Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

27 thg 8, 2013

Thân tứ đại trả về tứ đại

Huỳnh Văn Úc


- Bạch Hòa thượng, trong các bài giảng của Ngài con thấy hay nhắc đến thân tứ đại. Vậy thân tứ đại nghĩa là gì?
- Đạo Phật nói rằng thân này khi đủ duyên thì do tứ đại hòa hợp mà thành, hết duyên thì mất, tứ đại lại trả về cho tứ đại. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa. Trong tiếng Phạn đất là pathavi; nước là apo; gió là vayo; lửa là teyo. Chất cứng như xương cốt là đất, chất lỏng như máu và dịch là nước, hơi thở là gió, nhiệt lượng trong cơ thể người là lửa. Con người từ khi sinh ra cho đến khi lìa đời cũng phải vay mượn tứ đại từ bên ngoài để tồn tại. Miệng ta ăn cơm uống nước, thức ăn vào người ta sẽ thành da thịt, xương cốt và sinh ra nhiệt lượng. Đó là ta vay mượn đất, nước và lửa. Còn khi mũi ta hít vào thở ra chẳng phải là mượn gió đó sao?
- Bạch Hòa thượng, vậy ngũ uẩn là gì?
- Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là bản thân con người với lục căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Thọ là các cảm giác. Tưởng là các nhận biết về âm thanh, màu sắc, mùi vị. Hành là những hoạt động tâm lý như yêu thích, ghét bỏ sau khi có tưởng. Thức là ý thức hình thành do lục căn tiếp xúc với môi trường và xã hội. Con người khác các sinh vật khác là do con người là một sinh vật có ý thức.
- Bạch Hòa thượng, tại sao Đạo Phật nói rằng thân này là tạm bợ và huyễn hóa?
- Thiền sư Đạo Hạnh có bài kệ rằng:

Thân như điển ánh hưu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bổ úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Dịch nghĩa:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.


Thân người như bóng chớp, có đấy rồi lại không, một hơi thở hắt ra mà không hít vào là thân người không tồn tại nữa. Tứ đại hòa hợp thành thân người nhưng lại mâu thuẩn lẫn nhau, lửa thịnh sinh nóng sốt nhức đầu, gió thịnh sinh nhức mỏi xương cốt. Vì vậy mà lúc nào thân này cũng sẵn sàng mang bệnh để tan rã, tứ đại lại trả về cho tứ đại, ngũ uẩn cũng không còn. Vì vậy trong Kinh Bát Nhã có câu: sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị; có nghĩa là sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức, cũng đều như thế. Những kẻ phàm phu tục tử chấp thân này là thật, là quí nên bị tam độc tham sân si khống chế, gây ra biết bao lỗi lầm, hại người, hại dân, hại nước.
- Bạch Hòa thượng, Ngài là bậc chân tu, đạo cao đức trọng, sau khi Ngài viên tịch chư đệ tử chúng con muốn ướp xác người để lưu lại cho con cháu muôn đời mai sau liệu có nên chăng?
- Thiện tai! Thiện tai! Đệ tử các con có lòng quí ta như thế làm cho ta thật cảm động, nhưng ướp xác thì các con chớ có làm. Làm như thế thì những lời ta giáo huấn các con từ đầu buổi nói chuyện đến giờ coi như vô ích. Làm như thế là trái với tinh thần Đạo Phật, vì Đạo Phật xem thân này là tạm bợ, huyễn hóa, khi thân này chết đi thì thân tứ đại lại trả về cho tứ đại mới hợp lẽ Trời.
Read More..

13 thg 8, 2013

Catalonia - Tình yêu của tôi


Đinh Bá Tuấn.

Ngoài tết nguyên đán vừa rồi vợ chồng mình đi SaPa. Trên chuyến tàu đêm  Hà nội - Lao cai, ở cùng buồng với vợ chồng mình là đôi vợ chồng trẻ người Tây Ban Nha. Anh chồng khoảng ngoài 30 gì đó, cô vợ thì trẻ hơn. Mình hỏi ở vùng nào, anh chồng trả lời ở Barcelona, tưởng mình không hiểu anh lại nhấn mạnh thêm Barcelona - Messi, ý anh nói thành phố quê hương anh chính là nơi có chàng cầu thủ nổi tiếng người Achentina đang đá bóng ở đó. À, ở xứ Catalonia tình yêu... Mình chưa nói hết câu, cô vợ nháy mắt đưa ngón tay cái: Ok! Catalonia tình yêu của tôi – George Orwell.

Thật ra cho đến lúc ấy mình mới chỉ nghe mà chưa đọc chữ nào trong cuốn sách nổi tiếng ấy của George Orwell. Tiếng Anh thì bập bõm, câu đực, câu cái, nói một chút thì hết cả vốn, thành ra câu chuyện về cuốn sách cũng dừng lại ở đó.

Rồi cũng bẵng đi.

Nhưng như một sự sắp sẵn, tuần trước mấy anh em ngồi uống café ở quán Thí Dụ, bác Hiển (dịch giả Phạm Nguyên Trường) tặng anh em mình mỗi người một cuốn sách bác mới dịch được nhà xuất bản Lao động phát hành, Catalolia – Tình yêu của tôi.

Nhẩn nha đọc và cố loại bỏ đi ý nghĩ đây là một cuốn sách nổi tiếng. Nhưng càng đọc càng thấy sự tiên đoán thiên tài của tác giả. Đến bây giờ  có lẽ hầu hết những người có lương tâm và tri thức đều thấy kết cục bi thảm của một thứ lý thuyết không tưởng cùng với chế độ và nhà nước quái thai của nó. Nhưng hơn bảy mươi năm trước, giữa lúc các cuộc cách mạng đang ào ạt,  mọi người đang adua nhau tung hô về một chế độ mới, mô hình nhà nước mới - nhà nước dân chủ của mọi người. Không phải là một nhà chính trị và lý thuyết gia chuyên nghiệp. Và, tuy vẫn còn cảm tình với chế độ dân chủ mới,  nhưng George Orwell đã thấy rõ mần mống của sự độc tài và dự đoán chính xác bước phát triển cũng như kết cục của chế độ ấy.

Có lẽ cũng như nhận xét của lời giới thiệu cuốn sách: “Nếu chỉ đọc Catalolia – Tình yêu của tôi như một bút ký chiến trường thôi thì thật khiếm khuyết. Tài năng vô song của George Orwell  nằm ở chỗ, ông không chỉ chớp được những sự kiện tươi rói, mà trong sự hỗn loạn của các sự kiện, rát rạt giữa sự sống và cái chết, ông vẫn đủ tinh tế và nhạy cảm để nhìn ra những khuynh hướng lớn đang định hình bức tranh xã hội của một nửa thế giới: một bức tranh đáng sợ, hệ quả của những đam mê và những tư tưởng sai lầm”.

Với riêng mình, mình thích cuốn này hơn hai tác phẩm cũng rất nổi tiếng của ông là Trại súc vật và 1984.
     
                                                      Vũng Tàu, tháng 8/2013
Read More..

9 thg 7, 2013

Bức vẽ Bữa ăn chiều cuối cùng

Lê Duy Phương (st)

Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last supper) mất bảy năm liền.  
 Đó là bức tranh vẽ Chúa Jesus và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi  Chúa bị Judas phản bội

 Leonardo tìm người mẫu rất công phu.  Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus.  Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa  Jesus được hiện trên bức vẽ.
Read More..

8 thg 7, 2013

Chuyện thường ở ta


Đinh Bá Tuấn

Tuần trước mình xuống một phường triển khai vài việc liên quan theo kế hoạch ủy ban thành phố. Phường này mới lập, tụi cán bộ phường ít biết mặt mình. Chưa đến giờ họp mình vào phòng thằng chủ tịch phường cũng là bạn mình tán gẫu. Vì là đầu giờ làm việc các cán bộ nam, cán bộ nữ của phường lũ lượt vào phòng trình ký, xin ý kiến. Nó bảo, thôi ông ngồi uống nước đi, tôi giải quyết công việc.

Mình ngồi uống nước, xem nó giải quyết công việc. Các cán bộ nam, cán bộ nữ của phường vẫn thay nhau vào ra, chẳng một câu chào, chúng nhìn mình như một “THẰNG KHÔNG”. Chắc chúng nó nghĩ: lão già này lại đến nhờ vả, xin xỏ gì đây?

Tới giờ vào họp, thằng chủ tịch phường đứng lên giới thiệu: Đây là anh T thay mặt ủy ban thành phố sẽ triển khai kế hoạch…với phường ta. Mình nhìn xuống vẫn là những đứa lúc nãy vào phòng thằng chủ tịch, nhưng sao bây giờ lại khác thế, ánh mắt cầu thị, thái độ nhũn nhặn, thưa gửi tử tế lễ phép.

Khi họp xong, lúc về tụi cán bộ nam đến bắt tay mình rất chặt, nồng ấm, cán bộ nữ miệng cười rất duyên, mắt lúng liếng trữ tình. Mình nói với thằng chủ tịch, sao phường ông nuôi lắm “tắc kè” thế. Thế này thì bỏ mẹ dân. Biết nó nói sao không? Ông tìm xem trong bộ máy này có bao nhiêu đứa không phải là “tắc kè”?

Ừ nhỉ? Mình cứ hay chấp!

                                                   Vũng Tàu, tháng 7/2013
Read More..

1 thg 7, 2013

NGẪU HỨNG

Trần Tiến

Chẳng biết làm gì và chẳng muốn làm gì. Anh đi loanh quanh vài con đường vắng vẻ của thành phố hiu hắt,chỉ dành cho sự nghỉ ngơi.

 Con đường nhỏ, thì cây to. Những con đường to, thì cây nhỏ.
Con đường nhỏ thì mang tên nhà thơ. Những con đường to mang tên người đánh giặc

Con đường nhỏ thì của nhà giàu,vì người Pháp đến đây ở, trồng hàng cây sà cừ, nay vài người ôm mới xuể. Lúc nào cũng vắng và mơ mộng .

Những con đường to, chắc mới làm sau này, ồn ào và chạy vạy bán buôn .Nắng cháy khét vì không có bóng cây. Kiến trúc thời mới thích cho nhiều người ngụ cư, hơn là …cây.


Con đường to, có mùi của người nghèo, khổ sở.

 Những người lao động đi làm, làm cả ngày quốc tế của những người lao động.
Ngày này, những người không lao động lại được nghỉ ngơi

Ngoài  đường to, mang tên người đánh giặc, có lão thổi sáo rong :
-    “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay…

Lão dắt đứa nhỏ cầm cái gì đó đựng tiền xin, trông đói lắm.
-    “Chưa có bao giờ… tiếng sáo dìu dặt bên phố

 Chẳng biết làm gì. và chẳng muốn làm gì, ngồi cả tiếng với chén rượu nhạt, lại thấy lão đi qua anh,. Cái đựng tiền vẫn rỗng không.

-    “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay…
Rõ chán. Lão chỉ thuộc mỗi bài này thôi sao.

Mình bỏ tiền vào cho hai ông cháu lấy hên. Rồi đứng dậy đi, mà chả biết đi đâu

Những con đường nhỏ, hàng cây nói với nhau bằng tiếng Pháp 
Những con đường to thì  nói tiếng gì đó, tất nhiên không phải tiếng Pháp…

       Ngoài kia, sóng vẫn rì rầm cầu nguyện cho bãi bờ vắng vẻ. Người của thành phố nghỉ ngơi, chẳng có việc gì làm, mà cũng chẳng muốn làm gì. Quán xá thích thì mở, không thích thì đóng.
 Buồn muốn chết, tìm gái cũng phải căn giờ. Chán.

-Con thấy người ta mách: Cái ông vừa cho tiền là nhạc sỹ, ông ạ.
-Ừ.
-Sao cho nhiều thế?
-Đồng nghiệp mà...
-Đồng nghiệp là gì hả ông?
-Là cùng nghề
-Ổng ấy cũng đi ăn xin à?
-Đại loại thế…


- “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay
Non nước, mây trời lòng ta mê say…

     Mặt trời vẫn mọc ở bãi sau, và về ngủ ở mũi Nghinh phong.. Nhà thơ nghèo vẫn tằng tằng chiếc xe máy quèn ,vừa đi vừa nghêu ngao câu thơ hoa phượng buồn gì đó.

     Mùa này, lũ chim nhỏ lắm mồm, hót ca líu lô, đã bỏ đi hết.  Chỉ còn giống đại bàng  ở lại, trên những đỉnh núi mờ sương.

 Đại bàng thì… không hót.
Read More..

27 thg 5, 2013

LẠI NÓI CHUYỆN RƯỢU


Nguyễn Hưng Quốc

Trước hết, tôi xin thú nhận điều này: Tôi thích cả cà phê lẫn rượu. Với cà phê, phải nói là tôi nghiện. Sáng, thức dậy, không có cà phê, tôi có cảm giác tôi không thể tỉnh táo được. Mỗi ngày, hầu như tôi phải uống cà phê trước khi làm bất cứ điều gì khác. Không có cà phê, người cứ ngầy ngật. Bởi vậy, những khi đi ngoại quốc, tôi sợ nhất là đến những quốc gia không có hoặc ít có cà phê (như Trung Quốc, chẳng hạn); ở Úc, tôi sợ nhất là những lúc phải đi thử máu. Lớn tuổi, tôi thường giữ thói quen đi thử máu mỗi năm một lần. Điều kiện để thử máu là phải nhịn ăn và nhịn uống! Thường, tôi chọn những trung tâm thử máu mở cửa sớm. Nhưng sớm nhất ở Úc vẫn là 8 giờ. Vấn đề là tôi ngủ ít. Theo thói quen, tôi thức dậy khoảng 5 giờ. Trời, từ 5 giờ đến 8 giờ là một quãng thời gian đằng đẵng nếu không có cà phê! Đó là lý do chính khiến tôi thường lần khân dù bác sĩ gia đình lúc nào cũng nhắc nhở! Còn với rượu, thú thực, tôi không biết tôi có nghiện hay không. Thường thì tôi uống rượu mỗi ngày. Chỉ uống rượu đỏ. Và khá chừng mực. Những lúc đi xa, không uống cũng không sao (nhưng nếu có thể thì uống vẫn tốt hơn!).
 
Thói quen uống cà phê và uống rượu của tôi khác nhau. Uống cà phê, tôi thích uống ở tiệm; uống rượu, tôi thích uống ở nhà. Cà phê, tôi uống lúc nào cũng được, nhưng thường buổi sáng và buổi trưa; rượu, tôi chỉ uống vào buổi tối. Cà phê, tôi thích nhất là caffe latte, không đường; rượu, tôi chỉ uống rượu đỏ. Rượu nặng, tôi có khá nhiều, nhưng hầu như chỉ dành cho khách khứa. Rượu trắng, cũng có, nhưng chỉ dành cho vài trường hợp hiếm hoi khi ăn một món nào đó. Tôi vẫn thấy thích rượu đỏ nhất.
 
Trong các loại rượu đỏ, tôi không thích những gì có vị ngọt và dịu. Tôi chỉ thích những loại rượu nghe hăng hắc mùi tiêu và mùi gỗ. Tôi thường uống khá chậm. Uống một ly rượu đỏ có khi mất cả tiếng đồng hồ. Tôi vừa đọc hay vừa viết vừa uống. Mỗi lần một hớp nho nhỏ. Hầu như không cần nuốt. Chất rượu cứ tan trong miệng và trên lưỡi. Nếu không cần quá tập trung vào công việc, tôi thích nghe ngóng dư vị của rượu trên lưỡi của mình. Tôi thấy vị rượu chạy trong lưỡi và thấm từ từ vào từng tế bào trong lưỡi. Tôi thích thú trong việc theo dõi chúng. Theo tôi, có sự khác nhau giữa rượu đỏ và rượu mạnh. Với rượu mạnh, người ta thưởng thức bằng cổ họng (và sau đó là các sợi dây thần kinh trên đầu); với rượu đỏ, người ta thưởng thức bằng mũi, lưỡi và vòm miệng. Với rượu mạnh, người ta trải nghiệm cảm giác bay bổng và sau đó, rớt xuống thật nặng; với rượu đỏ, người ta trải nghiệm cảm giác lâng lâng, lâng lâng mãi. Trước khi biết thích rượu đỏ, phải uống rượu mạnh với bạn bè, tôi thường say. Từ khi thích uống rượu đỏ, hầu như bao giờ tôi cũng biết dừng lại sớm, nên không hề say. Cảm giác lâng lâng của rượu, do đó, cứ kéo dài, không biến thành nhức nhối khó chịu như những điều những người uống rượu mạnh thường cảm thấy.
 
Tôi thích uống rượu đỏ trong hai trường hợp: có bạn thân và một mình. Với những bạn sơ giao, tôi không thích uống rượu. Chả hiểu tại sao. Hơn nữa, tôi chỉ thích uống rượu đỏ ở Úc và các quốc gia Tây phương. Nhiều năm trước, những lần về Việt Nam, tôi chỉ thích uống bia. Thật ra, thoạt đầu, tôi cũng định uống rượu đỏ, như thói quen của mình lúc sống ở Úc. Nhưng không thấy thích. Ngỡ tại rượu. Tôi loay hoay kiếm rượu đỏ của Úc. Vẫn không thích. Kiếm rượu đỏ của Pháp. Vẫn không thích. Sau năm bảy lần như thế, tôi bỏ cuộc. Quay sang uống bia, tôi thấy bia thật ngon (trong khi đó, ở Úc, tôi lại không thích bia). Hai lý do chính, tôi nghĩ, một, có lẽ do khí hậu: Trời nóng uống bia mới thấy ngon; hai, không khí: nhậu, ở Việt Nam, thường đông người và thường rất ồn, không thể “nghe” được mùi và vị rượu; bia, do đó, hợp hơn.
 
Thích uống và uống rượu cũng khá nhiều, nhưng không bao giờ tôi nghĩ là mình sành rượu. Trong đám bạn của tôi, cũng không ai thực sự sành rượu. Thậm chí, tôi có một người bạn uống rượu cả đời, ngày nào cũng uống, hết năm này sang năm khác, nhưng hầu như không bao giờ có thể phân biệt được rượu ngon và rượu dở. Anh chỉ biết phân biệt chất lượng rượu theo… giá. Nghe chai rượu nào mắc tiền, anh cứ xuýt xoa. Ngay cả khi bạn bè, vì nghịch, lừa anh, đôn giá lên, ví dụ, từ 20 đô lên 100 đô, anh cũng không biết, cứ tắm tắc khen ngon, hớp từng hớp một cách đầy trân trọng. Một số người quen khác của tôi có cả hầm rượu hàng mấy trăm chai nhưng cũng không có vẻ gì biết nhiều về rượu, trừ chuyện giá cả, và một số nghi thức chung quanh việc uống rượu, như các kiểu ly và các thức ăn đi liền với từng loại rượu, nghĩa là những điều rất căn bản và đơn giản.
 
Tôi chỉ thực sự gặp một người thích rượu và sành về rượu trong chuyến đi Sydney vào cuối tháng 4 vừa rồi: Hà Công Hồng. Là nha sĩ, nhưng Hồng rất thích văn nghệ và thích đọc sách báo về văn học cũng như tình hình chính trị Việt Nam. Đãi tôi, Hoàng Ngọc-Tuấn, Võ Quốc Linh và một số bạn văn nghệ khác tại nhà, anh giới thiệu trước: Sẽ cho chúng tôi đi vòng quanh thế giới bằng… rượu. Trước hết, ăn cá hồi đen của Nga (Sturgeon black caviar), anh cho chúng tôi uống champagne (Bollinger, Special Cuvee, magnum) của Pháp, kế tiếp, ăn cá trout biển hong khói của Na Uy và thịt bò Nhật (Blackmore wagya) kèm với loại muối Black Truffle của Ý, anh cho uống hai loại sake Kitanohomare Junmai Daiginj (sản xuất ở vùng Hokkaido) và Ginban Banshu 50 Junmai Daiginjo (từ vùng Toyama), sau đó, với các món ăn khác, anh cho uống rượu đỏ Pinot Noir 2006 (Daniel Schuster, Omihi Selection) của New Zealand (Waipara) và cuối cùng, quay lại Úc với chai Penfolds Caberet Shiraz Bin 389 sản xuất tại tiểu bang Nam Úc năm 1996. Hồng có một hầm rượu rất lớn, chứa rất nhiều rượu thuộc loại hảo hạng, nhưng uống mấy chai kể trên, cả khách lẫn chủ đều ngất ngư.
 
Ở Việt Nam, ngày trước, có khá nhiều người viết về thức ăn và rượu. Nguyễn Du, trong Thanh Hiên thi tập, từng viết về chuyện uống rượu với thịt cầy (Hữu khuyển thả tu sát / Hữu tửu thả tu khuynh); Nguyễn Khuyến, khi khóc Dương Khuê, nối liền rượu và tình bạn trong hai câu thơ nổi tiếng: “Rượu ngon không có bạn hiền / Không mua không phải không tiền không mua”; Tản Đà, người nổi tiếng cả về việc sành ăn lẫn sành rượu, gắn liền việc ăn uống với việc hưởng lạc. Nhưng, tất cả đều hoặc viết về thức ăn hoặc viết về rượu; dường như không ai để ý đến mối quan hệ mật thiết giữa rượu và thức ăn.
 
Có thể nói, với người Việt Nam, ít nhất là trước khi chịu ảnh hưởng của Tây phương, thứ nhất, rượu có thể uống bất cứ lúc nào cũng được, không nhất thiết trong bữa ăn; thứ hai, rượu, có thứ gì thì uống thứ đó, không cần biết thức ăn đi kèm là món gì, có thích hợp hay không. Trong bài “Luận về ăn ngon”, Tản Đà nêu lên bốn yếu tố quan trọng cho một bữa ăn ngon: thức ăn, giờ ăn, chỗ ngồi và người cùng ăn. Chỉ có thể có một bữa ăn ngon nếu cả bốn yếu tố ấy đều hoàn hảo. Nhưng ông lại không nhắc đến rượu.
 
Có lẽ đó là điều người Tây phương (và những người bị… Tây hóa!) không thể nào hiểu được. Nhất định họ sẽ thêm một yếu tố nữa: rượu. Michael Broadbent, một nhà phê bình rượu nổi tiếng người Anh, từng nói: “Uống rượu ngon kèm thức ăn ngon với những người bạn hợp với mình là một trong những lạc thú văn minh nhất trong đời” (Drinking good wine with good food in good company is one of life's most civilised pleasures). Nhiều người Tây phương xem rượu như phần hồn trong khi thức ăn chỉ là cái xác (“If food is the body of good living, wine is its soul”, Clifton Fadiman), thậm chí, rượu là phần… trí thức của bữa ăn (“Wine… the intellectual part of the meal”, Alexandre Dumas).
 
Hơn nữa, người ta nhận ra, một trong những đặc điểm quan trọng nhất giữa thức ăn và rượu là sự hài hòa. Mỗi loại rượu chỉ có thể kết hợp được với một loại thức ăn nào đó. Ăn món này, rượu này; ăn món khác, rượu khác. Nhiều người hay nói: rượu đỏ đi với thịt đỏ; rượu trắng đi với thịt trắng. Sự thực không đơn giản như vậy. Rượu đỏ có nhiều loại: Shiraz/Syrah hợp với các loại thịt đỏ; Cabernet Sauvignon với thịt bò, thịt gà, thịt vịt và thịt cừu; Pinot Noir hợp với salmon nướng, thịt gà, thịt cừu và các món ăn Nhật (đặc biệt sushi); Merlot dễ hơn, có thể uống với bất cứ loại thực phẩm gì, tuỳ thích. Hơn nữa, cách nấu cũng ảnh hưởng đến rượu. Ăn steak, người ta thường uống Cabernet hoặc Shiraz; ăn đồ chiên, người ta uống với Merlot hoặc Shiraz; ăn đồ nướng hoặc quay, kèm với nấm hoặc khoai tây, uống Pinot Noir.
 
Chưa hết, mỗi loại rượu cần một loại ly riêng. Uống rượu đỏ, chẳng hạn, cần loại ly thủy tinh rộng miệng và trong suốt để, thứ nhất, rượu có thể “thở” và hả bớt mùi nhanh; thứ hai, người ta có thể thấy được “chân” rượu (còn được gọi là “nước mắt” rượu, wine tears/legs): sau khi lắc nhẹ (theo vòng tròn), để ly rượu đứng thẳng, bạn sẽ thấy trên thành ly có một số giọt rượu dính lại và từ từ chảy xuống, ràn rụa như những giọt nước mắt; số giọt rượu ấy càng nhiều và càng đặc chứng tỏ chất cồn càng cao, và do đó, (có thể) rượu càng ngon; thứ ba, để có thể ngắm được màu rượu, qua đó, có thể sơ khởi thẩm định “tuổi” của chai rượu và thưởng thức rượu bằng thị giác (cũng là đỏ, mỗi loại rượu thường có độ đỏ khác nhau: Cabernet Sauvignon, còn mới, đậm nhất; để lâu năm, màu nhạt đi một chút; Merlot nhạt hơn chút nữa; Shiraz/Syrah cũng đậm như Cabernet Sauvigon nhưng trong lúc Cabernet gần với màu nâu, Shiraz gần với màu tím, hơi đục, nhất ở những chai còn mới; Pinot Noir nhạt nhất, như pha trộn giữa màu nâu và màu cam, để càng lâu càng trong suốt);  và thứ tư, để mùi rượu có thể xông thẳng vào mũi người uống, qua đó, người ta có thể thưởng thức rượu không những bằng vị giác mà còn bằng cả khứu giác.
 
Tuy nhiên, điều tôi cảm thấy thú vị nhất khi uống rượu ở nhà Hà Công Hồng là được nghe anh nói về rượu. Anh giới thiệu lai lịch của từng chai rượu: Nó được sản xuất ở đâu, năm nào, cách thức sản xuất ra sao, bằng loại nho gì, trong loại thùng gì, được pha trộn với những loại hương vị gì, được giới phê bình đánh giá ra sao. Anh biết rộng và nhớ nhiều vô cùng. Nghe anh nói, tôi mới nhận ra một điều, cái điều đáng lẽ tôi phải biết từ lâu: Người ta uống rượu không phải chỉ bằng các giác quan (physical senses) mà bằng cả cảm quan (sensuality), trước hết là cảm quan về không gian (sense of place) và sau là cảm quan về lịch sử (sense of history).
 
Mua cà phê, nhiều người cũng hay quan tâm đến nước sản xuất (ví dụ, Brazil, Costa Rica, Colombia, Ethiopia, Mexico hay Việt Nam), nhưng khi vào tiệm uống, không ai xem quốc gia sản xuất như một tiêu chuẩn đánh giá, thậm chí, người ta không thể biết. Và cũng không cần biết. Chất lượng ly cà phê tùy thuộc nhiều hơn ở cách pha chế. Rượu thì khác. Chất lượng của rượu tùy thuộc vào hai yếu tố chính: đặc điểm của nho và kỹ thuật chế biến. Yếu tố đầu lại tùy thuộc vào đất đai và khí hậu. Mỗi vùng chỉ thích hợp với một loại nho. Nói đến Cabernet Sauvignon, người ta nghĩ, trước hết, đến vùng Médoc ở Bordeaux, Pháp, sau đó, mới đến các vùng khác ở Mỹ, Úc, Nam Phi và Argentina. Nói đến Pinot Noir, người ta nghĩ, trước hết, đến vùng Burgundy ở Pháp, sau đó, đến Úc, New Zealand và Chile. Trong khi đó, Shiraz, dù xuất phát từ Rhône Valley ở Pháp, nhưng sau, có vẻ đặc biệt thích hợp với các điều kiện thổ nhưỡng tại Úc.
 
Đặc điểm và chất lượng của rượu tùy thuộc không những ở quốc gia mà còn ở từng địa phương trong mỗi quốc gia. Ví dụ, rượu ở Úc thay đổi theo từng tiểu bang, từ Nam Úc đến Tây Úc, Victoria và New South Wales; ở mỗi tiểu bang, rượu lại thay đổi theo từng vùng: tiểu bang Nam Úc, nơi sản xuất khoảng hơn một nửa số rượu trong nước, có các vùng sản xuất rượu nổi tiếng như Southern Fleurieu, Adelaide Hill, Barossa Valley, Coonawarra, v.v.. Hơn nữa, ngay cả ở những vùng nổi tiếng, chúng chỉ nổi tiếng về một loại rượu nào đó. Không phải tất cả.
 
Chính vì vậy, ở các quốc gia sản xuất nhiều rượu, chính phủ thường thiết lập bản đồ vùng rượu (wine regions, giống như bản đồ địa lý hay bản đồ hành chính) và hệ thống danh hiệu (appellation system) dựa trên nguồn gốc địa lý của từng loại nho. Việc ghi tên vùng trên các chai rượu (geographic indication), một mặt, là một yêu cầu của giới tiêu thụ; mặt khác, được luật pháp bảo vệ. Bất cứ sự giả mạo nào cũng đều có thể bị trừng phạt. Người sành rượu có thể sơ bộ đánh giá được chất lượng rượu qua địa phương sản xuất ghi trên nhãn (trên nguyên tắc, đơn vị địa phương càng lớn, ví dụ tên tiểu bang, chất lượng càng thường; càng nhỏ, ví dụ tên một quận hoặc một làng, chất lượng càng cao; với những địa phương đặc biệt nổi tiếng, người ta thường để trong ngoặc kép).
 
Hơn nữa, ở mỗi vùng, đặc điểm và chất lượng của rượu thay đổi theo từng năm. Đó là lý do tại sao, cùng một loại rượu, nhưng năm này ngon, năm khác lại dở. Hệ quả là, khi thưởng thức rượu, người ta hay để ý không những hiệu, nơi trồng nho mà còn cả năm sản xuất được ghi trên nhãn (những loại rượu giá rẻ, sử dụng loại nho trong nhiều vụ khác nhau – thường ghi là NV, Non-Vintage). (Do các lý do nêu trên, tập uống rượu, một trong những điều người ta cần học đầu tiên là học cách đọc nhãn in trên chai rượu!)
 
Trong một bữa tiệc, được thử nhiều loại rượu khác nhau, chúng ta không những được du hành qua không gian, từ nước này sang nước khác, mà còn được du hành qua thời gian, với những năm nắng nhiều hay nắng ít, nho được mùa hay không được mùa.
 
Nói chuyện về rượu, tôi lại nhớ đến Nguyễn Khuyến. Nhớ đến Nguyễn Khuyến, tôi lại nghĩ đến bài “Chừa rượu”:
 
Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa nên nỗi không chừa được
Chừa được, nhưng mà cũng chẳng chừa.
 
Hay nhất trong bài thơ là cái giọng: Bài thơ 28 chữ, trong đó có 8 chữ kết thúc bằng vần “ưa”. Không những nhiều, các chữ có vần “ưa” ấy còn lặp đi lặp lại và nối liền nhau: Hai chữ cuối của câu trên được lặp lại ở đầu câu dưới (trong thuật ngữ thơ Đường, người ta gọi là thể “áp cú’). Âm “ưa”, tự nó, đã dài; việc lặp lại ấy càng khiến nó dài hơn. Dài đến độ… lè nhè.
 
Như cái giọng nhừa nhựa lè nhè của một người đang xỉn!
 

Read More..

17 thg 4, 2013

Cha và con gái

  Chiều nay đưa tiễn thân phụ một người bạn về bên kia dương gian, chợt thấy mọi thứ tình yêu đều cần phải vội vàng, đâu cứ chỉ tình yêu lứa đôi.

***
1.
Có một người cha giữ hai cuốn nhật ký viết về con gái. Trong đó có một cuốn anh viết khi con đang còn trong bụng mẹ. Chín tháng mười ngày trải dài trong 100 trang viết khắc khoải mong chờ đứa con.
2.
Có một người cha giữ một kỷ vật trong hộp đồ nữ trang gia bảo. Đó là một miếng kẽm hình tròn có đục lỗ đeo dây. Trên cả hai mặt đều ghi chữ số 34. Ít ai biết vật này có giá trị gì mà anh sợ mất nó hơn bất cứ món nữ trang quý giá nào.
sáu hình ảnh về người cha
Những ngày đầu con gái chào đời là những ngày anh phấp phỏng "lẻn" vào phòng sơ sinh mỗi ngày chục bận, để âu lo dòm vào đứa bé mỏng mảnh đang nằm trong lồng kính và chưa chịu mở mắt. Đứa bé mang số 34. Và những lần cô hộ lý đưa con anh đi tắm là một lần anh mong ngóng hồi hộp nhìn con số 34 để biết chắc rằng con anh không bị "lạc".
Ngày đón con từ bệnh viện về, khi thay áo cho con gái, anh mừng rú lên khi thấy người ta bỏ quên "vật báu" 34 vẫn còn đeo ở cánh tay con. Anh biết đó sẽ là vật quí còn theo anh mãi mãi.
3.
Có một người cha khắc những vết khắc lên cột, vạch những vạch vôi lên tường để đo con gái lớn dần trong niềm vui và nỗi lo. Những vết khắc, vạch vôi là những bức tranh nhân bản đẹp tuyệt vời trong bất cứ ngôi nhà nào.
4.
Có một người cha cứ trồng thêm một cây khi con thêm một tuổi. Và vườn cây cho con gái cứ nhiều lên trong hạnh phúc đớn đau của người cha khi nghĩ về cái ngày con lên xe hoa về nhà người khác.
5.
Tất cả những việc tưởng chừng như "ngớ ngẩn" của người cha dành cho con, để làm gì?
Để một ngày kia con về cùng hạnh phúc
Ba đôi lúc nhìn quanh cho đỡ nhớ nhà mình
Đó là câu thơ của một nhà thơ, anh đã giải thích hộ cho mọi người cha yêu con gái. Rằng đối với cha, con gái có ý nghĩa thân thiết ngự trị vào tất cả là gia đình, là ngôi nhà. Đến mức nếu không còn có con trong ngôi nhà này thì có nghĩa là ngôi nhà cũng không còn, đã xa lạ như nhà của người khác mất rồi.
May mắn sao những kỷ vật kia, những vạch vôi, vết khắc kia, "vườn cây-con gái" kia là hiện thân của con qua năm tháng, vẫn còn ở lại. Và thế là cha nhìn quanh, nhìn lên những "hiện thân" ấy để gặp lại một chút nhà mình, cho đỡ nhớ nhà mình.
6.
Một ngày nọ vào bệnh viện, thấy một cô bạn gái đang đút cháo cho bố ăn, tôi chợt thấy thảng thốt với câu nói của nhà thơ Thanh Tịnh "Bố cho con ăn, con cười, bố cười. Con cho bố ăn, bố khóc, con khóc". Mới thấy vòng đời ngắn ngủi làm sao!
Mỗi người đều lưu giữ trong tim hình ảnh một người cha. Hình ảnh thứ 7, thứ 8, thứ 7 tỉ xin dành cho bạn, cho những ai được may mắn sinh ra trên Trái Đất này.
Chiều nay đưa tiễn thân phụ một người bạn về bên kia dương gian, chợt thấy mọi thứ tình yêu đều cần phải vội vàng, đâu cứ chỉ tình yêu lứa đôi. Mau lên chứ vội vàng lên với chứ...
Read More..

9 thg 4, 2013

Bí mật của Lão Khoa ở nước Nga

Trần Đăng Khoa

À, đấy là kỳ thi đầu tiên năm thứ nhất. Khi đó tôi đã là một lão già ...28 tuổi. Tôi gọi là lão già, vì mình nhiều tuổi nhất lớp, đã bôn ba đời lính mười năm rồi mới trở lại làm học trò. Bạn bè Nga cùng học chỉ 17. 18 tuổi thôi. Họ là những học sinh mới từ phổ thông lên. Tôi không còn là trẻ con nên không câu nệ lắm về điểm thi. Hơn nữa, lại là một lão già thực dụng, nên tôi chỉ học những gì mình thấy thiếu, thấy cần thiết. Nghĩa là học cho mình, chứ không học cho các...thày cô.


Có những môn rất nặng, nhưng học rồi cũng không biết để làm gì nên tôi bỏ, chỉ lướt qua quít, ví như Tiếng Nga cổ. Thực ra môn này cũng rất hay, rất cần thiết, nếu như mình theo nghề nghiên cứu ngôn ngữ. Nhưng mình chỉ là anh sáng tác a ma tơ, lại là dân ngoại quốc, tiếng Nga hiện đại còn chưa vỡ, thì lọ mọ lục lọi đống chữ cũ của người ta làm gì. Năm thứ nhất ú ớ lắm nhưng lại thi nhiều môn rất nặng đối với người nước ngoài, nên thày cũng có phần xuê xoa. Tôi lên bốc câu hỏi thi rồi về chỗ chuẩn bị. Ngồi bên tôi là Nhina Rưbacova, một cô bé rất đẹp. Ngày thường, các cô gái Nga thường xúng xính nhiều bộ mốt rất rực rỡ. Nhưng hôm đi thi, các nàng thường chỉ diện một loại váy xếp, không có cúc hay phécmơtuya. Tôi chỉ vào câu hỏi đặt trước mặt : « Cái này là cái gì ? Tớ chả hiểu gì cả... ». Nhina Rưbacova nhìn lướt qua rồi khẽ vảy tay. Từ trong ống tay áo của cô bé xòe ra cả một đống tà phướn. Cô bé rút một « lá bùa » đưa cho tôi. Đó là đáp án của câu hỏi tôi cần. Những dòng chữ lí nhí, lại viết tắt. « Cậu viết thế này thì đến quỷ cũng không hiểu nổi... ». Cô bé luồn tay xuống gầm bàn, vắt phải rồi vắt trái cái màn váy buông lõa tõa. Tôi chỉ thấy trắng lóa một vùng. Trắng đến hoa cả mắt. Rồi cô bé rút ra một cuốn sách giáo khoa. Cuốn sách dày bịch, nặng đến chừng ...5 ký, mà chẳng biết cô bé giấu ở xó xỉnh xỉnh nào mà giấu tài thế. Thế rồi nhanh như cắt, cô lật ngay ra cái trang mà tôi cần tìm. Tôi nói thì ú ớ, nhưng đọc rất tốt. Còn 5, 6 sinh viên nữa mới đến lượt mình, nhưng tôi chen lên ngay, bước rất hiên ngang, rất tự tin, cứ như câu hỏi của thày chỉ là chuyện vặt. Trước khi trả lời thày, tôi còn hỏi : « Thày thấy thời tiết hôm nay thế nào ? ». « Đẹp lắm anh bạn ạ - Thày chỉ qua khung cửa sổ - Nắng nhảy nhót như sóc trong khu vườn kia... ». « Thế mà em rét lắm. Ngồi trước mặt thày thì sinh viên nào cũng rét, dù có mặc cả áo bành tô ». Thày cười sặc sụa và tôi bắt đầu thao thao bất tuyệt. Tôi nói rất nhanh. Lúc nào bí, tôi lại hỏi thày : « Em nói thế, thày có hiểu không ? ». « Hiểu. Hiểu. Tốt. Anh bạn nói tốt lắm ! ». « Thế thì thày tài quá – Tôi nức nở khen thày – Thày hiểu được điều em nói, trong khi chính em lại hoàn toàn không hiểu em đang nói cái gì... ». Cả phòng thi cười ồ. Thày cũng cười rất sảng khoái rồi cho tôi điểm 5. Điểm ở nấc cao nhất. Tôi đi tua một vòng qua phố rồi quay lại thi môn thứ hai. Thật bất ngờ khi tôi thấy Nhina Rưbacova vẫn còn ngồi ở hành lang chờ thi, mắt đỏ hoe. Vị cứu tinh của tôi bị hai điểm đang muốn xin thi lại. Tôi bèn đến gặp thày. « Ồ, có chuyện gì thế, anh bạn ? ». « Xin thày chuyển điểm 5 của em cho Nhina Rưbacova. Vừa rồi cô ấy bảo em đấy. Chứ em dốt lắm ». « Có. Tôi có biết cô ấy cho anh xem cái gì rồi. Cô ấy rất xinh đẹp, chỉ tiếc câu hỏi của tôi, cô ấy lại trả lời rất tồi. Vừa nãy, cho anh điểm cao nhất, tôi đã nghĩ mình quá dễ dãi. Nhưng bây giờ, tôi thấy tôi đánh giá anh chính xác. Đấy là điểm tôi cho anh về sự trung thực. Chứ thực ra anh nói gì, tôi có hiểu anh nói gì đâu... »

Có lần anh bảo tôi « Thím ạ, thiên hạ sẽ không bao giờ để cho ta yên đâu. Mình muộn vợ, họ bảo mình có vấn đề giới tính, vấn đề tâm sinh lý. Mình lấy vợ rồi, họ bảo chắc gì đã có con. Mình có con, họ bảo chắc gì đã phải con của mình. Cứ thế. » Nghe thiên hạ đồn: Hồi học ở Nga, bạn cùng phòng có mang bạn gái về ngủ trong phòng, anh cũng không hé mắt. Theo anh, cái tâm lý hay nhòm qua lỗ khóa nhà người khác và “hạnh phúc của họ là bất hạnh của ta” ở người Việt Nam mình, nhất là dân miền Bắc mình, đáng thương hay đáng giận?
 
Đó là điều ghê rợn, chứ không còn là chuyện thương hay giận nữa. Ở một số người Việt có một đức tính rất đáng sợ đó là sự vô cảm. Vô cảm trước nỗi đau của người khác nhưng lại tò mò, tọc mạch những chuyện riêng tư của người ta. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có những câu thơ rất đắng đót nói về thói xấu này: “Gập ghềnh đường tôi đi – Không một ai ngó tới – Bỗng nhiên họ xúm lại – Dính bùn, tôi trượt chân – Không phải đỡ tôi lên – Họ xem cho đỡ tẻ…”. Mình học được nhiều điều rất hay của thiên hạ. Có một đức tính mình thích nhất ở người Nga là chuyện đâu bỏ đó. Không chõ mũi vào nhà người khác, nếu ở đó không có gì liên quan đến mình. Ở nước Nga, một cặp tình nhân khỏa thân ôm nhau trong phòng, dù có mở toang cửa cũng chẳng ai nhìn, thậm chí mọi người còn tránh xa để không làm phiền họ. Nhiều cặp trai gái ôm nhau, hôn nhau trong toa tầu điện ngầm, có ai để ý đâu. Đấy là cõi riêng của họ. Chỉ có họ ngự trị. Nếu có người nhìn thì chỉ người Việt mình thôi. Đấy là một hành động rất man rợ mà chúng ta không tự biết. Tôi học được của người Nga rất nhiều bài học ở bên ngoài giáo trình Đại học. Hồi ấy tôi ở chung phòng với ông bạn Nga Ivan Navichxki. Tôi cũng đã viết khá nhiều về ông bạn vàng này. Riêng có một chuyện ta không viết mà không hiểu sao thím lại biết? Đấy là chuyện riêng của Ivan. Anh bạn có cô bồ trẻ. Chàng cứ băn khoăn. Nếu cần phải có một phòng riêng thì người phải ra khỏi phòng là Ivan chứ không phải ta, vì ta là khách ngoại quốc. Ta bảo: Các bạn cứ thoải mái. Đừng quan tâm đến tớ làm gì. Mất vui. Thế là họ lên tiên. Còn mình nằm quay mặt vào tường và …đọc sách. Hai cái giường kê sát nhau. Nhưng đó là hai thế giới hoàn toàn riêng biệt. Cả hai xứ sở đều tự do tuyệt đối. Nhưng cũng có một bài học rất hay của người Nga mà ta không học được. Sự kém cỏi này, làm ông bạn Ivan rất …khinh bỉ ta. Sự việc bắt đầu từ buổi Ximena tác phẩm của Nhina Rubacova, một cô bạn Nga rất đẹp. Vị cứu tinh của ta mà ta đã kể ở trên. Thơ Nhina Rưbacova rất ngộ: “Những quả đồi khỏa thân - Nằm mê man như những người đàn bà - Trong lúc chúa trời đang táy máy. Rồi Những con quạ - Nhìn ta - Bằng con mắt nghĩa địa - Sỏi đá rì rầm - Hiện tại của tôi là tương lai của bạn. Thơ ấy không hề dở. Thậm chí còn hay là đằng khác. Nhưng bè bạn chê dữ quá. Chỉ có mỗi ta khen. Nhưng ta không khen thơ mà khen cô ấy đẹp. Ta còn nói với lũ đầu gấu đang xỉa xói cô ấy rằng: “Các bạn hãy nhìn lại đi. Có phải Natasa vừa bước từ trang sách của L. Tonxtoi ra không? Không! Natasa còn có có vết chủng đậu mờ mờ ở cánh tay, còn nàng tiên cá này không có khuyết tật gì cả. Cái nhược điểm lớn nhất của Nhina là không có nhược điểm gì”. Mọi người vỗ tay còn cô bé mặt đỏ bừng rạng rỡ. Tưởng chỉ là chuyện vui. Ai ngờ tôi ấy, Nhina gõ cửa phòng mình. Dạo ấy, nhà thơ Chế Lan Viên vừa gửi sang tặng mình tập thơ Hàn Mặc Tử do tỉnh Nghĩa Bình in do ông tuyển chọn và viết tựa. Đấy cũng là lần đầu tiên, thơ Hàn Mạc Tử được in lại và phát hành rộng rãi. Mình giới thiệu với Nhina về Hàn Mạc Tử và còn bảo: “Đây là B. Paternac của Việt Nam”. Rồi mình đọc một bài thơ bằng âm tiếng Việt để cô bé nghe nhạc điệu, rồi dịch ý một bài thơ bốn câu. Nhina bảo: “Sao giống thơ cổ điển Trung Quốc thế?”. Mình bảo, không phải thơ của chúng tớ giống thơ Đường Trung Quốc đâu, mà thơ Đường bắt chước thơ chúng tớ đấy. Cả các công trình lăng tẩm, đền đài ở Huế cũng vậy, họ toàn bắt chước chúng tớ để xây dựng Tử Cấm thành, bắt trước chúng tớ nhưng lại xây trước chúng tớ đến cả mấy trăm năm. Thế mới “đểu” chứ. Cô bé cười ngặt nghẽo. Ivan về giơ một ngón tay lên, làm một cử chỉ rất kỳ quặc, rồi anh bạn ôm chăn mền ra ngoài phòng. Mình chẳng hiểu gì cả. Rồi đêm ấy, không thấy Ivan về. Mình lại thấy Nhina ôm chăn mền sang trải trên chiếc giường của Ivan. Rồi cô bé tắt điện trút bỏ quần áo chui vào chăn. Mình lại tưởng phòng cô bạn có khách, nên phải sang ngủ nhờ giường Ivan. Thế là bọn mình lại tiếp tục trõ miệng sang giường bên trò chuyện. Rồi mình ngủ lúc nào chẳng biết nữa. Sáng hôm sau, Ivan “khinh bỉ” mình ra mặt: “Mày là một thằng nhà thơ rất tốt nhưng là một thằng đàn ông vô cùng tồi tệ. Mày không phải là đàn ông”. Bây giờ, nghĩ lại, vẫn còn thấy bàng hoàng. Đúng là mình kinh tởm thật!
Read More..

31 thg 3, 2013

Diễn từ nhận giải Dịch thuật

Phạm Duy Hiển

Thưa quý vị và các bạn
Tôi thật xúc động và hãnh diện khi được biết Hội đồng Quản lý Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh quyết định trao giải thưởng về dịch thuật năm 2012 cho tôi - nhất là khi Quỹ này lại mang tên một nhà ái quốc vĩ đại, một người đã giành cả đời mình cho sự nghiệp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, rất được nhân dân ngưỡng mộ và kính yêu.
 

Nhân dịp này, xin cho tôi được nói đôi lời về bản thân và một vài điều tâm huyết của mình.

Tôi tốt nghiệp ngành vật lí kĩ thuật năm 1975, và cũng như các bậc thầy và các bậc đàn anh trong ngành vật lí đi trước; ngoài chuyên môn và cũng là lĩnh vực kiếm sống, tôi còn quan tâm đến văn học, triết học và xã hội học. Từ khi mạng Internet lan truyền một cách rộng rãi, tôi bắt đầu dịch và công bố trên mạng, cụ thể là trên website talawas.org  một vài tác phẩm văn học. Những dịch phẩm này đã nhận được sự đồng tình và đánh giá cao của ban quản trị mạng cũng như của bạn đọc gần xa. Nhưng chính cá nhân tôi lại thấy rằng trong tình hình có nhiều biến chuyển; xã hội, có thể nói, đang đứng trước ngã ba đường như hiện nay, sách văn học và dịch sách văn học không đáp ứng được nhu cầu nội tâm của chính mình và có thể là của cả bạn đọc nữa. Vì vậy mà tôi bắt đầu tìm và dịch những tác phẩm thuộc thể loại khác, ban đầu chỉ là những bài báo, viết về kinh tế và xã hội. Và trong quá trình tìm tòi đó, tôi đã bắt gặp tác phẩm có tên là The Road to Serfdom của Friedrich von Hayek. Tôi đã mạnh dạn viết thư cho Nhà xuất bản Tri Thức xin được cộng tác và xuất bản tác phẩm này vì tôi biết rằng Nhà xuất bản đang có kế hoạch dịch từ 500 đến 1.000 tác phẩm kinh điển của thế giới. Thật may cho tôi là Giáo sư-Tiến sĩ Chu Hảo, Giám đốc – Tổng biên tập Nhà xuất bản đã có hồi âm hầu như ngay lập tức. Bức thư ngắn gọn, và những lời trọng thị, chân tình của ông đã động viên tôi rất nhiều và đấy cũng là bước ngoặt quan trọng trong quá trình dịch thuật của tôi. Một thời gian ngắn sau đó, tác phẩm này, mà tôi dịch là Đường về nô lệ đã được xuất bản, đúng như mong đợi của tôi. Kể từ đó, lần lượt những tác phẩm khác như: Chế độ dân chủ – Nhà nước và xã hội, Về trí thức Nga, Lược khảo Adam Smith, Thị trường và đạo đức, và gần đây là tác phẩm Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử – 1660-1783 đã được Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành. Bên cạnh đó, những tác phẩm chưa được xuất bản, nhưng đã và đang lưu hành trên mạng như Giai cấp mới, 1984, Trại súc vật, Vòng tròn ma thuật và một vài tác phẩm khác vẫn thường xuyên nhận được phản hồi tích cực của bạn đọc. Bây giờ nhìn lại, đấy đều là những tác phẩm thuộc dòng khai dân trí mà 100 năm trước Phan tiên sinh đã chỉ cho chúng ta.

Thưa quý vị và các bạn
Khi được tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, học giả trẻ tuổi nhất trong Hội đồng Khoa học của Quỹ, thông báo rằng tôi được trao giải thưởng lần này, tôi đã rất mừng vì nghĩ rằng từ đây về sau những tác phẩm do mình dịch sẽ dễ dàng tiếp cận với độc giả hơn. Nhưng sau khi bình tĩnh lại, sau khi đã suy nghĩ một cách thấu đáo hơn, tôi nhận thấy rằng mình chưa đóng góp được bao nhiêu. Tôi coi đây là sự ưu ái rất lớn mà Quỹ Văn hóa Phân Châu Trinh đã dành cho tôi và tôi coi đây cũng là phần thưởng chung cho tất cả những người đã giúp đỡ và hợp tác trong công việc dịch thuật của tôi suốt mấy năm vừa qua. Nhân dịp này, tôi xin được cám ơn Ban Giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức, cám ơn các bạn Hồ Thị Hòa, Hoàng Thanh Thủy, Nguyễn Phương Loan và một số biên tập viên của Nhà xuất bản Tri Thức mà tôi không thể kể hết tên ở đây, những người đã giúp đỡ và cộng tác rất hiệu quả với tôi trong thời gian vừa qua. Tôi cũng xin đặc biệt cám ơn anh Đinh Tuấn Minh, một nhà kinh tế học trẻ, người đã rất nhiệt tình trong việc hiệu đính những tác phẩm viết về kinh tế học do tôi dịch trong thời gian qua. Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn nhà văn Phạm Thị Hoài, người đã động viên tôi rất nhiều trong những bước đầu trên con đường dịch thuật của tôi.

Thưa quý vị và các bạn
Nói đến dịch thuật, người ta thường nhấn mạnh khía cạnh truyền bá kiến thức của nó. Điều đó tất nhiên là đúng. Nhưng còn một khía cạnh nữa: ảnh hưởng của dịch thuật đối với ngôn ngữ thì dường như thường bị lãng quên. Và khi nói tới ảnh hưởng của dịch thuật đối với ngôn ngữ, người ta thường nhắc tới Martin Luther, người đã dịch Kinh Tân ước (vào năm 1522) và Kinh Cựu ước (vào năm 1534) từ tiếng Latin sang thổ ngữ của miền trung nước Đức và đã khiến cho bộ phận ngôn ngữ ấy sau này trở thành ngôn ngữ chuẩn của nước Đức. Dù không có những nghiên cứu về ảnh hưởng cụ thể của dịch thuật đối với tiếng Việt, nhưng tôi tin chắc rằng việc dịch Tam tạng kinh điển của đạo Phật, dịch các trước tác của Khổng giáo và các tiểu thuyết kinh điển của Trung Quốc sang chữ Nôm và sau này là sang chữ Quốc ngữ, cũng như việc dịch các tác phẩm văn học và khoa học từ tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Nga sang tiếng Việt đã có những đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển của tiếng Việt hiện đại. Chỉ cần đọc một vài tác phẩm viết cách đây khoảng 100 năm và so sánh văn phong của những tác phẩm đó với những tác phẩm được xuất bản gần đây, chúng ta cũng sẽ thấy ngay rằng tiếng Việt đã rõ ràng, mạch lạc, trong sáng và hiện đại hơn rất nhiều. Tôi tin chắc rằng các dịch giả tiền bối đã có công rất lớn trong quá trình hiện đại hóa đó.

Về phần mình, dù dịch tác phẩm nào, về kinh tế học, xã hội học hay triết học, trước khi ngồi vào bàn phím tôi đều tự nhắc nhở mình câu nói nổi tiếng của học giả Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn; tiếng ta còn thì nước ta còn”. Tôi hiểu rằng, trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, tổ tiên của chúng ta, những người nông dân chân lấm tay bùn, một nắng hai sương đã dứt khoát không chịu dùng tiếng nói của kẻ cai trị, dứt khoát chỉ dùng tiếng Việt và hơn thế nữa, còn Việt hóa nhiều từ Hán, làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú thêm. Và cùng với sự phát triển của tiếng Việt, tinh thần dân tộc cũng gia tăng để đến lúc nhân dân ta tự nhận thức được rằng “Sông núi nước Nam vua Nam ở”, hay nói như chúng ta ngày nay là “độc lập dân tộc”. Đấy chính là tinh thần đã hun đúc nên chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, chấm dứt một ngàn năm Bắc thuộc. Trải qua hơn một ngàn năm nữa, ngày nay chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng tiếng Việt đã phong phú đến mức có thể thể hiện được mọi cung bậc của tình cảm và đủ sức chuyển tải được những khái niệm khó khăn nhất của tất cả các ngành khoa học hiện đại. Và cùng với sự phát triển của xã hội, tiếng Việt vẫn tiếp tục phát triển và sẽ còn phát triển mãi. Tôi cho rằng dịch thuật và các dịch giả của chúng ta sẽ có những đóng góp xứng đáng trong quá trình phát triển đó. Đồng thời, tôi cũng tin rằng, dù có xảy ra những chuyện như thế nào, dù đất nước ta có trải qua những cuộc khủng hoảng về kinh tế, về xã hội và thể chế như thế nào đi nữa, nhưng nếu những người đang sống trên dải đất hình chữ S từ mũi Cà Mau tới Mục Nam Quan và mấy triệu kiều bào Việt Nam ở nước ngoài còn tiếp tục coi tiếng Việt là một trong những di sản quý báu nhất mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, tiếp tục giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt, tiếp tục vun bồi để cho tiếng Việt ngày càng phong phú thêm, ngày càng trong sáng hơn thì nước Việt Nam ta nhất định sẽ còn như học giả Phạm Quỳnh đã nói. Tôi luôn tự nhắc mình rằng, là một người phu chữ, tôi xin mượn chữ của nhà thơ Lê Đạt để gọi mình như thế, nếu một giây phút nào đó mình lơ là với tiếng Việt, viết những câu chữ thiếu trong sáng và khó hiểu thì đấy là lúc mình đã mắc tội với tổ tiên và có lỗi với những thế hệ tương lai.

Còn một điều nữa, thưa quý vị và các bạn
Cụ Phan Châu Trinh đã dành cả đời mình cho sự nghiệp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Làm một công việc vĩ đại như thế chỉ bằng ngòi bút và tiếng nói thì tự do ngôn luận chính là phương tiện hữu hiệu nhất. Cụ sẵn sàng hi sinh tự do thân thể của mình, cụ đã từng đập đá ở Côn Lôn, thậm chí Cụ sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình để bảo vệ quyền làm người căn bản đó. Tôi tin rằng hương hồn Cụ sẽ đồng ý khi tôi trích dẫn Voltaire, triết gia người Pháp, rằng tự do ngôn luận là: “Mặc dù tôi ghét cay ghét đắng điều bạn nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết để bạn được quyền nói điều đó”. Và tôi cũng tin rằng hương hồn Cụ sẽ đồng ý khi tôi trích dẫn George Orwell, một nhà văn lớn người Anh, rằng: “Nếu tự do có một ý nghĩa nào đó thì đấy chính là quyền nói cho người ta nghe những điều người ta không muốn nghe”. Lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến, ước mong mang tri thức từ những chân trời xa xôi về để khai sáng cho đồng bào của mình và cuộc đấu tranh kiên cường cho tự do của chí sĩ Phan Tây Hồ là những bài học vô giá mà kẻ hậu sinh là tôi không bao giờ dám quên hay dám lơ là.

Đấy là những điều tâm huyết mà tôi xin được thưa cùng quý vị và các bạn trong ngày hôm nay.
Cuối cùng, tôi xin chúc Hội đồng Quản lý Quỹ Phan Châu Trinh, Hội đồng Khoa học của Quỹ, và những người đã và sẽ nhận giải thưởng cao quý này sức khỏe dồi dào, để chúng ta có đủ sức giương cao mãi ngọn cờ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của nhà cách mạng Phan Châu Trinh; đủ sức trao ngọn cờ đó cho những cánh tay rắn chắc và đáng tin cậy của các thế hệ đi sau, để cho tinh thần khai sáng của Người trường tồn mãi mãi cùng dân tộc chúng ta.

Thưa quý vị và các bạn
Nhân ngày giỗ chí sĩ Phan Tây Hồ, 24 tháng 3, sáng nay tôi đã cùng một vài bạn trẻ đến thắp nhang tại khu lưu niệm chí sĩ ở số 9 Phan Thúc Duyện, quận Tân Bình. Bây giờ, tại diễn đàn trang trọng này, một lần nữa xin được nghiêng mình trước anh linh của Người. Xin Người phù hộ cho tất cả chúng ta.

Xin cám ơn.

Ảnh: Lễ trao Giải Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 6 ngày 29-3-2013 tại TPHCM. Ông Phạm Duy Hiển là người thứ hai từ bên trái. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Share SHARE
Read More..

30 thg 3, 2013

Ừ nhỉ, đi Mỹ làm quái gì cơ chứ.

Nguyễn Đại Hoàng dịch
 
 Xin gửi đến bài viết thú vị về nước Mỹ qua giọng văn châm biếm của một người Trung Quốc. Bản tiếng Việt do anh Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ kèm lời giới thiệu.
Dẫn : Xuất hiện lần đầu tiên trên mạng xã hội Sina Weibo, bài viết này đã nhận được hàng chục ngàn chia sẻ và bình luận. Nội dung tưởng như châm chích cười cợt mỉa mai nước Mỹ như một quốc gia ngu ngốc, sơ khai và ngây ngô, nhưng thực ra lại là lời phê phán sắc sảo sâu cay thú vị về chính Trung Quốc ! Tờ Tea Leaf Nation đã trích dịch , biên tập lại những phần đinh nhất của bài viết nói trên. Xin giới thiệu sau đây bản chuyển ngữ của Nguyễn Đại Hoàng.

Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại ! Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách tới được cái xứ sở siêu cường đó.
Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến là rất đáng thất vọng !
1. Công nghiệp
Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển !
Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.
Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói,nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi. Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa ! Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này, tịnh không có một cái ống khói nào ! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí ti để trang trí nhà cửa thôi !
Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông ! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa ! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả !
2. Kinh tế
Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế ! Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào ! Thế là mất toi cả núi vàng!
Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ ! Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ !
Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào !
3. Xây dựng
Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm.Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông ở nước Mỹ. Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu khác.
Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà Thanh xưa kia ấy chứ !
4. Văn hóa
Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.
Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không ? Thế đấy !
Ở nước ta, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi – còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. ( Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức).
Hồi đó người ta chuộng lối sống “ đạo đức giả ”nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa. Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả !
5. Ẩm thực
Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.
Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. Thế mà chính quyền đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy !
Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền ! Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai !
6. Phong cách
Người Mỹ làm như không biết tự trọng !
Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài , họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. Giáo sư D chẳng hạn, là một giáo sư tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm !
Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ PhD. lên danh thiếp của mình. Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây !
Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy ! Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy !
7. Học đường
Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất.
Chúng không hề có ý định đi học để trở thành ông này bà nọ trong chính quyền! Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, ủy viên tương lai, như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ.
Trường học ở Mỹ chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách , sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. Trở thành công dân có đủ tư cách ư ? Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao !
8. Y tế
Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh.
Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. Rồi cầm toa đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng …ôi chao mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc …Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc … mà lẽ ra nên tách rời lợi nhuận với trách nhiệm !
Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không biết kiếm tiền mà ! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ ? … chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá cao gấp cả chục lần cơ mà ! Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết khai thác , rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ chết rồi !
9.Báo chí
Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao !
Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ . Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này : Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à ? Nghe mà bực !
Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ . Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám “ chưởi ” cả tổng thống nữa cơ đấy!
Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ !
10. Tâm linh
Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo.
Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu thánh nghe hết sức khờ khạo : Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ.
Thật là buồn cười quá đi : Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này ? Cầu Chúa có ich lợi gì chứ ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng !
Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ !
11. Lối sống
Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian .
Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi … Còn người Trung Quốc chúng ta – như bạn biết đấy – khôn hơn nhiều !
Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ ! Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa.
Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ !
12. Mua bán
Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức vô lý : bạn có thể trả lại hàng vài tuần sau khi mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ !
13. An toàn
Nước Mỹ không an toàn ! Tôi nói điều này bởi có tới 95 % nhà dân không cần tới lưới chống trộm, và điều kỳ lạ này nữa là : chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ ?
14. Giao thông
Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết !
Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95 % tài xế không dám vượt đèn đỏ !’
Và mặc dầu 99 % dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ : bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, làm sao mà bì được phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ !
15. Tình cảm
Người Mỹ rất là thiếu cảm xúc .
Có tới 95 % nhân viên không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. Ở Trung Quốc liệu có ai điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không? Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không ? Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình thương mến thương với lãnh đạo !
16. Nhạy bén
Người Mỹ không nhạy bén chút nào !
99% người Mỹ đi học, đi làm , thăng quan tiến chức, mà không hề biết sự cần thiết của “ phong bì ” để có thể mở ra một cánh cửa ..sau !
 

Read More..

25 thg 3, 2013

Trại Súc Vật

Nhân dịp nhà xuất bản Hội nhà văn Việt nam phát hành cuốn tiểu thuyết nổi  tiếng " Trại súc vật" của nhà văn George Orwell. Blog Đinh Bá Tuấn giới thiệu bản dịch của  dịch giả Phạm Minh Ngọc.

Phạm Minh Ngọc hay Phạm Nguyên Trường tên thật là Phạm Duy Hiển, tốt nghiệp đại học tại Liên Xô, hiện anh và gia đình đang sống làm việc tại thành phố Vũng Tàu. Anh dịch nhiều tác phẩm chính trị, kinh tế và đã được xuất bản tại Việt nam, như: Đường về nô lệ, Chế độ dân chủ Nhà nước xã hội, Tâm lý đám đông, Lược khảo Adam Smith, Thị trường và đạo đức ... Anh cũng vừa được giải thưởng Phan Chu Trinh năm 2012 về dịch thuật các dịch phẩm kinh điển về kinh tế học. Tiểu thuyết Trại súc vật được anh dịch từ nguyên bản tiếng Anh, có tham khảo bản Nga văn của Лара Беспалова -2001.(Đ.B.T)

Phạm Minh Ngọc dịch và giới thiệu

Trại Súc Vật được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau thì được in ở Mĩ. Trước đó George Orwell đã cho xuất bản 9 đầu sách với tổng số bản in cả ở Anh và Mĩ là 195 500 cuốn. Sau chiến tranh thế giới thứ II do thiếu giấy nên số lượng bản in hạn chế, tuy vậy cho đến khi Orwell mất vào tháng giêng năm 1950 đã có tất cả 25 500 cuốn Trại Súc Vật được in ở Anh và 590 000 cuốn được in ở Mĩ. Điều đó nói lên thành công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm. Sinh thời Orwell tác phẩm này đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chính của châu Âu cũng như các thứ tiếng như Telugu (một dân tộc thuộc bắc Ấn Độ), Ba Tư, Aixlen và Ukraine. Sau hơn 50 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới và thuờng xuyên được tái bản. Trong lần bình chọn 100 tác phẩm hay nhất trong thế kỉ XX do nhà sách Random House tiến hành, Trại Súc Vật được xếp thứ 31.

Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của George Orwell chúng tôi xin giới thiệu Trại Súc Vật, một trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông với lời tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Ukraine do chính Orwell viết. Lời tựa này được Orwell viết bằng tiếng Anh (bản gốc đã bị thất lạc), theo đề nghị của người tổ chức dịch thuật và phân phối tác phẩm này cho những người Ukraine chạy trốn chế độ Xô viết và sống trong các trại tạm cư do quân đội Anh và Mĩ thiết lập trên đất Đức. Lời tựa được dịch sang tiếng Ukraine dành cho lần xuất bản đầu tiên vào năm 1947, nhà sách Penguin Classic trong lần xuất bản năm 2000 đã cho dịch lại và in kèm với lời giới thiệu của Malcolm Bradbury.
Sau tác phẩm Trại Súc Vật, George Orwell còn viết một tác phẩm nổi tiếng 1984. Tác phẩm này nằm ở vị trí 13 trong bảng tổng sắp của nhà sách Randomhouse đã nói ở trên. Tin rằng một ngày gần đây tác phẩm bất hủ này cũng sẽ ra mắt độc giả tiếng Việt.
Phạm Minh Ngọc

Lời tựa
Tôi được yêu cầu viết lời giới thiệu cho bản dịch tác phẩm Trại Súc Vật sang tiếng Ukraine. Tôi nhận thức rõ rằng tôi đang viết cho những độc giả mà tôi không có một chút hiểu biết nào và họ cũng chưa từng có cơ hội tìm hiểu tôi.
Trong lời giới thiệu chắc chắn các độc giả muốn tôi kể về quá trình sáng tác tác phẩm Trại Súc Vật, nhưng trước tiên tôi muốn tự kể về mình và những trải nghiệm đã dẫn tôi đến quan điểm chính trị hiện nay.
Tôi sinh năm 1903 tại Ấn Độ. Lúc đó cha tôi là một viên chức trong bộ máy hành chính Anh quốc ở đấy, gia đình tôi thuộc tầng lớp trung lưu gồm các quân nhân, tu sĩ, viên chức chính phủ, giáo sư, luật sư, bác sĩ v.v… Tôi tốt nghiệp trung học tại Eton, một trường công lập thuộc loại đắt nhất nước Anh thời đó. Nhưng tôi được vào học ở đây là do được nhận học bổng chứ cha tôi không thể có tiền để gửi tôi vào học những trường như thế.
Ngay sau khi thôi học (lúc đó tôi chưa đủ 20 tuổi) tôi đi Miến Điện và tham gia lực lượng cảnh sát Hoàng gia tại đây. Tôi làm ở đó năm năm. Việc này hoàn toàn không hợp với tôi, tôi trở nên căm ghét chủ nghĩa đế quốc mặc dù lúc đó tinh thần quốc gia ở Miến Điện chưa cao và quan hệ giữa người Anh và người Miến cũng chưa đến nỗi nào. Sau khi về lại Anh quốc vào năm 1927 tôi giải ngũ và bắt đầu viết văn: thời gian đầu không có thành công đáng kể nào. Trong những năm 1928-1929 tôi sống ở Paris, chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng không có nhà xuất bản nào chịu in (tôi đã xé bỏ hết). Những năm sau đó tôi phải tay làm hàm nhai, đôi khi phải nhịn đói. Chỉ từ năm 1934 tới nay tôi mới sống được bằng ngòi bút. Trong thời gian này tôi đã sống nhiều tháng giữa những người nghèo khổ và bất hảo, ăn xin và ăn cắp tại những khu vực tồi tệ nhất của những khu phố nghèo. Lúc đầu tôi phải nhập bọn với họ vì không có tiền, nhưng sau này tôi lại rất thích lối sống đó. Tôi đã dành nhiều tháng trời để nghiên cứu đời sống thợ mỏ ở miền Bắc nước Anh. Cho đến năm 1930 nói chung tôi vẫn chưa phải là người theo trường phái xã hội. Thực ra tôi vẫn chưa xác định được quan điểm chính trị của mình.Tôi trở thành người theo trường phái xã hội vì căm thù cách người ta đàn áp và khinh thường tầng lớp công nhân công nghiệp nghèo khổ chứ không phải vì thán phục xã hội theo kế hoạch hoá về mặt về mặt lí luận.
Tôi lập gia đình năm 1936. Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha nổ ra ngay trong những ngày đó. Hai vợ chồng tôi đều muốn đi Tây Ban Nha để chiến đấu cho chính phủ nước này. Chúng tôi sẵn sàng lên đường, sáu tháng sau đó, khi tôi viết xong cuốn sách mà tôi đã khởi sự từ trước. Tôi đã ở mặt trận Aragon gần Huesca sáu tháng liền, cho đến khi bị một phát đạn bắn tỉa xuyên qua cổ.
Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến những người ngoại quốc hoàn toàn không hiểu được cuộc đấu tranh giữa các đảng phái ủng hộ chính phủ Tây Ban Nha. Do một loạt sự tình cờ, tôi không tham gia các Binh đoàn Quốc tế như đa số những người ngoại quốc khác mà chiến đấu trong hàng ngũ của lực lượng vũ trang POUM, đảng của những người theo phái Troskist Tây Ban Nha.
Vì vậy giữa năm 1947 khi những người Cộng sản nắm được quyền kiểm soát (hay một phần quyền kiểm soát) chính phủ Tây Ban Nha và bắt đầu săn đuổi những người Troskist thì cả hai vợ chồng tôi đều trở thành nạn nhân. Chúng tôi may mắn đi khỏi được Tây Ban Nha, thậm chí không bị bắt lần nào. Nhiều bạn bè của chúng tôi đã bị bắn bỏ, một số bị tù đày nhiều năm, số khác thì mất tích.
Những cuộc săn người ở Tây Ban Nha xảy ra đồng thời với những cuộc thanh trừng vĩ đại ở Liên Xô. Thực chất những vụ thanh trừng ở Tây Ban Nha và ở Nga chỉ là một (gọi là âm mưu với bọn phát xít) và nếu nói về Tây Ban Nha thì tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng đấy là những vụ kết án oan. Qua đó tôi đã nhận được một bài học đắt giá: nó dạy tôi rằng bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị dễ dàng lèo lái dư luận ở những nước dân chủ đến mức nào.
Hai vợ chồng tôi đã chứng kiến những người vô tội bị quẳng vào nhà giam chỉ vì họ bị nghi là không theo đường lối chính thống. Khi trở về Anh chúng tôi thấy rất nhiều người thạo tin và nhạy bén tin vào những bản án kì quặc về âm mưu phản bội và phá hoại do báo chí tường thuật từ những vụ án ở Moscow.
Và tôi thực sự hiểu ra ảnh hưởng tiêu cực của huyền thoại Xô viết đối với phong trào xã hội ở phương Tây.
Đến đây tôi xin dừng lại một chút để trình bày thái độ của tôi đối với chế độ Xô viết.
Tôi chưa đến thăm Nga bao giờ và hiểu biết của tôi về nước Nga chỉ là kiến thức do thu lượm được từ báo chí, sách vở. Ngay cả nếu có đủ sức tôi cũng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô: tôi sẽ không kết án Stalin và các cộng sự của ông ta chỉ vì những phương pháp dã man và phi dân chủ của họ. Có thể là trong những điều kiện như thế, dù có muốn, họ cũng không thể hành động khác được.
Nhưng mặt khác đối với tôi điều cực kì quan trọng là nhân dân Tây Âu phải nhận rõ chế độ Xô viết như nó đang là. Từ năm 1930 tôi nhìn thấy rất ít bằng chứng là Liên Xô đang tiến đến cái có thể thực sự gọi là Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, có những chỉ dấu rõ ràng rằng xã hội ấy đang chuyển hoá thành xã hội có tôn ti trật tự và những người cầm quyền, cũng như mọi giai cấp cầm quyền khác, chẳng thấy có lí do gì để rời bỏ quyền lực đã làm tôi choáng váng. Hơn nữa công nhân và trí thức ở những nước như Anh quốc lại không hiểu rằng Liên Xô hôm nay đã khác hẳn Liên Xô năm 1917. Một phần vì họ không chịu hiểu (nghĩa là họ muốn tin rằng có một nước xã hội chủ nghĩa quả thực đang tồn tại ở đâu đó), một phần vì họ quen với cuộc sống tự do và ôn hoà, họ không biết gì về chủ nghĩa toàn trị.
Cần phải nhớ rằng nước Anh chưa phải là nước hoàn toàn dân chủ. Đây vẫn là nước tư bản với những đặc quyền đặc lợi giai cấp (ngay cả bây giờ, sau cuộc chiến tranh có xu hướng làm cho mọi người bình đẳng hơn) và sự chênh lệch gay gắt về tài sản. Nhưng dù sao ở đây người dân đã có cuộc sống không có những xáo trộn lớn suốt mấy trăm năm qua, luật pháp tương đối công chính, tin tức và số liệu của chính quyền có thể tin được và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là người ta có thể giữ và ủng hộ quan điểm của thiểu số mà không bị bất kì đe dọa chết người nào. Trong hoàn cảnh như vậy người ta không thể nào hiểu được những hiện tượng như trại tập trung, cưỡng ép di cư hàng lọat, bỏ tù không cần xét xử, kiểm duyệt báo chí v.v… Tất cả những điều đọc được trên báo chí về những nước như Liên Xô được tự động phiên dịch sang các thuật ngữ của nước Anh và họ ngây thơ tin ngay những điều dối trá của bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị đó. Cho đến năm 1939, và cả sau này nữa, đa số người Anh không hiểu được thực chất chế độ phát-xít ở Đức và nay họ cũng có ảo tưởng tương tự như vậy đối với Liên Xô.
Điều đó đặc biệt có hại đối với phong trào Xã hội Anh và gây hậu quả xấu đối với chính sách đối ngoại của nước Anh. Theo tôi, tin rằng nước Nga là nước xã hội chủ nghĩa và mọi hành vi của những người cầm quyền ở đó đều nên được tha thứ, nếu không nói là phải theo là sự phản bội đối với lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy trong mười năm gần đây tôi đã đi đến kết luận rằng việc phá tan huyền thoại Xô viết là việc làm vô cùng cần thiết nếu ta muốn tái sinh phong trào xã hội chủ nghĩa.
Ngay sau khi trở về từ Tây Ban Nha tôi đã nghĩ đến việc vạch trần huyền thoại Xô viết dưới dạng một câu chuyện dễ hiểu và dễ dịch sang các thứ tiếng khác. Nhưng chi tiết của câu chuyện vẫn chưa có, cho đến một hôm (khi đó tôi sống ở nông thôn) tôi trông thấy một cậu bé, khoảng mười tuổi, đang đánh một chiếc xe ngựa to trên một con đường hẹp, cứ mỗi lần con ngựa định quay ngang là cậu bé lại ra roi. Trong đầu tôi bỗng loé lên ý nghĩ rằng nếu loài vật nhận thức được sức mạnh của chúng thì con người không thể nào còn điều khiển được chúng nữa và con người bóc lột loài vật cũng hệt như các tầng lớp hữu sản bóc lột giai cấp vô sản vậy.
Tôi tiến hành phân tích học thuyết của Marx trên quan điểm của súc vật. Đối với loài vật thì rõ ràng là luận điểm về đấu tranh giai cấp giữa người với người chỉ là một sự lừa mị, vì mỗi khi cần bóc lột súc vật là tất cả mọi người lại đoàn kết với nhau để chống lại chúng: cuộc đấu tranh thực sự là cuộc đấu tranh giữa loài vật và loài người. Từ đây việc tạo ra tác phẩm không còn khó nữa. Tôi bận nhiều việc khác, không có thì giờ, cho nên mãi đến năm 1943 tôi vẫn chưa bắt đầu viết truyện này và cuối cùng tôi đã đưa thêm một số sự kiện, thí dụ như Hội nghị Teheran là sự kiện xảy ra trong thời gian tôi viết. Như vậy là đường hướng chính của câu chuyện đã nằm trong đầu tôi suốt sáu năm trước khi tôi thực sự đưa nó lên giấy.
Tôi không có ý bình luận tác phẩm, nếu tác phẩm không có sức thuyết phục thì có nghĩa là tác phẩm ấy đã thất bại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai điểm: thứ nhất, mặc dù nhiều tình tiết được lấy từ lịch sử của cuộc Cách mạng Nga nhưng chúng chỉ có ý nghĩa tượng trưng và trật tự đã được thay đổi cho cân đối với cốt truyện. Điểm thứ hai thường bị các nhà phê bình bỏ qua, nguyên nhân có thể là vì tôi chưa nhấn đúng mức. Nhiều độc giả sau khi đọc xong có cảm tưởng rằng cuốn sách đã dừng lại ở sự hoà giải hoàn toàn giữa loài lợn và loài người. Nhưng đấy không phải là ý của tôi, ngược lại, tôi cố ý kết thúc ở chỗ chỉ rõ sự bất hoà, vì tôi viết chuyện này ngay sau Hội nghị Teheran, mọi người lúc đó đều nghĩ rằng Hội nghị này sẽ thiết lập một mối quan hệ tốt đẹp nhất có thể giữa Liên Xô và phương Tây. Cá nhân tôi không tin rằng quan hệ tốt đẹp đó có thể kéo dài được lâu, và như các sự kiện cho thấy, tôi đã không lầm.
Tôi không biết phải nói gì thêm nữa. Nếu độc giả nào quan tâm đến cá nhân tôi thì tôi xin nói thêm rằng tôi đã goá vợ, hiện tôi đang sống với con trai ba tuổi, tôi là nhà văn chuyên nghiệp nhưng từ khi bắt đầu cuộc chiến thì tôi làm việc chủ yếu như một phóng viên.
Tôi thường viết cho tờ Tribune, một tờ tuần báo đại diện cho phái tả của đảng Lao động. Các cuốn sách sau đây của tôi có thể được độc giả quan tâm: Những ngày ở Miến điện (câu chuyện về Miến điện), Tưởng nhớ Catalonia (viết về những trải nghiệm của tôi trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha) và tác phẩm Phê bình (các bài viết về văn học đương đại Anh, được viết chủ yếu từ quan điểm xã hội học hơn là quan điểm thuần tuý văn chương).

Chương I

Ông Jones, chủ Điền Trang đóng cửa chuồng gà, nhưng vì say quá nên quên đóng cửa chuồng lợn. Với chiếc đèn bão trong tay, đung đưa, khi sang phải, khi sang trái, ông lảo đảo đi qua sân, tới cửa sau thì lấy chân đạp ủng ra và bước vào bếp để uống nốt vại bia cuối cùng trong ngày rồi leo lên giường, nơi vợ ông, bà Jones đã ngáy khò khò.
Ngay khi đèn trong phòng ngủ vừa tắt, đây đó bỗng dậy lên những tiếng sột soạt, thì thầm. Ngày hôm đó có tin đồn rằng Thủ Lĩnh, một con lợn đực trắng, từng được huy chương trong một cuộc triển lãm, đêm hôm trước có một giấc mơ kì lạ và muốn kể cho mọi loài cùng nghe. Chúng thoả thuận với nhau là ngay sau khi ông Jones đi ngủ sẽ tập trung trong nhà kho lớn. Tất cả các con vật trong trang trại đều kính trọng Thủ Lĩnh (chúng gọi nó như vậy, mặc dù khi đi dự triển lãm nó mang tên Willingdon Điển Trai) và sẵn sàng hi sinh giấc ngủ để được nghe nó nói chuyện.
Thủ Lĩnh ngồi trên một cái bục có nệm rơm phía trong cùng nhà kho, dưới ánh sáng của chiếc đèn bão treo trên xà nhà. Nó đã mười hai tuổi, mặc dù thời gian gần đây có béo thêm, với những chiếc răng nanh thò cả ra, nhưng trông nó vẫn có vẻ tiên phong đạo cốt, phúc hậu. Những con khác bắt đầu lục tục kéo tới, mỗi con tìm một chỗ ngồi thuận lợi. Đầu tiên là ba con chó Bluebell, Jessie và Pincher, sau đó là lũ lợn; chúng ngồi trên đống rơm phía trước bục. Lũ gà leo lên bậu cửa sổ, đám bồ câu đậu trên rui mè, bọn bò và cừu nằm phía sau lũ lợn và bắt đầu công việc nhai lại của chúng. Hai con ngựa kéo xe tên là Chiến Sĩ và Bà Mập cùng vào, từ từ lại gần cái bục, trước mỗi bước chúng đều thận trọng quan sát để không giẫm bẹp một con thú nhỏ nào ở bên dưới lớp rơm. Bà Mập, một con ngựa cái trung niên hiền lành, thân hình đã sồ sề vì bốn lần sinh nở. Chiến Sĩ, một con tuấn mã cao đến gần hai mét và khoẻ bằng hai con ngựa khác. Vì có một vệt trắng dọc sống mũi nên trông nó có vẻ đần, thực ra cu cậu cũng không thuộc loại thông minh, nhưng bù lại, nó được các con khác tôn trọng vì tính kiên định và hay lam hay làm. Sau đó là đến con dê trắng tên là Mona và con lừa tên là Benjamin. Benjamin là con vật già nhất bọn, nhưng cũng là con xấu tính nhất. Benjamin ít nói, nhưng hễ mở miệng là y như rằng nó tìm cách giễu cợt, ví dụ có lần nó tuyên bố rằng Thượng Đế tạo cho nó cái đuôi để đuổi ruồi, nhưng giá đừng có cả đuôi lẫn ruồi thì còn thích hơn. Nó là con vật duy nhất không bao giờ cười. Nếu hỏi tại sao thì nó bảo: chẳng có lí do gì. Mặc dù vậy và tuy không nói ra nhưng nó rất trung thành với Chiến Sĩ, chủ nhật nào hai con cũng yên lặng gặm cỏ bên nhau ở bãi giữ ngựa phía sau khu vườn.
Hai con ngựa vừa nằm xuống thì bầy vịt con mồ côi lao vào nhà kho, chúng vừa kêu chiếp chiếp khe khẽ vừa chạy loanh quanh, mong tìm một chỗ an toàn. Bà Mập lấy chân trước khoanh thành một khu cho chúng, lũ vịt con mau chóng chui vào đó rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Ngay trước khi buổi nói chuyện bắt đầu thì Mollie, một ả ngựa cái dốt nát, màu trắng, chuyên kéo chiếc xe nhỏ của ông Jones, vừa đi vừa nhai một cục đường, mới õng ẹo bước vào. Nó lập tức chiếm ngay vị trí phía trước cái bục và lắc lư bờm để mong những con khác chú ý đến dải ruy băng đỏ trang điểm trên đó. Cuối cùng là một con mèo, nó nhìn quanh và vẫn như mọi khi, cố tìm cho mình một chỗ thật ấm, rồi chen vào nằm giữa Chiến Sĩ và Bà Mập, chị chàng sung sướng phát ra những tiếng gừ… gừ… trong cổ họng, mặc Thủ Lĩnh muốn nói gì thì nói.
Thế là tất cả các con vật trong Điền Trang đã có mặt đầy đủ, chỉ trừ con quạ Moses, nó ngủ trên hàng rào ngay bên ngoài cửa sau. Khi Thủ Lĩnh thấy tất cả đã an vị và sẵn sàng lắng nghe thì húng hắng ho lấy giọng và bắt đầu:
“Thưa các đồng chí! Như các đồng chí đã biết, đêm qua tôi có một giấc mơ kì lạ. Nhưng tôi sẽ nói chuyện đó sau. Đầu tiên tôi muốn nói với các đồng chí một số việc hoàn toàn khác. Thưa các đồng chí, tôi nghĩ rằng tôi không ở lại với các đồng chí được bao lâu nữa, vì vậy tôi cho rằng trước khi chết mình phải có trách nhiệm chia sẻ với các đồng chí những kinh nghiệm mà tôi đã tích lũy được trong suốt cuộc đời mình. Tôi đã có một cuộc đời phải nói là dài và tôi đã suy nghĩ rất nhiều khi nằm một mình trong chuồng, tôi nghĩ rằng tôi có thể nói là tôi hiểu đời không thua bất kì con vật nào trên thế gian này. Đó là điều tôi muốn nói với các đồng chí.
Bây giờ, thưa các đồng chí, thực chất đời sống của chúng ta là gì? Chúng ta hãy nhìn thẳng vào sự thật. Cuộc đời của chúng ta là khổ sai, khốn nạn và yểu mệnh. Chúng ta sinh ra, chúng ta được một khẩu phần vừa đủ để khỏi chết vì đói, những con nào có thể làm thì phải làm đến kiệt sức và khi không làm được nữa thì chúng ta bị giết một cách vô cùng dã man, tàn bạo. Không có con vật nào ở nước Anh này biết đến hạnh phúc và niềm vui ngay khi vừa tròn một tuổi. Không có con vật nào ở nước Anh này được tự do. Cuộc sống của loài vật là cuộc sống nghèo khổ và nô lệ: sự thật trần trụi là như thế đấy.
Nhưng đấy có phải là qui luật của tự nhiên không? Chả lẽ nước ta lại nghèo đến độ không nuôi nổi những động vật sống ở đây ư? Không, ngàn vạn lần không, thưa các đống chí. Đất Anh màu mỡ, thời tiết thuận hòa, thừa sức cung cấp thức ăn cho một số lượng động vật lớn hơn hiện nay rất nhiều. Chỉ nội cái trang trại của chúng ta đã có thể nuôi được một tá ngựa, hai chục bò, hàng trăm cừu và tất cả đều có thể sống trong tiện nghi và phẩm giá mà nay chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi. Thế thì tại sao chúng ta lại cứ tiếp tục sống trong điều kiện khốn nạn thế này? Bởi vì hầu như toàn bộ những gì chúng ta làm ra đều bị con người chiếm đoạt hết. Đấy là nguyên nhân tất cả các vấn nạn của chúng ta. Nói ngắn gọn bằng một từ là: Con Người. Con Người là kẻ thù của chúng ta. Nếu không còn người nữa thì chúng ta vĩnh viễn sẽ không còn bị đói, không còn phải làm công việc khổ sai nữa.
Người là giống vật duy nhất chỉ ăn mà không làm. Người không làm ra sữa, không đẻ ra trứng, người không thể kéo cày, không chạy nhanh bằng thỏ. Nhưng nó lại là chủ của tất cả chúng ta. Nó bắt chúng ta làm việc, cướp lấy mọi thành quả lao động của chúng ta, chỉ cho chúng ta ăn vừa đủ để không chết đói mà thôi. Chúng ta phải cày bừa, phân chúng ta bón ruộng, thế mà chúng ta có gì? Chẳng có gì ngoài da bọc xương. Các đồng chí bò đang ngồi trước mặt tôi đây, năm vừa qua các đồng chí cho bao nhiêu lít sữa? Thế số sữa mà đáng lẽ dùng để nuôi các chú bò con ấy đi đâu? Kẻ thù của chúng ta đã uống đến giọt cuối cùng. Còn các bạn gà, năm vừa qua các bạn đã đẻ bao nhiêu trứng, trong đó có bao nhiêu quả nở thành gà con? Lão Jones và gia nhân đã mang ra chợ bán lấy tiền hết rồi. Bà Mập, bốn đứa con của bà, niềm vui và chốn nương tựa lúc tuổi cao bóng xế của bà đâu rồi? Chúng đã bị đem bán khi vừa tròn một tuổi, bà sẽ không bao giờ được gặp lại chúng nữa. Một khẩu phần ăn chết đói và cái chuồng, công cho bốn lần vượt cạn cũng như công việc đồng áng của bà chỉ có thế mà thôi!
Nhưng dù khốn nạn như thế chúng ta cũng có được sống trọn tuổi trời đâu. Riêng tôi thì chẳng có gì phải phàn nàn, vì thực ra tôi đã gặp may. Năm nay tôi đã mười hai tuổi rồi, tôi có hơn bốn trăm đứa con. Trời đất sinh ra giống lợn là như thế. Nhưng cuối cùng thì cũng chẳng có con vật nào thoát khỏi lưỡi dao oan nghiệt. Tất cả các bạn lợn thịt đang ngồi trước mặt tôi đây, trong vòng một năm nữa tất cả các bạn sẽ phải từ giã cõi đời trên tấm phản mổ. Tất cả chúng ta, bò, lợn, gà, cừu, không ai trong chúng ta tránh khỏi cái kết cục khủng khiếp đó. Số phận của loài ngựa và loài chó cũng chẳng tốt đẹp hơn. Đồng chí Chiến Sĩ nữa, ngay khi cơ bắp của đồng chí vừa yếu đi thì lão Jones sẽ bán đồng chí cho lão mổ ngựa, hắn sẽ cắt cổ đồng chí rồi hầm dừ cho lũ chó săn ăn. Những con chó già, rụng răng sẽ bị lão Jones buộc một viên gạch vào cổ và quăng xuống hồ.
Thưa các đồng chí, chả lẽ các đồng chí không thấy rằng tất cả mọi khổ đau trong cuộc đời này của chúng ta chính là do con người mà ra hay sao? Nếu chúng ta loại bỏ được Con Người thì mọi thành quả lao động của chúng ta sẽ thuộc về chúng ta. Nếu làm được thế thì chỉ sau một đêm chúng ta sẽ trở nên giàu có và tự do. Thế thì chúng ta phải làm gì? Làm việc, không kể ngày đêm, cả bằng sức mạnh và tài năng để lật đổ ách thống trị của loài người! Khởi nghĩa! Các đồng chí – đấy là thông điệp của tôi. Tôi không biết khi nào thì cuộc Khởi Nghĩa sẽ xảy ra, có thể trong tuần tới, cũng có thể là một trăm năm nữa, nhưng tôi biết rõ, như tôi đang nhìn thấy những cọng rơm bên dưới chân tôi đây rằng sớm muộn gì rồi công bằng cũng sẽ được thiết lập. Các đồng chí hãy nghĩ đến điều đó trong suốt cuộc đời còn lại ngắn ngủi của mình! Ngoài ra, hãy chuyển thông điệp của tôi đến các thế hệ tương lai, để các thế hệ đó tiếp tục cuộc đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng.
Các đồng chí hãy kiên định. Không được dao động. Đừng có nghe theo lời tuyên truyền rằng Con Người và các loài vật cùng có chung quyền lợi, rằng sự thịnh vượng của loài này cũng là sự thịnh vượng của loài kia. Bịp bợm hết. Con Người không quan tâm đến quyền lợi của ai, nó chỉ quan tâm đến chính nó mà thôi. Các loài vật chúng ta phải đoàn kết nhất trí, phải có tinh thần đồng chí trong cuộc đấu tranh này. Tất cả loài người đều là kẻ thù. Tất cả các con vật đều là đồng chí.”
Đúng lúc đó thì tiếng ồn ào nổi lên. Chả là trong khi Thủ Lĩnh đang nói thì có bốn con chuột cống bò ra khỏi hang và cũng đến nghe. Mấy con chó đã trông thấy và may là lũ chuột kịp chạy vào hang, không thì đã mất mạng rồi. Thủ Lĩnh phải giơ chân lên đề nghị im lặng.
“Thưa các đồng chí”, nó nói, “có một vấn đề cần phải giải quyết. Những con thú hoang như chuột cống và thỏ, chúng là bạn hay là kẻ thù của chúng ta? Đề nghị biểu quyết. Tôi xin đặt vấn đề với hội nghị như sau: Chuột có phải là đồng chí không?”
Cuộc bỏ phiếu được thực hiện ngay, đa số tán thành coi chuột là đồng chí. Chỉ có bốn phiếu chống, đấy là ba con chó và một con mèo, nhưng sau này mới phát hiện ra rằng mèo ta bỏ cả phiếu thuận lẫn phiếu chống. Thủ Lĩnh tiếp tục:
“Tôi xin nói thêm một chút nữa. Tôi chỉ muốn nhắc lại rằng nhiệm vụ của các đồng chí là phải luôn luôn tranh đấu với Con Người và tất cả những gì do nó tạo ra. Tất cả những loài hai chân đều là kẻ thù. Tất cả những loài bốn chân hoặc có cánh đều là bạn. Các đồng chí lại phải luôn luôn nhớ rằng chúng ta không được bắt chước loài người trong cuộc đấu tranh chống lại chúng. Ngay cả khi đã chiến thắng, chúng ta cũng không được tập nhiễm các thói xấu của chúng. Không có con vật nào được sống trong nhà, ngủ trên giường, mặc quần áo, uống rượu, hút thuốc, sử dụng tiền hoặc tham gia buôn bán. Tất cả phong tục của loài người đều là có hại. Quan trọng nhất là không con nào được áp chế con nào. Khoẻ cũng như yếu, thông minh tài trí cũng như bình thường, tất cả chúng ta đều là anh em. Không được giết hại lẫn nhau. Mọi con vật sinh ra đều bình đẳng.
Và bây giờ, thưa các đồng chí, tôi sẽ kể cho các đồng chí nghe giấc mơ của tôi tối hôm qua. Tôi không thể mô tả được. Tôi mơ thấy trái đất khi con người đã biến đi rồi. Giấc mơ này làm sống dậy trong trí tôi một việc như sau:
Cách đây đã lâu, khi tôi còn là một chú lợn nhỏ, mẹ tôi cùng với các cô bác lợn khác thường hát một bài hát có từ ngày xưa: họ chỉ nhớ nhạc điệu và ba từ đầu tiên thôi. Lúc bé tôi cũng thuộc nhạc điệu, nhưng tôi đã quên từ lâu. Thế mà đêm qua, trong giấc mơ, tôi đã nhớ lại tất cả, hơn thế nữa, tôi còn nhớ lại được cả lời bài hát, tôi tin chắc rằng ngày xưa các loài vật đã từng hát như thế, nhưng sau này họ quên và mấy thế hệ gần đây hoàn toàn không biết hát nữa. Bây giờ tôi sẽ hát cho các đồng chí nghe. Tôi đã già, giọng không còn trong, nhưng khi tôi dạy nhạc điệu cho các đồng chí thì các đồng chí sẽ hát hay hơn. Bài hát tên là: Súc Sinh Anh quốc”.
Thủ lĩnh già hắng giọng và bắt đầu hát. Giọng đúng là đã khàn, nhưng nó hát cũng không đến nỗi tồi, giai điệu hỗn hợp giữa kiểu “Clementine” và “La Cucuracha”. Lời bài hát như sau:
“Súc sinh Anh quốc
Súc sinh muôn nơi
Lắng nghe niềm vui mới
Của một ngày mai sáng tươi
Đồng cỏ núi đồi
Mãi mãi xanh ngời
Khi lũ người
Không còn là ách trên vai
Chạc, chạc không còn
Cương, cương cũng không
Roi vọt, chửi mắng
Chỉ là quá khứ tối tăm
Ta giàu, ta có
Vườn cây, đồng lúa
Đậu, sắn, ngô, khoai
Là của chúng ta từ đây
Mặt trời sáng soi
Nước càng ngọt tươi
Gió mát muôn đời
Là ngày tự do tương lai
Súc sinh Anh quốc
Súc sinh muôn nơi
Lắng nghe niềm vui mới
Của một ngày mai sáng tươi” [1]
Bài hát đã làm cho lũ súc vật kích động tột độ. Một số con kịp bắt theo ngay trước khi Thủ lĩnh hát hết bài. Ngay những con ngu dốt nhất cũng nắm được nhạc điệu và thuộc mấy từ, còn những con thông minh hơn, như lũ chó và lũ lợn, thì thuộc lòng cả bài ngay trong vài phút đầu. Sau vài lần tập, cả trang trại đã cùng đồng ca được bài Súc Sinh Anh quốc. Mỗi loài hát một giọng, bò rống, chó sủa, cừu kêu be be, ngựa hí, vịt kêu cạp cạp. Chúng khoái bài hát đến độ hát liền một mạch năm lần và chúng có thể hát mãi như thế suốt đêm nếu không bị ngăn trở.
Đáng tiếc là tiềng ồn ào đã làm ông Jones thức giấc, ông bước xuống giường vì tin chắc là có một con cáo đã lọt vào sân. Ông tìm khẩu súng vẫn thường dựng ở góc phòng và bắn một lọat đạn ghém lên trời. Có mấy viên găm vào tường nhà kho và cuộc họp mau chóng kết thúc. Từng con quay về chỗ ngủ của mình. Gia cầm nhảy lên ổ, còn gia súc thì nằm xuống đống rơm và chẳng bao lâu sau cả trang trại đã chìm vào giấc ngủ.
Read More..