Nhân dịp nhà xuất bản Hội nhà văn Việt nam phát hành cuốn tiểu thuyết nổi tiếng " Trại súc vật" của nhà văn George Orwell. Blog Đinh Bá Tuấn giới thiệu bản dịch của dịch giả Phạm Minh Ngọc.
Phạm Minh Ngọc hay Phạm Nguyên Trường tên thật là Phạm Duy Hiển, tốt nghiệp đại học tại Liên Xô, hiện anh và gia đình đang sống làm việc tại thành phố Vũng Tàu. Anh dịch nhiều tác phẩm chính trị, kinh tế và đã được xuất bản tại Việt nam, như: Đường về nô lệ, Chế độ dân chủ Nhà nước xã hội, Tâm lý đám đông, Lược khảo Adam Smith, Thị trường và đạo đức ... Anh cũng vừa được giải thưởng Phan Chu Trinh năm 2012 về dịch thuật các dịch phẩm kinh điển về kinh tế học. Tiểu thuyết Trại súc vật được anh dịch từ nguyên bản tiếng Anh, có tham khảo bản Nga văn của Лара Беспалова
-2001.(Đ.B.T)
Phạm Minh Ngọc dịch và giới thiệu
Trại Súc Vật được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau
thì được in ở Mĩ. Trước đó George Orwell đã cho xuất bản 9 đầu sách với
tổng số bản in cả ở Anh và Mĩ là 195 500 cuốn. Sau chiến tranh thế giới
thứ II do thiếu giấy nên số lượng bản in hạn chế, tuy vậy cho đến khi
Orwell mất vào tháng giêng năm 1950 đã có tất cả 25 500 cuốn Trại Súc
Vật được in ở Anh và 590 000 cuốn được in ở Mĩ. Điều đó nói lên thành
công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm. Sinh thời Orwell tác phẩm này
đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chính của châu Âu cũng như các thứ
tiếng như Telugu (một dân tộc thuộc bắc Ấn Độ), Ba Tư, Aixlen và
Ukraine. Sau hơn 50 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được
dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới và thuờng xuyên được tái bản. Trong
lần bình chọn 100 tác phẩm hay nhất trong thế kỉ XX do nhà sách Random
House tiến hành, Trại Súc Vật được xếp thứ 31.
Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của George Orwell chúng tôi xin giới
thiệu Trại Súc Vật, một trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông với
lời tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Ukraine do chính Orwell viết. Lời
tựa này được Orwell viết bằng tiếng Anh (bản gốc đã bị thất lạc), theo
đề nghị của người tổ chức dịch thuật và phân phối tác phẩm này cho
những người Ukraine chạy trốn chế độ Xô viết và sống trong các trại tạm
cư do quân đội Anh và Mĩ thiết lập trên đất Đức. Lời tựa được dịch sang
tiếng Ukraine dành cho lần xuất bản đầu tiên vào năm 1947, nhà sách
Penguin Classic trong lần xuất bản năm 2000 đã cho dịch lại và in kèm
với lời giới thiệu của Malcolm Bradbury.
Sau tác phẩm Trại Súc Vật, George Orwell còn viết một tác phẩm nổi
tiếng 1984. Tác phẩm này nằm ở vị trí 13 trong bảng tổng sắp của nhà
sách Randomhouse đã nói ở trên. Tin rằng một ngày gần đây tác phẩm bất
hủ này cũng sẽ ra mắt độc giả tiếng Việt.
Phạm Minh Ngọc
Lời tựa
Tôi được yêu cầu viết lời giới thiệu cho bản dịch tác phẩm Trại Súc
Vật sang tiếng Ukraine. Tôi nhận thức rõ rằng tôi đang viết cho những
độc giả mà tôi không có một chút hiểu biết nào và họ cũng chưa từng có
cơ hội tìm hiểu tôi.
Trong lời giới thiệu chắc chắn các độc giả muốn tôi kể về quá trình
sáng tác tác phẩm Trại Súc Vật, nhưng trước tiên tôi muốn tự kể về mình
và những trải nghiệm đã dẫn tôi đến quan điểm chính trị hiện nay.
Tôi sinh năm 1903 tại Ấn Độ. Lúc đó cha tôi là một viên chức trong
bộ máy hành chính Anh quốc ở đấy, gia đình tôi thuộc tầng lớp trung lưu
gồm các quân nhân, tu sĩ, viên chức chính phủ, giáo sư, luật sư, bác sĩ
v.v… Tôi tốt nghiệp trung học tại Eton, một trường công lập thuộc loại
đắt nhất nước Anh thời đó. Nhưng tôi được vào học ở đây là do được nhận
học bổng chứ cha tôi không thể có tiền để gửi tôi vào học những trường
như thế.
Ngay sau khi thôi học (lúc đó tôi chưa đủ 20 tuổi) tôi đi Miến Điện
và tham gia lực lượng cảnh sát Hoàng gia tại đây. Tôi làm ở đó năm năm.
Việc này hoàn toàn không hợp với tôi, tôi trở nên căm ghét chủ nghĩa đế
quốc mặc dù lúc đó tinh thần quốc gia ở Miến Điện chưa cao và quan hệ
giữa người Anh và người Miến cũng chưa đến nỗi nào. Sau khi về lại Anh
quốc vào năm 1927 tôi giải ngũ và bắt đầu viết văn: thời gian đầu không
có thành công đáng kể nào. Trong những năm 1928-1929 tôi sống ở Paris,
chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng không có nhà xuất bản nào
chịu in (tôi đã xé bỏ hết). Những năm sau đó tôi phải tay làm hàm nhai,
đôi khi phải nhịn đói. Chỉ từ năm 1934 tới nay tôi mới sống được bằng
ngòi bút. Trong thời gian này tôi đã sống nhiều tháng giữa những người
nghèo khổ và bất hảo, ăn xin và ăn cắp tại những khu vực tồi tệ nhất
của những khu phố nghèo. Lúc đầu tôi phải nhập bọn với họ vì không có
tiền, nhưng sau này tôi lại rất thích lối sống đó. Tôi đã dành nhiều
tháng trời để nghiên cứu đời sống thợ mỏ ở miền Bắc nước Anh. Cho đến
năm 1930 nói chung tôi vẫn chưa phải là người theo trường phái xã hội.
Thực ra tôi vẫn chưa xác định được quan điểm chính trị của mình.Tôi trở
thành người theo trường phái xã hội vì căm thù cách người ta đàn áp và
khinh thường tầng lớp công nhân công nghiệp nghèo khổ chứ không phải vì
thán phục xã hội theo kế hoạch hoá về mặt về mặt lí luận.
Tôi lập gia đình năm 1936. Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha nổ ra ngay
trong những ngày đó. Hai vợ chồng tôi đều muốn đi Tây Ban Nha để chiến
đấu cho chính phủ nước này. Chúng tôi sẵn sàng lên đường, sáu tháng sau
đó, khi tôi viết xong cuốn sách mà tôi đã khởi sự từ trước. Tôi đã ở
mặt trận Aragon gần Huesca sáu tháng liền, cho đến khi bị một phát đạn
bắn tỉa xuyên qua cổ.
Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến những người ngoại quốc hoàn toàn
không hiểu được cuộc đấu tranh giữa các đảng phái ủng hộ chính phủ Tây
Ban Nha. Do một loạt sự tình cờ, tôi không tham gia các Binh đoàn Quốc
tế như đa số những người ngoại quốc khác mà chiến đấu trong hàng ngũ
của lực lượng vũ trang POUM, đảng của những người theo phái Troskist
Tây Ban Nha.
Vì vậy giữa năm 1947 khi những người Cộng sản nắm được quyền kiểm
soát (hay một phần quyền kiểm soát) chính phủ Tây Ban Nha và bắt đầu
săn đuổi những người Troskist thì cả hai vợ chồng tôi đều trở thành nạn
nhân. Chúng tôi may mắn đi khỏi được Tây Ban Nha, thậm chí không bị bắt
lần nào. Nhiều bạn bè của chúng tôi đã bị bắn bỏ, một số bị tù đày
nhiều năm, số khác thì mất tích.
Những cuộc săn người ở Tây Ban Nha xảy ra đồng thời với những cuộc
thanh trừng vĩ đại ở Liên Xô. Thực chất những vụ thanh trừng ở Tây Ban
Nha và ở Nga chỉ là một (gọi là âm mưu với bọn phát xít) và nếu nói về
Tây Ban Nha thì tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng đấy là những vụ kết án
oan. Qua đó tôi đã nhận được một bài học đắt giá: nó dạy tôi rằng bộ
máy tuyên truyền của chế độ toàn trị dễ dàng lèo lái dư luận ở những
nước dân chủ đến mức nào.
Hai vợ chồng tôi đã chứng kiến những người vô tội bị quẳng vào nhà
giam chỉ vì họ bị nghi là không theo đường lối chính thống. Khi trở về
Anh chúng tôi thấy rất nhiều người thạo tin và nhạy bén tin vào những
bản án kì quặc về âm mưu phản bội và phá hoại do báo chí tường thuật từ
những vụ án ở Moscow.
Và tôi thực sự hiểu ra ảnh hưởng tiêu cực của huyền thoại Xô viết đối với phong trào xã hội ở phương Tây.
Đến đây tôi xin dừng lại một chút để trình bày thái độ của tôi đối với chế độ Xô viết.
Tôi chưa đến thăm Nga bao giờ và hiểu biết của tôi về nước Nga chỉ
là kiến thức do thu lượm được từ báo chí, sách vở. Ngay cả nếu có đủ
sức tôi cũng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô: tôi
sẽ không kết án Stalin và các cộng sự của ông ta chỉ vì những phương
pháp dã man và phi dân chủ của họ. Có thể là trong những điều kiện như
thế, dù có muốn, họ cũng không thể hành động khác được.
Nhưng mặt khác đối với tôi điều cực kì quan trọng là nhân dân Tây Âu
phải nhận rõ chế độ Xô viết như nó đang là. Từ năm 1930 tôi nhìn thấy
rất ít bằng chứng là Liên Xô đang tiến đến cái có thể thực sự gọi là
Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, có những chỉ dấu rõ ràng rằng xã hội ấy
đang chuyển hoá thành xã hội có tôn ti trật tự và những người cầm
quyền, cũng như mọi giai cấp cầm quyền khác, chẳng thấy có lí do gì để
rời bỏ quyền lực đã làm tôi choáng váng. Hơn nữa công nhân và trí thức
ở những nước như Anh quốc lại không hiểu rằng Liên Xô hôm nay đã khác
hẳn Liên Xô năm 1917. Một phần vì họ không chịu hiểu (nghĩa là họ muốn
tin rằng có một nước xã hội chủ nghĩa quả thực đang tồn tại ở đâu đó),
một phần vì họ quen với cuộc sống tự do và ôn hoà, họ không biết gì về
chủ nghĩa toàn trị.
Cần phải nhớ rằng nước Anh chưa phải là nước hoàn toàn dân chủ. Đây
vẫn là nước tư bản với những đặc quyền đặc lợi giai cấp (ngay cả bây
giờ, sau cuộc chiến tranh có xu hướng làm cho mọi người bình đẳng hơn)
và sự chênh lệch gay gắt về tài sản. Nhưng dù sao ở đây người dân đã có
cuộc sống không có những xáo trộn lớn suốt mấy trăm năm qua, luật pháp
tương đối công chính, tin tức và số liệu của chính quyền có thể tin
được và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là người ta có thể
giữ và ủng hộ quan điểm của thiểu số mà không bị bất kì đe dọa chết
người nào. Trong hoàn cảnh như vậy người ta không thể nào hiểu được
những hiện tượng như trại tập trung, cưỡng ép di cư hàng lọat, bỏ tù
không cần xét xử, kiểm duyệt báo chí v.v… Tất cả những điều đọc được
trên báo chí về những nước như Liên Xô được tự động phiên dịch sang các
thuật ngữ của nước Anh và họ ngây thơ tin ngay những điều dối trá của
bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị đó. Cho đến năm 1939, và cả sau
này nữa, đa số người Anh không hiểu được thực chất chế độ phát-xít ở
Đức và nay họ cũng có ảo tưởng tương tự như vậy đối với Liên Xô.
Điều đó đặc biệt có hại đối với phong trào Xã hội Anh và gây hậu quả
xấu đối với chính sách đối ngoại của nước Anh. Theo tôi, tin rằng nước
Nga là nước xã hội chủ nghĩa và mọi hành vi của những người cầm quyền ở
đó đều nên được tha thứ, nếu không nói là phải theo là sự phản bội đối
với lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy trong mười năm gần đây tôi đã đi
đến kết luận rằng việc phá tan huyền thoại Xô viết là việc làm vô cùng
cần thiết nếu ta muốn tái sinh phong trào xã hội chủ nghĩa.
Ngay sau khi trở về từ Tây Ban Nha tôi đã nghĩ đến việc vạch trần
huyền thoại Xô viết dưới dạng một câu chuyện dễ hiểu và dễ dịch sang
các thứ tiếng khác. Nhưng chi tiết của câu chuyện vẫn chưa có, cho đến
một hôm (khi đó tôi sống ở nông thôn) tôi trông thấy một cậu bé, khoảng
mười tuổi, đang đánh một chiếc xe ngựa to trên một con đường hẹp, cứ
mỗi lần con ngựa định quay ngang là cậu bé lại ra roi. Trong đầu tôi
bỗng loé lên ý nghĩ rằng nếu loài vật nhận thức được sức mạnh của chúng
thì con người không thể nào còn điều khiển được chúng nữa và con người
bóc lột loài vật cũng hệt như các tầng lớp hữu sản bóc lột giai cấp vô
sản vậy.
Tôi tiến hành phân tích học thuyết của Marx trên quan điểm của súc
vật. Đối với loài vật thì rõ ràng là luận điểm về đấu tranh giai cấp
giữa người với người chỉ là một sự lừa mị, vì mỗi khi cần bóc lột súc
vật là tất cả mọi người lại đoàn kết với nhau để chống lại chúng: cuộc
đấu tranh thực sự là cuộc đấu tranh giữa loài vật và loài người. Từ đây
việc tạo ra tác phẩm không còn khó nữa. Tôi bận nhiều việc khác, không
có thì giờ, cho nên mãi đến năm 1943 tôi vẫn chưa bắt đầu viết truyện
này và cuối cùng tôi đã đưa thêm một số sự kiện, thí dụ như Hội nghị
Teheran là sự kiện xảy ra trong thời gian tôi viết. Như vậy là đường
hướng chính của câu chuyện đã nằm trong đầu tôi suốt sáu năm trước khi
tôi thực sự đưa nó lên giấy.
Tôi không có ý bình luận tác phẩm, nếu tác phẩm không có sức thuyết
phục thì có nghĩa là tác phẩm ấy đã thất bại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh
hai điểm: thứ nhất, mặc dù nhiều tình tiết được lấy từ lịch sử của cuộc
Cách mạng Nga nhưng chúng chỉ có ý nghĩa tượng trưng và trật tự đã được
thay đổi cho cân đối với cốt truyện. Điểm thứ hai thường bị các nhà phê
bình bỏ qua, nguyên nhân có thể là vì tôi chưa nhấn đúng mức. Nhiều độc
giả sau khi đọc xong có cảm tưởng rằng cuốn sách đã dừng lại ở sự hoà
giải hoàn toàn giữa loài lợn và loài người. Nhưng đấy không phải là ý
của tôi, ngược lại, tôi cố ý kết thúc ở chỗ chỉ rõ sự bất hoà, vì tôi
viết chuyện này ngay sau Hội nghị Teheran, mọi người lúc đó đều nghĩ
rằng Hội nghị này sẽ thiết lập một mối quan hệ tốt đẹp nhất có thể giữa
Liên Xô và phương Tây. Cá nhân tôi không tin rằng quan hệ tốt đẹp đó có
thể kéo dài được lâu, và như các sự kiện cho thấy, tôi đã không lầm.
Tôi không biết phải nói gì thêm nữa. Nếu độc giả nào quan tâm đến cá
nhân tôi thì tôi xin nói thêm rằng tôi đã goá vợ, hiện tôi đang sống
với con trai ba tuổi, tôi là nhà văn chuyên nghiệp nhưng từ khi bắt đầu
cuộc chiến thì tôi làm việc chủ yếu như một phóng viên.
Tôi thường viết cho tờ Tribune, một tờ tuần báo đại diện cho phái tả
của đảng Lao động. Các cuốn sách sau đây của tôi có thể được độc giả
quan tâm: Những ngày ở Miến điện (câu chuyện về Miến điện), Tưởng nhớ
Catalonia (viết về những trải nghiệm của tôi trong cuộc nội chiến ở Tây
Ban Nha) và tác phẩm Phê bình (các bài viết về văn học đương đại Anh,
được viết chủ yếu từ quan điểm xã hội học hơn là quan điểm thuần tuý
văn chương).
Chương I
Ông Jones, chủ Điền Trang đóng cửa chuồng gà, nhưng vì say quá nên
quên đóng cửa chuồng lợn. Với chiếc đèn bão trong tay, đung đưa, khi
sang phải, khi sang trái, ông lảo đảo đi qua sân, tới cửa sau thì lấy
chân đạp ủng ra và bước vào bếp để uống nốt vại bia cuối cùng trong
ngày rồi leo lên giường, nơi vợ ông, bà Jones đã ngáy khò khò.
Ngay khi đèn trong phòng ngủ vừa tắt, đây đó bỗng dậy lên những
tiếng sột soạt, thì thầm. Ngày hôm đó có tin đồn rằng Thủ Lĩnh, một con
lợn đực trắng, từng được huy chương trong một cuộc triển lãm, đêm hôm
trước có một giấc mơ kì lạ và muốn kể cho mọi loài cùng nghe. Chúng
thoả thuận với nhau là ngay sau khi ông Jones đi ngủ sẽ tập trung trong
nhà kho lớn. Tất cả các con vật trong trang trại đều kính trọng Thủ
Lĩnh (chúng gọi nó như vậy, mặc dù khi đi dự triển lãm nó mang tên
Willingdon Điển Trai) và sẵn sàng hi sinh giấc ngủ để được nghe nó nói
chuyện.
Thủ Lĩnh ngồi trên một cái bục có nệm rơm phía trong cùng nhà kho,
dưới ánh sáng của chiếc đèn bão treo trên xà nhà. Nó đã mười hai tuổi,
mặc dù thời gian gần đây có béo thêm, với những chiếc răng nanh thò cả
ra, nhưng trông nó vẫn có vẻ tiên phong đạo cốt, phúc hậu. Những con
khác bắt đầu lục tục kéo tới, mỗi con tìm một chỗ ngồi thuận lợi. Đầu
tiên là ba con chó Bluebell, Jessie và Pincher, sau đó là lũ lợn; chúng
ngồi trên đống rơm phía trước bục. Lũ gà leo lên bậu cửa sổ, đám bồ câu
đậu trên rui mè, bọn bò và cừu nằm phía sau lũ lợn và bắt đầu công việc
nhai lại của chúng. Hai con ngựa kéo xe tên là Chiến Sĩ và Bà Mập cùng
vào, từ từ lại gần cái bục, trước mỗi bước chúng đều thận trọng quan
sát để không giẫm bẹp một con thú nhỏ nào ở bên dưới lớp rơm. Bà Mập,
một con ngựa cái trung niên hiền lành, thân hình đã sồ sề vì bốn lần
sinh nở. Chiến Sĩ, một con tuấn mã cao đến gần hai mét và khoẻ bằng hai
con ngựa khác. Vì có một vệt trắng dọc sống mũi nên trông nó có vẻ đần,
thực ra cu cậu cũng không thuộc loại thông minh, nhưng bù lại, nó được
các con khác tôn trọng vì tính kiên định và hay lam hay làm. Sau đó là
đến con dê trắng tên là Mona và con lừa tên là Benjamin. Benjamin là
con vật già nhất bọn, nhưng cũng là con xấu tính nhất. Benjamin ít nói,
nhưng hễ mở miệng là y như rằng nó tìm cách giễu cợt, ví dụ có lần nó
tuyên bố rằng Thượng Đế tạo cho nó cái đuôi để đuổi ruồi, nhưng giá
đừng có cả đuôi lẫn ruồi thì còn thích hơn. Nó là con vật duy nhất
không bao giờ cười. Nếu hỏi tại sao thì nó bảo: chẳng có lí do gì. Mặc
dù vậy và tuy không nói ra nhưng nó rất trung thành với Chiến Sĩ, chủ
nhật nào hai con cũng yên lặng gặm cỏ bên nhau ở bãi giữ ngựa phía sau
khu vườn.
Hai con ngựa vừa nằm xuống thì bầy vịt con mồ côi lao vào nhà kho,
chúng vừa kêu chiếp chiếp khe khẽ vừa chạy loanh quanh, mong tìm một
chỗ an toàn. Bà Mập lấy chân trước khoanh thành một khu cho chúng, lũ
vịt con mau chóng chui vào đó rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Ngay
trước khi buổi nói chuyện bắt đầu thì Mollie, một ả ngựa cái dốt nát,
màu trắng, chuyên kéo chiếc xe nhỏ của ông Jones, vừa đi vừa nhai một
cục đường, mới õng ẹo bước vào. Nó lập tức chiếm ngay vị trí phía trước
cái bục và lắc lư bờm để mong những con khác chú ý đến dải ruy băng đỏ
trang điểm trên đó. Cuối cùng là một con mèo, nó nhìn quanh và vẫn như
mọi khi, cố tìm cho mình một chỗ thật ấm, rồi chen vào nằm giữa Chiến
Sĩ và Bà Mập, chị chàng sung sướng phát ra những tiếng gừ… gừ… trong cổ
họng, mặc Thủ Lĩnh muốn nói gì thì nói.
Thế là tất cả các con vật trong Điền Trang đã có mặt đầy đủ, chỉ trừ
con quạ Moses, nó ngủ trên hàng rào ngay bên ngoài cửa sau. Khi Thủ
Lĩnh thấy tất cả đã an vị và sẵn sàng lắng nghe thì húng hắng ho lấy
giọng và bắt đầu:
“Thưa các đồng chí! Như các đồng chí đã biết, đêm qua tôi có một
giấc mơ kì lạ. Nhưng tôi sẽ nói chuyện đó sau. Đầu tiên tôi muốn nói
với các đồng chí một số việc hoàn toàn khác. Thưa các đồng chí, tôi
nghĩ rằng tôi không ở lại với các đồng chí được bao lâu nữa, vì vậy tôi
cho rằng trước khi chết mình phải có trách nhiệm chia sẻ với các đồng
chí những kinh nghiệm mà tôi đã tích lũy được trong suốt cuộc đời mình.
Tôi đã có một cuộc đời phải nói là dài và tôi đã suy nghĩ rất nhiều khi
nằm một mình trong chuồng, tôi nghĩ rằng tôi có thể nói là tôi hiểu đời
không thua bất kì con vật nào trên thế gian này. Đó là điều tôi muốn
nói với các đồng chí.
Bây giờ, thưa các đồng chí, thực chất đời sống của chúng ta là gì?
Chúng ta hãy nhìn thẳng vào sự thật. Cuộc đời của chúng ta là khổ sai,
khốn nạn và yểu mệnh. Chúng ta sinh ra, chúng ta được một khẩu phần vừa
đủ để khỏi chết vì đói, những con nào có thể làm thì phải làm đến kiệt
sức và khi không làm được nữa thì chúng ta bị giết một cách vô cùng dã
man, tàn bạo. Không có con vật nào ở nước Anh này biết đến hạnh phúc và
niềm vui ngay khi vừa tròn một tuổi. Không có con vật nào ở nước Anh
này được tự do. Cuộc sống của loài vật là cuộc sống nghèo khổ và nô lệ:
sự thật trần trụi là như thế đấy.
Nhưng đấy có phải là qui luật của tự nhiên không? Chả lẽ nước ta lại
nghèo đến độ không nuôi nổi những động vật sống ở đây ư? Không, ngàn
vạn lần không, thưa các đống chí. Đất Anh màu mỡ, thời tiết thuận hòa,
thừa sức cung cấp thức ăn cho một số lượng động vật lớn hơn hiện nay
rất nhiều. Chỉ nội cái trang trại của chúng ta đã có thể nuôi được một
tá ngựa, hai chục bò, hàng trăm cừu và tất cả đều có thể sống trong
tiện nghi và phẩm giá mà nay chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi.
Thế thì tại sao chúng ta lại cứ tiếp tục sống trong điều kiện khốn nạn
thế này? Bởi vì hầu như toàn bộ những gì chúng ta làm ra đều bị con
người chiếm đoạt hết. Đấy là nguyên nhân tất cả các vấn nạn của chúng
ta. Nói ngắn gọn bằng một từ là: Con Người. Con Người là kẻ thù của
chúng ta. Nếu không còn người nữa thì chúng ta vĩnh viễn sẽ không còn
bị đói, không còn phải làm công việc khổ sai nữa.
Người là giống vật duy nhất chỉ ăn mà không làm. Người không làm ra
sữa, không đẻ ra trứng, người không thể kéo cày, không chạy nhanh bằng
thỏ. Nhưng nó lại là chủ của tất cả chúng ta. Nó bắt chúng ta làm việc,
cướp lấy mọi thành quả lao động của chúng ta, chỉ cho chúng ta ăn vừa
đủ để không chết đói mà thôi. Chúng ta phải cày bừa, phân chúng ta bón
ruộng, thế mà chúng ta có gì? Chẳng có gì ngoài da bọc xương. Các đồng
chí bò đang ngồi trước mặt tôi đây, năm vừa qua các đồng chí cho bao
nhiêu lít sữa? Thế số sữa mà đáng lẽ dùng để nuôi các chú bò con ấy đi
đâu? Kẻ thù của chúng ta đã uống đến giọt cuối cùng. Còn các bạn gà,
năm vừa qua các bạn đã đẻ bao nhiêu trứng, trong đó có bao nhiêu quả nở
thành gà con? Lão Jones và gia nhân đã mang ra chợ bán lấy tiền hết
rồi. Bà Mập, bốn đứa con của bà, niềm vui và chốn nương tựa lúc tuổi
cao bóng xế của bà đâu rồi? Chúng đã bị đem bán khi vừa tròn một tuổi,
bà sẽ không bao giờ được gặp lại chúng nữa. Một khẩu phần ăn chết đói
và cái chuồng, công cho bốn lần vượt cạn cũng như công việc đồng áng
của bà chỉ có thế mà thôi!
Nhưng dù khốn nạn như thế chúng ta cũng có được sống trọn tuổi trời
đâu. Riêng tôi thì chẳng có gì phải phàn nàn, vì thực ra tôi đã gặp
may. Năm nay tôi đã mười hai tuổi rồi, tôi có hơn bốn trăm đứa con.
Trời đất sinh ra giống lợn là như thế. Nhưng cuối cùng thì cũng chẳng
có con vật nào thoát khỏi lưỡi dao oan nghiệt. Tất cả các bạn lợn thịt
đang ngồi trước mặt tôi đây, trong vòng một năm nữa tất cả các bạn sẽ
phải từ giã cõi đời trên tấm phản mổ. Tất cả chúng ta, bò, lợn, gà,
cừu, không ai trong chúng ta tránh khỏi cái kết cục khủng khiếp đó. Số
phận của loài ngựa và loài chó cũng chẳng tốt đẹp hơn. Đồng chí Chiến
Sĩ nữa, ngay khi cơ bắp của đồng chí vừa yếu đi thì lão Jones sẽ bán
đồng chí cho lão mổ ngựa, hắn sẽ cắt cổ đồng chí rồi hầm dừ cho lũ chó
săn ăn. Những con chó già, rụng răng sẽ bị lão Jones buộc một viên gạch
vào cổ và quăng xuống hồ.
Thưa các đồng chí, chả lẽ các đồng chí không thấy rằng tất cả mọi
khổ đau trong cuộc đời này của chúng ta chính là do con người mà ra hay
sao? Nếu chúng ta loại bỏ được Con Người thì mọi thành quả lao động của
chúng ta sẽ thuộc về chúng ta. Nếu làm được thế thì chỉ sau một đêm
chúng ta sẽ trở nên giàu có và tự do. Thế thì chúng ta phải làm gì? Làm
việc, không kể ngày đêm, cả bằng sức mạnh và tài năng để lật đổ ách
thống trị của loài người! Khởi nghĩa! Các đồng chí – đấy là thông điệp
của tôi. Tôi không biết khi nào thì cuộc Khởi Nghĩa sẽ xảy ra, có thể
trong tuần tới, cũng có thể là một trăm năm nữa, nhưng tôi biết rõ, như
tôi đang nhìn thấy những cọng rơm bên dưới chân tôi đây rằng sớm muộn
gì rồi công bằng cũng sẽ được thiết lập. Các đồng chí hãy nghĩ đến điều
đó trong suốt cuộc đời còn lại ngắn ngủi của mình! Ngoài ra, hãy chuyển
thông điệp của tôi đến các thế hệ tương lai, để các thế hệ đó tiếp tục
cuộc đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng.
Các đồng chí hãy kiên định. Không được dao động. Đừng có nghe theo
lời tuyên truyền rằng Con Người và các loài vật cùng có chung quyền
lợi, rằng sự thịnh vượng của loài này cũng là sự thịnh vượng của loài
kia. Bịp bợm hết. Con Người không quan tâm đến quyền lợi của ai, nó chỉ
quan tâm đến chính nó mà thôi. Các loài vật chúng ta phải đoàn kết nhất
trí, phải có tinh thần đồng chí trong cuộc đấu tranh này. Tất cả loài
người đều là kẻ thù. Tất cả các con vật đều là đồng chí.”
Đúng lúc đó thì tiếng ồn ào nổi lên. Chả là trong khi Thủ Lĩnh đang
nói thì có bốn con chuột cống bò ra khỏi hang và cũng đến nghe. Mấy con
chó đã trông thấy và may là lũ chuột kịp chạy vào hang, không thì đã
mất mạng rồi. Thủ Lĩnh phải giơ chân lên đề nghị im lặng.
“Thưa các đồng chí”, nó nói, “có một vấn đề cần phải giải quyết.
Những con thú hoang như chuột cống và thỏ, chúng là bạn hay là kẻ thù
của chúng ta? Đề nghị biểu quyết. Tôi xin đặt vấn đề với hội nghị như
sau: Chuột có phải là đồng chí không?”
Cuộc bỏ phiếu được thực hiện ngay, đa số tán thành coi chuột là đồng
chí. Chỉ có bốn phiếu chống, đấy là ba con chó và một con mèo, nhưng
sau này mới phát hiện ra rằng mèo ta bỏ cả phiếu thuận lẫn phiếu chống.
Thủ Lĩnh tiếp tục:
“Tôi xin nói thêm một chút nữa. Tôi chỉ muốn nhắc lại rằng nhiệm vụ
của các đồng chí là phải luôn luôn tranh đấu với Con Người và tất cả
những gì do nó tạo ra. Tất cả những loài hai chân đều là kẻ thù. Tất cả
những loài bốn chân hoặc có cánh đều là bạn. Các đồng chí lại phải luôn
luôn nhớ rằng chúng ta không được bắt chước loài người trong cuộc đấu
tranh chống lại chúng. Ngay cả khi đã chiến thắng, chúng ta cũng không
được tập nhiễm các thói xấu của chúng. Không có con vật nào được sống
trong nhà, ngủ trên giường, mặc quần áo, uống rượu, hút thuốc, sử dụng
tiền hoặc tham gia buôn bán. Tất cả phong tục của loài người đều là có
hại. Quan trọng nhất là không con nào được áp chế con nào. Khoẻ cũng
như yếu, thông minh tài trí cũng như bình thường, tất cả chúng ta đều
là anh em. Không được giết hại lẫn nhau. Mọi con vật sinh ra đều bình
đẳng.
Và bây giờ, thưa các đồng chí, tôi sẽ kể cho các đồng chí nghe giấc
mơ của tôi tối hôm qua. Tôi không thể mô tả được. Tôi mơ thấy trái đất
khi con người đã biến đi rồi. Giấc mơ này làm sống dậy trong trí tôi
một việc như sau:
Cách đây đã lâu, khi tôi còn là một chú lợn nhỏ, mẹ tôi cùng với các
cô bác lợn khác thường hát một bài hát có từ ngày xưa: họ chỉ nhớ nhạc
điệu và ba từ đầu tiên thôi. Lúc bé tôi cũng thuộc nhạc điệu, nhưng tôi
đã quên từ lâu. Thế mà đêm qua, trong giấc mơ, tôi đã nhớ lại tất cả,
hơn thế nữa, tôi còn nhớ lại được cả lời bài hát, tôi tin chắc rằng
ngày xưa các loài vật đã từng hát như thế, nhưng sau này họ quên và mấy
thế hệ gần đây hoàn toàn không biết hát nữa. Bây giờ tôi sẽ hát cho các
đồng chí nghe. Tôi đã già, giọng không còn trong, nhưng khi tôi dạy
nhạc điệu cho các đồng chí thì các đồng chí sẽ hát hay hơn. Bài hát tên
là: Súc Sinh Anh quốc”.
Thủ lĩnh già hắng giọng và bắt đầu hát. Giọng đúng là đã khàn, nhưng
nó hát cũng không đến nỗi tồi, giai điệu hỗn hợp giữa kiểu “Clementine”
và “La Cucuracha”. Lời bài hát như sau:
“Súc sinh Anh quốc
Súc sinh muôn nơi
Lắng nghe niềm vui mới
Của một ngày mai sáng tươi
Đồng cỏ núi đồi
Mãi mãi xanh ngời
Khi lũ người
Không còn là ách trên vai
Chạc, chạc không còn
Cương, cương cũng không
Roi vọt, chửi mắng
Chỉ là quá khứ tối tăm
Ta giàu, ta có
Vườn cây, đồng lúa
Đậu, sắn, ngô, khoai
Là của chúng ta từ đây
Mặt trời sáng soi
Nước càng ngọt tươi
Gió mát muôn đời
Là ngày tự do tương lai
Súc sinh Anh quốc
Súc sinh muôn nơi
Lắng nghe niềm vui mới
Của một ngày mai sáng tươi” [1]
Bài hát đã làm cho lũ súc vật kích động tột độ. Một số con kịp bắt
theo ngay trước khi Thủ lĩnh hát hết bài. Ngay những con ngu dốt nhất
cũng nắm được nhạc điệu và thuộc mấy từ, còn những con thông minh hơn,
như lũ chó và lũ lợn, thì thuộc lòng cả bài ngay trong vài phút đầu.
Sau vài lần tập, cả trang trại đã cùng đồng ca được bài Súc Sinh Anh
quốc. Mỗi loài hát một giọng, bò rống, chó sủa, cừu kêu be be, ngựa hí,
vịt kêu cạp cạp. Chúng khoái bài hát đến độ hát liền một mạch năm lần
và chúng có thể hát mãi như thế suốt đêm nếu không bị ngăn trở.
Đáng tiếc là tiềng ồn ào đã làm ông Jones thức giấc, ông bước xuống
giường vì tin chắc là có một con cáo đã lọt vào sân. Ông tìm khẩu súng
vẫn thường dựng ở góc phòng và bắn một lọat đạn ghém lên trời. Có mấy
viên găm vào tường nhà kho và cuộc họp mau chóng kết thúc. Từng con
quay về chỗ ngủ của mình. Gia cầm nhảy lên ổ, còn gia súc thì nằm xuống
đống rơm và chẳng bao lâu sau cả trang trại đã chìm vào giấc ngủ.