cởi những chiếc khăn choàng khoác lên vai, trùm lên đầu những đứa trẻ, bỏ những đôi dép mình đang đi cho những phụ nữ phương Tây xa lạ đang chịu cảnh rét mướt.
Trên đường thoát hiểm, nhiều túi, xắc, mũ, ba lô,… bị rơi được mọi người tập hợp bên lề đường, để người thất lạc đến nhận. Rất nhiều người dân Myanmar có mặt, nhưng không hề thấy ai để ý đến.
Một lát sau, hai xe khách loại lớn đưa tất cả về sân bay Heho. Khi xe dừng lại bên ngôi chùa gần sân bay, tôi nghĩ người dân Myanmar sùng đạo Phật đã đưa chúng tôi đến đây để tạ ơn Trời Phật giúp thoát nạn. Nhưng không phải! Air Bagan đã nhanh chóng liên hệ với chính quyền sở tại mượn ngôi chùa làm nơi để chúng tôi tạm nghỉ, tránh cái lạnh giá ngoài trời.
2
Người dân túm tụm tại hiện trường.
Xuống xe, chúng tôi lại thấy những người dân bình thường đang mang đệm, chăn của gia đình mình trải trên nền chùa bằng gạch men. Khi mọi người đã vào hết trong chùa, các nhân viên y tế đã có mặt. Họ thăm khám, đo huyết áp, băng bó cho những người bị thương nhẹ. (những người bị thương nặng đã ngay lập tức được đưa về Yangoon, có hai khách người Mỹ bị bỏng nặng đã được đưa sang Bangkok bằng trực thăng). Nước uống, bánh trái đã được mang đến.
Lúc 10 giờ, tức là sau khi sự cố xảy ra 1 giờ, ông chủ tịch huyện sở tại cũng đã đến thăm hỏi những người gặp nạn. Lúc này cảnh kẻ nằm người ngồi trong chùa vô cùng lộn xộn. Việc kiểm đếm những hành khách có mặt thật khó khăn. Những người có trách nhiệm có lẽ vì tôn trọng đã không yêu cầu chúng tôi ngồi cho ngay hàng thẳng lối. Họ cứ đếm đi đếm lại, người đếm bằng tiếng Myanmar, người đếm bằng tiếng Anh. Có lúc thấy ba bốn người cùng đếm. Sau tôi mới hiểu, họ cần nhanh chóng xác định số người có mặt ở đây để có thể phát hiện số người mất tích nếu có.
Phải đến khi có danh sách hành khách từ sân bay Yangoon và Mandalay gửi tới, việc kiểm đếm mới chấm dứt. Lúc này công việc đơn giản hơn.Những người có mặt được đánh dấu vào danh sách. Nhưng việc này cũng được thực hiện tới ba bốn lần bởi những người khác nhau, chứng tỏ họ rất thận trọng.
Đến 11 giờ, chúng tôi được đưa tới phòng khách của sân bay. Ở đây có bia, nước ngọt và những thức ăn nhẹ. Họ thông báo cho chúng tôi biết, ai muốn trở về Yangoon sẽ được bố trí một chuyến bay riêng, còn những ai muốn ở lại sẽ được đưa tới một resort bên hồ Inle chờ đợi giải quyết hậu quả. Gia đình chúng tôi quyết định ở lại và được đưa tới resort bằng hai xe con. Ở đây, chúng tôi đã được đón tiếp chu đáo, hai hoặc ba người được bố trí ở trong một biệt thự.
3
Nhân viên cứu hỏa dập tắt đám cháy và tìm kiếm các nạn nhân.
Sau khi tạm nghỉ ngơi, đến 3 giờ, chúng tôi được báo đi ăn cơm. Ai cũng nghĩ chắc sẽ được một bát mì hoặc cái gì đại loại như thế, nhưng thật bất ngờ, tất cả được mời một bữa tiệc buýp-phê thịnh soạn, trên bàn ăn còn có cả hoa và thắp nến. Người quản lý giải thích “vì hôm nay là Noel!” Sau khi ăn xong, mỗi người chúng tôi được phát quần áo và một số tiền (tiền Myanmar và đôla) đủ để mua sắm lại những hành lý đã mất và tiếp tục hành trình nếu muốn. Ai cũng bất ngờ trước sự khẩn trương của Air Bagan.
Bảy giờ tối, mọi người lại được mời ăn cơm. Lại tiệc buýp-phê, hoa và nến, có thêm rượu champagne, rượu vang. Ông chủ tịch Tập đoàn HTOO (mà Air Bagan là một trong nhiều công ty con) đã từ Yangoon vượt gần một nghìn cây số tới thăm hỏi những người gặp nạn. Sáng hôm sau, chúng tôi lại được nhận thêm một số quần áo và tiền (chắc do lệnh của ông Chủ tịch tập đoàn).
Air Bagan đã vô cùng chu đáo và có trách nhiệm giải quyết hậu quả của vụ tai nạn. Trong suốt thời gian ở lại (5 ngày), ở Heho hay khi đã trở về Yangoon, tất cả hành khách trên chuyến bay đều được ăn ở tại những nơi tương đương khách sạn 5 sao, được hưởng các dịch vụ như giặt là, điện thoại quốc tế, … hoàn toàn miễn phí. Tôi vốn mơ ước một cuộc sống bình dị, rất sợ tất cả những gì là hào nhoáng, bóng bảy, nay trong hoàn cảnh không một xu dính túi, trên người chỉ độc một bộ quần áo (hành lý và xách tay đều đã cháy cùng máy bay, ngay cái máy ảnh đeo trên cổ cũng chỉ còn sợi dây đeo, kính cận thị cũng rơi mất), lại được ăn ở như thế này thật cũng là một bất ngờ thú vị. Chúng tôi không phải bước chân ra khỏi khách sạn, mọi công việc cần thiết đều do nhân viên của họ giải quyết. Ngay việc làm giấy thông hành để sử dụng khi còn trên đất Myanmar cũng được thực hiện ngay tại nơi ở. Theo họ, chỉ hai việc chúng tôi phải có mặt: đi kiểm tra sức khỏe và làm lại hộ chiếu.Nhưng với hai việc này, họ đều cho xe đưa đón và cử nhân viên đi theo hỗ trợ khi cần thiết. Họ đã hợp đồng với bệnh viện tốt nhất Yangoon để Giám đốc bệnh viện có mặt bất cứ lúc nào chỉ đạo việc thăm khám và chữa trị khi có khách do họ đưa đến.
Những nhân viên đi theo cũng ngồi đó chờ đợi và đưa khách về tận nơi ở sau khi việc thăm khám kết thúc. Vợ tôi và bà thông gia người Úc sau khi gặp chấn động mạnh bị đau lưng. Hai bà đã được thăm khám suốt hơn 3 giờ, mỗi người được làm đủ các loại xét nghiệm, chụp 4 tấm phim cỡ 50 x 50. Khi thấy không có vấn đề gì trầm trọng, họ đã cho mỗi người một cái đai bó lưng và thuốc giảm đau các loại. Bà xã nhà tôi đã nhận xét: Cả đời gần 70 tuổi, chưa bao giờ được thăm khám kỹ càng như thế!
Sau khi về Yangoon, Air Bagan đã tập hợp mọi người để thông báo về việc giải quyết bảo hiểm cho hành khách đi trên chuyến bay. Cuộc họp này cũng được thông báo cho các sứ quán có công dân trên chiếc máy bay gặp nạn. Sứ quán các nước đều có mặt đầy đủ để sẵn sàng can thiệp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân nước mình, trừ sứ quán Úc (vì đang đóng cửa nghỉ Noel và Tết dương lịch) và sứ quán Việt Nam (không rõ lý do). Nhưng sứ quán các nước cũng không có nhiều việc phải làm, vì Air Bagan đã giải quyết vụ việc với đầy đủ tinh thần trách nhiệm. Địa chỉ và số tài khoản của hành khách được ghi lại để nhận kết quả sau khi một công ty bảo hiểm của Anh tiến hành bồi thường.
Không chỉ những người có trách nhiệm, suốt 5 ngày, dù ở đâu, chúng tôi cũng đón nhận được sự ân cần chu đáo của mọi nhân viên Air Bagan và nhân viên tại các khách sạn, resort dù tuổi đời còn rất trẻ. Họ dìu những người bị đau khi lên xuống các bậc thềm, đưa chúng tôi đến tận nơi, mở cửa, bật đèn rồi giơ tay mời vào khi hỏi đến nơi nào đó. Thấy trên tay ai có mấy túi nilon, vỏ hoa quả, họ đều nhanh chóng giơ tay đón lấy mặc dù thùng rác ở ngay trước mặt. Những cử chỉ ấy tôi hiểu không chỉ vì phương châm coi “khách hàng là Thượng đế”. Qua ánh mắt, nụ cười của họ, chúng tôi cảm nhận được sự đồng cảm, sẻ chia của những con người giàu lòng trắc ẩn.
Khi vào một làng dệt lụa thủ công trên hồ Inle, khi được biết chúng tôi là những người vừa gặp nạn, chủ cửa hàng lập tức hạ giá 30% cho toàn bộ sản phẩm mà chúng tôi mua. Số tiền thực ra không nhiều nhưng cử chỉ ấy của họ cũng khiến chúng tôi phải xúc động.
Sau 5 ngày, mọi thủ tục đã xong. Air Bagan lại cho xe đưa gia đình tôi ra sân bay. Ở đây, nhân viên của họ làm tất cả mọi thủ tục cho chuyến bay và chỉ ra về sau khi chúng tôi tạm biệt để vào phòng cách ly.
Từ Myanmar trở về, tôi cứ bâng khuâng và ân hận, vì sao một đất nước chẳng cách xa chúng ta là mấy, một xứ sở có những người dân giàu lòng nhân hậu, vị tha như thế mà tôi chưa hiểu biết được bao nhiêu?
Trong cuộc đời chưa bao giờ gặp một tai họa lớn và lại thoát hiểm “ngoạn mục” như vậy, chúng tôi biết ơn Ông Bà, Cha Mẹ đã ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức dù trong biết bao vất vả thiếu thốn để con cháu bây giờ được hưởng phúc. Tôi xin cám ơn những người dân Myanmar đã giang vòng tay che chở khi gia đình tôi gặp nạn. Tôi cám ơn Air Bagan, đã cư xử đàng hoàng, đầy trách nhiệm trước sự cố chắc chắn họ không hề mong muốn. Và tôi thầm nghĩ, chuyến đi hôm nay của chúng tôi dang dở, nhưng nhất định sẽ có chuyến đi khác. Một đất nước với những con người như thế xứng đáng để chúng ta khám phá.

Gặp “hạn” với xứ mình

Tôi có một người bạn, do có hoàn cảnh nhiều thuận lợi (chú bác cô dì, anh em con cháu ở nhiều nước trên thế giới)
5
nên anh đã đi khắp nơi trên cả các châu lục Âu, Á, Mỹ, Phi, Úc (chỉ còn thiếu châu Nam Cực). Một hôm, ngồi uống bia, anh dứ dứ ngón tay, bảo tôi: “Ông mà đi ra nước ngoài thì liệu mà giữ lấy cái hộ chiếu. Ông nên nhớ rằng, ông mất tiền bạc, người ta có thể cho ông, nhờ các tổ chức nhân đạo giúp ông. Nhưng nếu mất hộ chiếu thì, … thì,… chỉ có mà bỏ mẹ!”

Tôi nghe “lời răn dạy” mà thoáng có chút ngờ vực.
Vì thế, trong vụ tai nạn máy bay ở Myanmar, khi phát hiện bị mất hộ chiếu (mà lại tận 3 quyển của ba người), tôi thật sự lo lắng.
Biết chúng tôi là người Việt Nam, ông quản lý khách sạn nơi tôi đang ở cho tôi số điện thoại của một người mà theo ông là nhân viên sứ quán Việt Nam ở Yangoon. Nhưng chủ nhân của số điện thoại này nói đúng là mình làm việc ở sứ quán nhưng không làm công việc về lãnh sự. Ông đã cho chúng tôi số điện thoại của ông Trần Văn Hoằng, Bí thư thứ nhất, phụ trách công việc này. Liên hệ với ông Hoằng, chúng tôi được ông trả lời, khi nào về Yangoon thì đến sứ quán và “không có gì khó khăn cả, giấy tờ sẽ được cấp ngay thôi” . Nghe lời ông Hoằng mà chúng tôi nhẹ cả người.Anh bạn tôi đã quá bi quan khi nói đến chuyện mất hộ chiếu.
Buổi trưa về tới Yangoon, chúng tôi đã điện thoại cho ông Hoằng và được ông hẹn đến vào buổi chiều.
Chiều hôm đó, tất cả những người cần cấp lại hộ chiếu trong gia đình tôi đã có mặt tại sứ quán Việt Nam ở Myanmar. Cùng đi có một nhân viên của Air Bagan. Vừa bước vào cổng, chúng tôi đã thấy một tấm baner kín bức tường lớn: Nhiệt liệt chào mừng quý khách tới thăm sứ quán Việt Nam ở Myanmar . Thật là thân thiện và mến khách! Nhưng chúng tôi đã lầm, vì chúng tôi không phải đến thăm mà đến xin sự giúp đỡ.
Sứ quán Việt Nam thật khéo chọn người! Bà lễ tân người Myanmar thấy năm sáu người bước vào phòng khách nhưng vẫn mải mê với chiếc điện thoại. Nghe cách nói cười bả lả, chắc đây không phải là chuyện công vụ. Sau khoảng 10 phút, bà mới đặt điện thoại và đến lúc này, nhân viên của Air Bagan mới có thể nói mục đích chuyến viếng thăm của chúng tôi. Bà gọi điện thoại đi đâu đó, rồi bảo chúng tôi ngồi chờ. Chờ tới 30 phút, không thấy ai ra tiếp, chúng tôi lại điện thoại báo để ông Hoằng biết chúng tôi đã ngồi chờ ngoài văn phòng của sứ quán. Ông Hoằng lại bảo chờ. Lại 30 phút nữa, mới thấy ông Hoằng xuất hiện. Chắc để tiết kiệm thời gian vì “công việc bề bộn” của sứ quán, nhà ngoại giao bỏ qua việc thăm hỏi, an ủi, động viên những đồng bào của mình vừa thoát chết, đưa cho chúng tôi mỗi người 3 mẫu in sẵn tờ giấy khổ A4, yêu cầu chúng tôi khai báo, đồng thời đòi nộp 3 tấm ảnh. Việc này khiến chúng tôi bất ngờ, vì nhà chức trách Myanmar chỉ chuẩn bị cho chúng tôi mỗi người một tấm ảnh để làm việc này. Nhưng ông Hoằng không giải thích gì thêm và quay vào trong với những “công việc bận rộn” của mình.
Rất may, anh nhân viên của Air Bagan đi theo bảo chúng tôi cứ khai giấy tờ, còn anh ta cùng lái xe đi làm thêm ảnh giúp chúng tôi. Đến khi có thêm mỗi người hai tấm ảnh, vẫn chẳng thấy ai có mặt. Mặc dù chưa hết giờ làm việc nhưng nhân viên lễ tân người Myanmar cũng chẳng thấy đâu. Gần 5 giờ, ông Hoằng mới xuất hiện và hẹn chúng tôi 3 giờ chiều hôm sau gọi điện đến để biết kết quả. Khi chúng tôi thắc mắc sao không được kết quả ngay, ông Hoằng giải thích, còn phải chờ thẩm tra ở trong nước (chắc vì sợ “thế lực thù địch” luồn về trong nước để phá hoại công cuộc xây dựng CNXH?). Nếu xong thì mai có giấy, còn nếu không xong thì phải chờ đến tuần sau (vì ngày mai đã là thứ 6, thứ 7 và chủ nhật sứ quán không làm việc). Chúng tôi trở vể với bao thất vọng.
Đêm ấy, tôi không ngủ được. Sao có thể yên tâm chờ đợi đến tuần sau trong khi người thì chấn thương, người thì có bệnh mãn tính mà các loại biệt dược mang theo đã mất hết. Tôi buộc phải nhờ đến sự giúp đỡ của ông Nguyễn Vũ Tú, Đại sứ Việt Nam tại Philippin. Có lẽ do sự tác động này, đến 3giờ chiều, điện thoại đến sứ quán, chúng tôi được ông Hoằng trả lời: đã có giấy tờ và hẹn 4 giờ rưỡi đến lấy. Chúng tôi lại thở phào nhẹ nhõm.
Đúng hẹn, 4 giờ rưỡi, chúng tôi có mặt ở sứ quán. Lại được bảo ngồi đợi. Thời gian cứ trôi, nhưng không thấy ai ra tiếp. Đến 5 giờ kém 10 phút, một kết quả không mấy tốt đẹp đã hiện ra trước mắt: 5 giờ, ông Hoằng sẽ xuất hiện mang theo 3 giấy thông hành, nhưng chúng tôi không thể nhận vì nhân viên thu tiền lệ phí đã ra về vì hết giờ làm việc. Sự cố gắng giúp đỡ của ông Nguyễn Vũ Tú có thể không có tác dụng. Lúc này, tôi lại nhớ tới lời “đe dọa” của anh bạn và cảm thấy anh ấy chưa nói hết sự nguy hiểm khi mất hộ chiếu. Tôi cảm thấy việc mất hộ chiếu còn đẩy tôi vào tình cảnh “trên cả bỏ mẹ”.
4
5 giờ kém 5, tôi quyết định phải hành động gấp nếu không muốn nằm chờ thêm mấy ngày nữa. Tôi kín đáo lên tầng 2 của văn phòng sứ quán tìm đến phòng làm việc của đại sứ Chu Công Phùng cầu cứu. Rất may, cửa phòng làm việc mở, ông Phùng đang ngồi viết, tôi “liều mạng” bước vào tự giới thiệu. Ông Phùng vồn vã đứng dậy bắt tay và mời tôi ngồi. Tôi vội cám ơn hết lòng vì sự giúp đỡ của ông Phùng. Sau khi biết tôi đang ở khách sạn do sự sắp xếp của Air Bagan, ông Phùng bảo tôi: “Chúc mừng bác và gia đình đã may mắn thoát khỏi hiểm nghèo. Thế bác đã nhận được đầy đủ giấy tờ rồi chứ?” Ông Phùng vô cùng ngạc nhiên khi tôi nói cho đến nay tôi chưa nhìn thấy những giấy tờ này như thế nào. Ông Phùng vội đưa tôi sang phòng làm việc bên cạnh của ông Trần Văn Hoằng – Bí thư thứ nhất phụ trách công tác lãnh sự.

Cửa mở, tôi thấy ông Hoằng tay đang di chuột máy vi tính, trên mặt bàn có mấy tấm phôi giấy thông hành.Sau khi nghe ông Phùng hỏi: “Giấy tờ của bác Giao đã làm xong rồi chứ?” Ông Hoằng vội rời máy vi tính và trả lời: “Xong bây giờ đây” ! Lúc này là đúng 5 giờ. Lúc đó ông Hoằng mới viết tên, dán ảnh vào những tờ giấy thông hành chuẩn bị cấp cho chúng tôi. Ông Phùng vội xin lỗi vì đang dở việc gấp và nói tôi ngồi chờ. Khoảng 15 phút sau ông Phùng quay lại, gọi người pha nước và hỏi thăm về hoàn cảnh xảy ra tai nạn, về việc được bảo hiểm đền bù. Tôi cám ơn và trả lời ông Phùng: “Hôm qua, khi họp bàn về vấn đề bảo hiểm, Air Bagan đã mời sứ quán các nước có công dân trên máy bay gặp nạn đến dự. Các sứ quán đều đã cử người đến để sẵn sàng bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho công dân nước họ nhưng sứ quán Việt Nam không có mặt.” Tôi cũng không quên nói để ông Phùng yên tâm, mặc dù thế chúng tôi đã được “ăn theo” công dân của các nước “Tư bản giãy chết” nên vấn đề bảo hiểm không có gì khó khăn.
Khi ông Hoằng viết xong mấy giấy thông hành liền bảo tôi sang nộp lệ phí. Ông Phùng chính là người đã dẫn tôi đến nơi làm việc của bộ phận hành chính (có lẽ ông Phùng đã yêu cầu họ ở lại dù thời gian làm việc đã hết từ lâu). Nhân đây, một lần nữa, gia đình chúng tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến ông Chu Công Phùng – Đại sứ Việt Nam ở Myanmar. Tôi nộp lệ phí và nhận giấy thông hành. Nhân viên của Air Bagan vẫn chờ tôi ở tầng dưới. Lúc ấy đã là 6 giờ 30 phút.
Nhờ ba giấy thông hành này chúng tôi mới có thể trở về nước vào ngày Chủ nhật 30/12/2012.
Để các bạn hiểu thêm niềm sung sướng của một người dân trong một đất nước có độc lập tự do mà chúng ta vẫn đang tự hào, tôi xin kể hai câu chuyện xảy ra trong chuyến đi này:
- Câu chuyện thứ nhất: Bà thông gia người Úc của tôi cùng với cô con gái cũng bị mất hộ chiếu. Bà không may mắn như tôi vì sứ quán Úc đang đóng cửa nghỉ lễ. Nhưng chỉ một cuộc điện thoại vào đường dây nóng của Bộ Ngoại giao Úc, bà đã kéo được người phụ trách lãnh sự trở về nhiệm sở và nhận được hộ chiếu sau 2 giờ đồng hồ (Hộ chiếu chứ không phải giấy thông hành).
- Câu chuyện thứ hai: Từ khi đi cùng chúng tôi tới sứ quán Việt Nam để nhận giấy thông hành, nhân viên của Air Bagan đã qua điện thoại giữ liên lạc với cơ quan xuất nhập cảnh của Myanmar và yêu cầu họ ở lại sau giờ làm việc chờ giấy thông hành của chúng tôi đóng dấu xác nhận đã nhập cảnh (có như vậy khi ra sân bay chúng tôi mới có thể làm thủ tục xuất cảnh). Sau khi nhận được giấy thông hành lúc 6 giờ 30 phút nhân viên của Air Bagan đã đến cơ quan XNC làm thủ tục (chúng tôi ngồi chờ trên ô tô, không cần có mặt). Nhưng rất tiếc người nhân viên này quên không mang theo ảnh của chúng tôi. Anh ta trở về báo với chúng tôi 9 giờ sáng hôm sau cần có mặt tại khách sạn để cơ quan XNC Myanmar cho người đến chụp ảnh và họ sẽ trả lại giấy tờ sau khi hoàn tất.
Vì sao ông Hoằng đã hành xử như vậy với chúng tôi – những người đồng bào của ông đang gặp hoạn nạn ở nơi đất khách quê người? Điều ấy chỉ có Trời biết, Đất biết và ông Hoằng biết.
Dương Đình Giao
1200 đường Láng, Hà Nội.
ĐT 0983 240446.
Read More..

15 thg 12, 2012

Cười với thơ "Hậu bút tre"


Nguyễn Giang

Đến nay có thể nói “Thơ Bút Tre” là một trường phái. Bởi vì, thơ Bút Tre ngày càng phát triển rầm rộ, mạnh mẽ và phong phú. Nó không còn bó hẹp trong phạm vi truyền khẩu nữa. Các sách, báo, tạp chí đ• đăng tải khá nhiều. Có tờ báo còn mở hẳn chuyên mục “Thơ Bút Tre” có địa phương còn thành lập câu lạc bộ “Thơ Bút Tre”.
Sức lan tỏa của nó không chỉ ở trong nước mà còn ảnh hưởng ra cả nước ngoài, ở những nơi Việt Kiều sinh sống. Nhiều người làm thơ Bút Tre. Có tác giả in thành tập, gọi là thơ “Hậu Bút Tre”. Điển hhhh như: Đặng Trần Luật, Phạm Ngọc Chân, Nguyễn Vũ Tiềm và đặc biệt là Nguyễn Bảo Sinh, người kế tục sự nghiệp thơ Bút Tre thành công hơn cả.
Một số tác giả còn lấy bút danh dựa trên cơ sở người sáng lập ra nó như: Bút Tre Trẻ, Bút Tre Xanh, Bút Tre Non, Bút Nứa, Bút Sậy rồi Bút Tre Tây, lại còn cả Bút Tre Uôn-Cúp nữa...
Một nhà thơ Bút Sắt viết:
Ngày nay cuộc sống bộn bề
Nụ cười thuốc bổ, ca vè dân gian
Bởi ai cũng có thể làm
Bút Tre, Bút Nứa, lại càng bút bi.
Thực ra, Bút Tre chỉ là người “khai mở” một cách viết mới, không rõ vô tình hay hữu ý, nhưng đ• gây ấn tượng rất mạnh và được nồng nhiệt đón nhận.
Điển hình là những câu:
- Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.
- Chú về công tác bảo tàng
Cũng là nhiệm vụ cách màng (mạng) giao cho
- Con ruồi là vật hiểm nguy
Cái chân của nó rất vi trùng nhiều.
- Bỗng đâu bộc phá thình lình
Nổ tung chính giữa tổng dinh họ Đờ.
(Tướng Đờ – Cát bại trận ở Điện Biên Phủ)
- Chị em du kích tài thay
Bắn tàu bay Mỹ rơi ngay cửa Ty mình
- Hoan hô các bạn Quảng Bình
Từ trong tuyến lửa thình lình ra đây.
- Giặc Mỹ leo thang đến Phú Tho (Thọ)
Na-pan đốt cháy cả rừng co (cọ)
Sẵn sàng chiến đấu chị em bắn
Rớt trước ty mình một dù đo (đỏ)
- Bấy lâu gan dạ bồn chồn
Nay mừng gặp lại sáng khôn con người.
Chính những câu thơ của Bút Tre đ• vô tình “vẽ đường cho hươu chạy”. Nó trở thành điểm tựa cho dân gian “Hậu Bút Tre” tận dụng khai thác triệt để. Bắt nguồn từ cách viết của Bút Tre, họ chế thêm, bịa thêm, nói ngược nói xuôi, nói lái các kiểu chẳng biết đâu mà lần. Khi giả bộ ngô nghê, khi cợt nhả bỗ b•. Thời đại mới, trình độ học vấn ngày càng cao. Trình độ thơ phú cũng lắm “cao thủ”. Nhiều cây bút Hậu Bút Tre rất tài hoa, sắc sảo, hài hước một cách tế nhị, khéo léo. Tục mà kín đáo, hở mà không “nghĩa lộ”. Nó khởi sắc trên cả... “tuyệt vời”, không hổ danh “Hậu sinh khả ố ”.
Thơ Hậu Bút Tre vốn từ thực tế, chủ yếu đọc cho vui cười thoải mái. Chẳng có ý đồ xiên xẹo hay chọc giận ai cả. Cách diễn tả thường đơn giản, cụ thể, nêu trực tiếp vấn đề cần nói theo lối úp úp, mở mở hài hước, tếu táo. Đôi khi tự đem mình ra châm biếm, chế diễu, cười cợt:
- Vợ đẹp thì chồng phải lo
Đêm nằm lắm kẻ rình mò ước ao
Chẳng thà cứ xấu như tao
Cho không cũng chẳng thằng nào nó them (thèm)
- Cao lương mỹ vị đều chê
Chỉ thích cơm đĩa đặt kề đùi non
- Đánh cá phải tiết kiệm mìn
Đàn ông yếu thận chớ tìm gái tơ
- Thà ăn một miếng bò non
Còn hơn sơi hẳn cả con bò già
- Ước gì anh hóa thành gà
Để đi đạp mái những nhà xung quanh
- Ước gì em hóa thành trâu
Anh hóa thành đỉa, anh bâu lên người
- Sướng nhất là ngủ với giai
Thứ nhì là được ăn xoài chín cây.
Phổ biến nhất là thêm, bớt, nhái, mô-đi-phê từ cái nọ sang cái kia. Chính cái sự cố tình bắt chước ấy, chế ra ấy đ• gây ra tiếng cười sảng khoái:
-  Bây giờ mận mới hỏi xoài
Vườn hồng đ• có ai nhoài vào chưa
Mận hỏi thì xoài xin thưa
Vườn hồng chưa có ai khua tay vào.
- Hôm qua đi chơi khuya về
Hương tình, mem rượu bay đi ít nhiều
Vợ không ta thán một điều
Chỉ con chó mực vẫy liều cái đuôi.
- Lương chồng, lương vợ lương con
Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm
Lương tâm đem chặt ra hầm
Chồng chan, vợ húp lần rầm khen ngon.
- Bầm ra ruộng cấy bầm run
Con vào nhà nghỉ còn run hơn bầm
Si-đa phục sẵn xa gần
Không hại riêng mình, hại cả vợ con.
- Vợ ở xa, gái ở gần
Cái váy nó ngắn, cái chân nó dài
Ngực nó để hở ra ngoài
Ngày ngày nom thấy bố ai chả thèm.
Thơ Hậu Bút Tre thường bột phát hết sức tự nhiên như thế, đôi khi nội dung còn méo mó, chữ nghĩa xộc xệch thô giáp, nhiều lúc tỏ ra ngô nghê, ngộ nghĩnh “ấm ớ việt gian” được sáng tác kịp thời dưới mọi hình thức.
- Tiễn anh ra bến ô tô
Em về em khóc tồ tồ cả đêm
- Đông vui chớ có chen vào
Gái tơ huých nhẹ, chỗ nào cũng đau
- Rượu minh mang rất tuyệt vời
Chỉ dùng chữa bệnh cho người yếu chim
- Gái trinh vắng bóng trên đường
Hóa ra còn ở trong trường mầm non
- Không đi không biết Sài Gòn
Đi về trong túi chẳng còn một xu
Nói ra thì bảo rằng ngu
Cái mồm ăn ít, thằng cu ăn nhiều.
- Dỗ trẻ con cho sờ ti
Dỗ người lớn chẳng khác gì trẻ thơ
Sờ rồi lòng những ngẩn ngơ
Lại mong sờ chỗ trẻ thơ ra đời.
Nhưng, thú vị nhất, rôm rả nhất vẫn là chuyện “Bồ bịch”. Thời nào cũng thế “có cái nắng, có cái gió thì phải có cái đó”. Thời “mở cửa”, “cởi” hơn, “mở” hơn “thoáng” hơn, thể hiện bản năng gốc đúng nghĩa hơn.
- Bánh mỳ phải kẹp pa-tê
Ai mà chả có máu dê trong người.
Với lối sống hiện đại nên “hại điện” là cái chắc. “Đạo bồ bịch” được xem là chuyện “sinh hoạt vui vẻ”, “chuyện thường ngày ở huyện”. Không cặp bồ mới lạ chứ cặp bồ thì quá...kính nể!
-Trái tim anh như căn nhà trống
Gió em vào nếu chán gió lại ra
Có chuyện kể rằng: “Thầy thuốc hỏi bệnh nhân tình trạng sức khỏe ra sao, bệnh nhân khai:
- Nhà em mắc chứng bệnh lạ lắm, cứ thấy gái là chân tay bủn rủn, bứt rứt như kim châm, kiến đốt. Toàn thân nóng bừng bừng, tưởng sắp bốc lửa.
Thầy lại hỏi:
- Bị lâu chưa?
- Thời trẻ thì nhẹ thôi, nhưng càng ngày càng nặng thêm, nhất là sau một thời gian lấy vợ đến bây giờ thì nặng lắm rồi, mong thầy mở lượng từ bi cứu giúp.
Thầy lắc đầu:
- Ta chịu! Đến ngay như ta mắc bệnh này đ• lâu mà sư phụ ta còn phải bó tay, vì sư phụ bị nặng hơn ta nhiều.
Bởi thế, mới có thơ nhắc nhở:
- Vợ là Thánh chỉ vua ban
Có sao dùng vậy chớ bàn đúng sai.
Nhưng nhiều ông chồng cứ ngó nghiêng, mắt la mày liếm.
- Từ khi ta có vợ rồi
Thấy mọi cô gái trên đời đều xinh.
Rồi cái lý sự cũng được thể hiện rất “cùn”:
- Con bò có một khối u
Đàn ông một vợ thì ngu như bò.
- Rượu chè cờ bạc gái trai
Là thứ thuốc bổ ông trời ban cho.
- Suốt đời chỉ yêu một người
Bệnh ấy còn nặng gấp mười ung thư.
- Phải hiểu thật kỹ đàn bà
Lúc trẻ ghen ít, càng già càng ghen.
- Chỉ lo giữ vợ trong nhà
Vừa hèn vừa chẳng xứng là đàn ông.
Không những thế họ còn nói rất vui, rất láu cá, ỡm ờ. Gọi vợ là cơm, bồ là phở “Sáng đưa cơm đi ăn phở, trưa dẫn phở đi ăn cơm, chiều cơm đi đằng cơm, phở đi đằng phở. Tối ôm cơm nhớ phở?!! Và, Vợ là địch, bồ là ta, quanh quẩn gần nhà ta đi với địch, tham quan du lịch ta đi với ta. Những lúc can qua ta về với địch. Đêm nằm với địch, ta lại nhớ ta”.
- Ai mà chả thích ăn quà
Nhưng mà vẫn phải về nhà ăn cơm
Nhai cơm thì khô như rơm
Cho nên cứ phải vừa cơm vừa quà.
Đôi khi ngụy biện theo lối vơ vào:
- Bờ sông lại lở xuống sông
Đàn bà ngủ với đàn ông thiệt gì.
- Kim đâm vào thịt thì đau
Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời.
- Sướng nhất chết ở chiến trường
Sướng nhì chết ở trên giường mỹ nhân.
- Chiến trường thích cựu chiến binh
ái tình thích kẻ chiến trinh lần đầu.
Thế đấy, đừng tưởng cựu chiến binh hay người cao tuổi là “hết phim” là “khát vọng” tập cuối đâu. Nhầm!.

- Già rồi đóng bỉm đi chơi
Quyết không quanh quẩn ở nơi xó nhà.
- Em đừng ngần ngại cái tuổi ta
Tóc bạc râu xanh, đứng đỉnh già
Yêu đương chưa chịu thua ai nhé
Bia rượu kém gì mấy thằng cha
Của nợ hai tay đè chửa xuống
Khối tình nong m•i cứ to ra
Già ở chỗ nào thây kệ nó
Chỗ ấy xem ra vẫn chửa già.
- Tóc thì nửa bạc nửa xanh
Em sờ củ hành thấy vẫn còn tươi
Em khen ta quá tuyệt vời
Già đâu cũng mặc, chỉ cốt tươi củ hành.
Cũng có người mạnh mồm như thế, nhưng có người lại than thân trách phận, nghe xót xa lắm:
- Ngày xưa vác pháo băng đồi
Nay không nhấc nổi qua đùi chị em.
Bởi chị em không sợ mỏi, không sợ mệt, chỉ sợ mềm.
- Tuổi già như lá mùa thu
Cái răng thì rụng, cái cu thì mềm
Đôi khi cũng thấy xòm xèm
Nhưng mà chỉ dở ra xem, chứ...không làm.
Xem ra cái gì cũng thành thơ được, đến mấy ông bợm rượu cũng có khoảng trời thơ riêng theo cách nói: “Chim khôn tìm cành cao mà đậu, người khôn tìm bạn nhậu mà chơi”.
- Hiu hiu gió núi đầu non
Những thằng uống rượu là con ông trời
Tưởng rằng nó uống nó chơi
Ai ngờ nó uống để rơi xuống trần.
- Trăm năm bia đá cũng mờ
Nghìn năm bia rượu lơ mơ suốt ngày.
- Rượu cay rượu đắng một đời
Uống cho quên hết những lời thế nhân.
Thơ Hậu Bút Tre là thế, thời nào cũng vậy, nó cứ tồn tại, giống như cái anh say rượu ấy, “uống cho đất bằng lại” lủng ca lủng củng: “Tôi say? anh say, hàng xóm say chứ tôi say đâu mà say?”
Rồi hai chân run lẩy bẩy, tay không chém nổi gió, miệng vẫn lảm nhảm:
- Tay cầm bầu rượu nắm nem
Ta cầm thiên hạ chứ cầm em làm gì!
Âu đấy cũng chỉ là lời nói của kẻ say.
- Bà con đừng chấp làm gì.
Cám ơn! Cống hỷ! Mec-xì! Xanh-kiu!
          
Read More..