Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

15 thg 12, 2012

Cười với thơ "Hậu bút tre"


Nguyễn Giang

Đến nay có thể nói “Thơ Bút Tre” là một trường phái. Bởi vì, thơ Bút Tre ngày càng phát triển rầm rộ, mạnh mẽ và phong phú. Nó không còn bó hẹp trong phạm vi truyền khẩu nữa. Các sách, báo, tạp chí đ• đăng tải khá nhiều. Có tờ báo còn mở hẳn chuyên mục “Thơ Bút Tre” có địa phương còn thành lập câu lạc bộ “Thơ Bút Tre”.
Sức lan tỏa của nó không chỉ ở trong nước mà còn ảnh hưởng ra cả nước ngoài, ở những nơi Việt Kiều sinh sống. Nhiều người làm thơ Bút Tre. Có tác giả in thành tập, gọi là thơ “Hậu Bút Tre”. Điển hhhh như: Đặng Trần Luật, Phạm Ngọc Chân, Nguyễn Vũ Tiềm và đặc biệt là Nguyễn Bảo Sinh, người kế tục sự nghiệp thơ Bút Tre thành công hơn cả.
Một số tác giả còn lấy bút danh dựa trên cơ sở người sáng lập ra nó như: Bút Tre Trẻ, Bút Tre Xanh, Bút Tre Non, Bút Nứa, Bút Sậy rồi Bút Tre Tây, lại còn cả Bút Tre Uôn-Cúp nữa...
Một nhà thơ Bút Sắt viết:
Ngày nay cuộc sống bộn bề
Nụ cười thuốc bổ, ca vè dân gian
Bởi ai cũng có thể làm
Bút Tre, Bút Nứa, lại càng bút bi.
Thực ra, Bút Tre chỉ là người “khai mở” một cách viết mới, không rõ vô tình hay hữu ý, nhưng đ• gây ấn tượng rất mạnh và được nồng nhiệt đón nhận.
Điển hình là những câu:
- Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.
- Chú về công tác bảo tàng
Cũng là nhiệm vụ cách màng (mạng) giao cho
- Con ruồi là vật hiểm nguy
Cái chân của nó rất vi trùng nhiều.
- Bỗng đâu bộc phá thình lình
Nổ tung chính giữa tổng dinh họ Đờ.
(Tướng Đờ – Cát bại trận ở Điện Biên Phủ)
- Chị em du kích tài thay
Bắn tàu bay Mỹ rơi ngay cửa Ty mình
- Hoan hô các bạn Quảng Bình
Từ trong tuyến lửa thình lình ra đây.
- Giặc Mỹ leo thang đến Phú Tho (Thọ)
Na-pan đốt cháy cả rừng co (cọ)
Sẵn sàng chiến đấu chị em bắn
Rớt trước ty mình một dù đo (đỏ)
- Bấy lâu gan dạ bồn chồn
Nay mừng gặp lại sáng khôn con người.
Chính những câu thơ của Bút Tre đ• vô tình “vẽ đường cho hươu chạy”. Nó trở thành điểm tựa cho dân gian “Hậu Bút Tre” tận dụng khai thác triệt để. Bắt nguồn từ cách viết của Bút Tre, họ chế thêm, bịa thêm, nói ngược nói xuôi, nói lái các kiểu chẳng biết đâu mà lần. Khi giả bộ ngô nghê, khi cợt nhả bỗ b•. Thời đại mới, trình độ học vấn ngày càng cao. Trình độ thơ phú cũng lắm “cao thủ”. Nhiều cây bút Hậu Bút Tre rất tài hoa, sắc sảo, hài hước một cách tế nhị, khéo léo. Tục mà kín đáo, hở mà không “nghĩa lộ”. Nó khởi sắc trên cả... “tuyệt vời”, không hổ danh “Hậu sinh khả ố ”.
Thơ Hậu Bút Tre vốn từ thực tế, chủ yếu đọc cho vui cười thoải mái. Chẳng có ý đồ xiên xẹo hay chọc giận ai cả. Cách diễn tả thường đơn giản, cụ thể, nêu trực tiếp vấn đề cần nói theo lối úp úp, mở mở hài hước, tếu táo. Đôi khi tự đem mình ra châm biếm, chế diễu, cười cợt:
- Vợ đẹp thì chồng phải lo
Đêm nằm lắm kẻ rình mò ước ao
Chẳng thà cứ xấu như tao
Cho không cũng chẳng thằng nào nó them (thèm)
- Cao lương mỹ vị đều chê
Chỉ thích cơm đĩa đặt kề đùi non
- Đánh cá phải tiết kiệm mìn
Đàn ông yếu thận chớ tìm gái tơ
- Thà ăn một miếng bò non
Còn hơn sơi hẳn cả con bò già
- Ước gì anh hóa thành gà
Để đi đạp mái những nhà xung quanh
- Ước gì em hóa thành trâu
Anh hóa thành đỉa, anh bâu lên người
- Sướng nhất là ngủ với giai
Thứ nhì là được ăn xoài chín cây.
Phổ biến nhất là thêm, bớt, nhái, mô-đi-phê từ cái nọ sang cái kia. Chính cái sự cố tình bắt chước ấy, chế ra ấy đ• gây ra tiếng cười sảng khoái:
-  Bây giờ mận mới hỏi xoài
Vườn hồng đ• có ai nhoài vào chưa
Mận hỏi thì xoài xin thưa
Vườn hồng chưa có ai khua tay vào.
- Hôm qua đi chơi khuya về
Hương tình, mem rượu bay đi ít nhiều
Vợ không ta thán một điều
Chỉ con chó mực vẫy liều cái đuôi.
- Lương chồng, lương vợ lương con
Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm
Lương tâm đem chặt ra hầm
Chồng chan, vợ húp lần rầm khen ngon.
- Bầm ra ruộng cấy bầm run
Con vào nhà nghỉ còn run hơn bầm
Si-đa phục sẵn xa gần
Không hại riêng mình, hại cả vợ con.
- Vợ ở xa, gái ở gần
Cái váy nó ngắn, cái chân nó dài
Ngực nó để hở ra ngoài
Ngày ngày nom thấy bố ai chả thèm.
Thơ Hậu Bút Tre thường bột phát hết sức tự nhiên như thế, đôi khi nội dung còn méo mó, chữ nghĩa xộc xệch thô giáp, nhiều lúc tỏ ra ngô nghê, ngộ nghĩnh “ấm ớ việt gian” được sáng tác kịp thời dưới mọi hình thức.
- Tiễn anh ra bến ô tô
Em về em khóc tồ tồ cả đêm
- Đông vui chớ có chen vào
Gái tơ huých nhẹ, chỗ nào cũng đau
- Rượu minh mang rất tuyệt vời
Chỉ dùng chữa bệnh cho người yếu chim
- Gái trinh vắng bóng trên đường
Hóa ra còn ở trong trường mầm non
- Không đi không biết Sài Gòn
Đi về trong túi chẳng còn một xu
Nói ra thì bảo rằng ngu
Cái mồm ăn ít, thằng cu ăn nhiều.
- Dỗ trẻ con cho sờ ti
Dỗ người lớn chẳng khác gì trẻ thơ
Sờ rồi lòng những ngẩn ngơ
Lại mong sờ chỗ trẻ thơ ra đời.
Nhưng, thú vị nhất, rôm rả nhất vẫn là chuyện “Bồ bịch”. Thời nào cũng thế “có cái nắng, có cái gió thì phải có cái đó”. Thời “mở cửa”, “cởi” hơn, “mở” hơn “thoáng” hơn, thể hiện bản năng gốc đúng nghĩa hơn.
- Bánh mỳ phải kẹp pa-tê
Ai mà chả có máu dê trong người.
Với lối sống hiện đại nên “hại điện” là cái chắc. “Đạo bồ bịch” được xem là chuyện “sinh hoạt vui vẻ”, “chuyện thường ngày ở huyện”. Không cặp bồ mới lạ chứ cặp bồ thì quá...kính nể!
-Trái tim anh như căn nhà trống
Gió em vào nếu chán gió lại ra
Có chuyện kể rằng: “Thầy thuốc hỏi bệnh nhân tình trạng sức khỏe ra sao, bệnh nhân khai:
- Nhà em mắc chứng bệnh lạ lắm, cứ thấy gái là chân tay bủn rủn, bứt rứt như kim châm, kiến đốt. Toàn thân nóng bừng bừng, tưởng sắp bốc lửa.
Thầy lại hỏi:
- Bị lâu chưa?
- Thời trẻ thì nhẹ thôi, nhưng càng ngày càng nặng thêm, nhất là sau một thời gian lấy vợ đến bây giờ thì nặng lắm rồi, mong thầy mở lượng từ bi cứu giúp.
Thầy lắc đầu:
- Ta chịu! Đến ngay như ta mắc bệnh này đ• lâu mà sư phụ ta còn phải bó tay, vì sư phụ bị nặng hơn ta nhiều.
Bởi thế, mới có thơ nhắc nhở:
- Vợ là Thánh chỉ vua ban
Có sao dùng vậy chớ bàn đúng sai.
Nhưng nhiều ông chồng cứ ngó nghiêng, mắt la mày liếm.
- Từ khi ta có vợ rồi
Thấy mọi cô gái trên đời đều xinh.
Rồi cái lý sự cũng được thể hiện rất “cùn”:
- Con bò có một khối u
Đàn ông một vợ thì ngu như bò.
- Rượu chè cờ bạc gái trai
Là thứ thuốc bổ ông trời ban cho.
- Suốt đời chỉ yêu một người
Bệnh ấy còn nặng gấp mười ung thư.
- Phải hiểu thật kỹ đàn bà
Lúc trẻ ghen ít, càng già càng ghen.
- Chỉ lo giữ vợ trong nhà
Vừa hèn vừa chẳng xứng là đàn ông.
Không những thế họ còn nói rất vui, rất láu cá, ỡm ờ. Gọi vợ là cơm, bồ là phở “Sáng đưa cơm đi ăn phở, trưa dẫn phở đi ăn cơm, chiều cơm đi đằng cơm, phở đi đằng phở. Tối ôm cơm nhớ phở?!! Và, Vợ là địch, bồ là ta, quanh quẩn gần nhà ta đi với địch, tham quan du lịch ta đi với ta. Những lúc can qua ta về với địch. Đêm nằm với địch, ta lại nhớ ta”.
- Ai mà chả thích ăn quà
Nhưng mà vẫn phải về nhà ăn cơm
Nhai cơm thì khô như rơm
Cho nên cứ phải vừa cơm vừa quà.
Đôi khi ngụy biện theo lối vơ vào:
- Bờ sông lại lở xuống sông
Đàn bà ngủ với đàn ông thiệt gì.
- Kim đâm vào thịt thì đau
Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời.
- Sướng nhất chết ở chiến trường
Sướng nhì chết ở trên giường mỹ nhân.
- Chiến trường thích cựu chiến binh
ái tình thích kẻ chiến trinh lần đầu.
Thế đấy, đừng tưởng cựu chiến binh hay người cao tuổi là “hết phim” là “khát vọng” tập cuối đâu. Nhầm!.

- Già rồi đóng bỉm đi chơi
Quyết không quanh quẩn ở nơi xó nhà.
- Em đừng ngần ngại cái tuổi ta
Tóc bạc râu xanh, đứng đỉnh già
Yêu đương chưa chịu thua ai nhé
Bia rượu kém gì mấy thằng cha
Của nợ hai tay đè chửa xuống
Khối tình nong m•i cứ to ra
Già ở chỗ nào thây kệ nó
Chỗ ấy xem ra vẫn chửa già.
- Tóc thì nửa bạc nửa xanh
Em sờ củ hành thấy vẫn còn tươi
Em khen ta quá tuyệt vời
Già đâu cũng mặc, chỉ cốt tươi củ hành.
Cũng có người mạnh mồm như thế, nhưng có người lại than thân trách phận, nghe xót xa lắm:
- Ngày xưa vác pháo băng đồi
Nay không nhấc nổi qua đùi chị em.
Bởi chị em không sợ mỏi, không sợ mệt, chỉ sợ mềm.
- Tuổi già như lá mùa thu
Cái răng thì rụng, cái cu thì mềm
Đôi khi cũng thấy xòm xèm
Nhưng mà chỉ dở ra xem, chứ...không làm.
Xem ra cái gì cũng thành thơ được, đến mấy ông bợm rượu cũng có khoảng trời thơ riêng theo cách nói: “Chim khôn tìm cành cao mà đậu, người khôn tìm bạn nhậu mà chơi”.
- Hiu hiu gió núi đầu non
Những thằng uống rượu là con ông trời
Tưởng rằng nó uống nó chơi
Ai ngờ nó uống để rơi xuống trần.
- Trăm năm bia đá cũng mờ
Nghìn năm bia rượu lơ mơ suốt ngày.
- Rượu cay rượu đắng một đời
Uống cho quên hết những lời thế nhân.
Thơ Hậu Bút Tre là thế, thời nào cũng vậy, nó cứ tồn tại, giống như cái anh say rượu ấy, “uống cho đất bằng lại” lủng ca lủng củng: “Tôi say? anh say, hàng xóm say chứ tôi say đâu mà say?”
Rồi hai chân run lẩy bẩy, tay không chém nổi gió, miệng vẫn lảm nhảm:
- Tay cầm bầu rượu nắm nem
Ta cầm thiên hạ chứ cầm em làm gì!
Âu đấy cũng chỉ là lời nói của kẻ say.
- Bà con đừng chấp làm gì.
Cám ơn! Cống hỷ! Mec-xì! Xanh-kiu!
          
Read More..

13 thg 12, 2012

Ngày tận thế - Có gì mà sợ


Đinh Bá Tuấn

Chỉ còn một tuần nữa là đến ngày 21/12/2012,  ngày mà theo tiên đoán của người Maya là ngày tận thế của toàn nhân loại. Cả thế giới loài người đang nháo nhác. Để tránh họa này, ở Châu Âu người ta xây những hầm ngầm kiên cố. Ở Mỹ người ta chế tạo loại khinh khí cầu chống được tất cả các tia bức xạ. Nghèo như mấy nước bên trời Phi người ta cũng đào hầm, tích trữ lương thực …Chỉ riêng người Việt sống ở dải đất hình chữ S là bình chân như vại. Thậm chí ngay cả  khi mấy ông giáo sư đủ các trường phái, ngày thường cãi nhau như mổ bò, nhưng nay cùng đồng nhất  lên tiếng là: không có cơ sở nào để bác bỏ dự đoán về ngày tận thế của người Maya thì dân chúng nước Việt cũng cứ …vô tư.

Người Việt ở nước Việt không cập nhật được thông tin về ngày tận thế à? Không phải, báo chí các loại đã đưa tin đầy, dân tình nghe cũng đầy tai.

Người Việt ở nước Việt không sợ chết à? Cũng không phải. Được thượng đế tạo ra trên thế gian này, ngoài mấy đứa thần kinh không ổn định, còn lại ai chả muốn sống.

Thế sao, chỉ còn một tuần nữa thôi tất cả sẽ ngỏm củ tỏi hết  mà sao dân tình nước Việt vẫn giữ được bình tĩnh thế.

Đây mới chính là cái khác của người Việt với thế giới còn lại. Cái khác này đã đem lại niềm tự hào vô bờ bến cho người Việt, cho văn hóa Việt chúng ta, ấy là: “ Thà chết một đống, còn hơn sống một mống”.

Thế thì, nay có cơ hội tất cả cùng đi vào miền vĩnh hằng. Vậy có gì mà phải buồn, có gì mà phải cuống cà kê lên. Chỉ bực nhất lũ tư bản giãy chết, chúng lại cười mỉa: người Việt sống ở dải đất chữ S chúng mày, sống hay chết thì có khác gì nhau mà tinh tướng./.  
    
                                                  Vũng Tàu, 13/12/2012

Read More..

11 thg 12, 2012

Muốn sống được thì phải liều!

Nguyễn Đoàn
  
Gia đình nọ có hai đứa con trai lớn, đều sắp lấy vợ. Ông bố chỉ có một căn hộ mới mua, không biết cho con nào, bèn gọi hai đứa lại, bảo mỗi đứa kể một câu chuyện thật buồn  cười. Đứa nào có chuyện kể hay nhất, sẽ được căn hộ đó.

Người con cả kể: Có một cán bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch lớn, mỗi ngày xuất xưởng hàng vạn viên, công việc nhiều, làm không xuể. May sao một hôm đang đi kiểm tra chất lượng một mẻ gạch xây tường mới ra lò, bị một viên gạch rơi trúng đầu. Anh ta sửng sốt khi thấy đầu anh ta không bị vỡ mà viên gạch bị vỡ tan. Từ đó, anh ta không dùng máy nữa mà dùng ngay đầu mình để kiểm tra chất lượng sản phẩm từng mẻ gạch cho nhanh. Nghe nói chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch này kém hoài, nên đã một năm anh ta dùng đầu mình để kiểm tra chất lượng gạch, các viên gạch sản xuất ra đều bị vỡ mà đầu anh ta vẫn vô sự. 
Nghe xong, ông bố cười hi hi. 
Còn người con thứ hai kể: Một đập thủy điện có vốn đầu tư hơn hai trăm tỉ đồng đang được xây dựng ở Kon Tum dài tám mươi mét, thành bức tường bê tông của đập dày hơn một mét rưỡi. Để xây một con đập như vậy, lõi đập phải xếp đá hộc, bơm vữa xi măng, đổ bê tông liên tục với mác 150 để chịu được tác động lực ngoại lai của công trình, đến xe tăng húc cũng không đổ. Nào ngờ, sau gần bốn năm thi công sắp đưa vào sử dụng, có chiếc xe Ben chỉ tình cờ va quệt vào thành tường bê tông của đập đã làm cho sáu mươi mét thân đập bị đổ sập, vỡ vụn, nằm ngổn ngang dưới suối. Lạ hơn nữa là tường của đập bị sụp đổ hoàn toàn mà chiếc xe Ben gây nên sự cố chỉ bị "xây xát" nhẹ ở phần kính, tương tự như chuyện anh con vừa kể, viên gạch rơi trúng đầu cán bộ kiểm tra chất lượng sản phẩm của nhà máy gạch thì vỡ tan, còn đầu người cán bộ ấy lại không việc gì. Kiểm tra hiện trường, hóa ra lõi thân đập bê tông họ làm đâu có như yêu cầu thiết kế mà chỉ được làm bằng đất, cát và đá cùng “lơ thơ” những khung sắt gầy nhom. 
Nghe xong, ông bố ôm bụng cười sặc sụa, bảo:  
- Câu chuyện thằng cả kể hay, nhưng là chuyện bịa như thật, Nhưng câu chuyện thằng út kể hay hơn vì đó là chuyện thật mà như bịa. Vì vậy thằng hai được bố cho căn hộ mới mua. Đó là một căn hộ dành cho những người thu nhập thấp, nhưng bố cũng phải bỏ ra tất cả số tiền dành dụm bao năm mới có được đấy. 
Nghe vậy, người con trai thứ hai sợ tái mặt, chắp tay vái bố xin không nhận căn nhà bố vừa cho. Anh ta bảo: Hu hu …bố ơi, nhà của bố cho là quý, nhưng bạn con cũng vừa mua một căn nhà dành cho những người thu nhập thấp. Nhà vừa trao tay đã xuống cấp, tường bị ngấm nước ẩm ướt, bẩn thỉu. Lan can thì chắp nối sơ sài, mối hàn xiêu vẹo, sống mà luôn cảm thấy bất an. Gia đình của một anh bạn khác ở quê cũng được chính quyền đưa vào diện cấp cho một trong số hàng trăm căn nhà vượt lũ dành cho các hộ dân nghèo tại địa phương nhưng không dám nhận, vì khiếp khi thấy chỉ một cơn dông, đã có 24 căn nhà vừa thi công hoàn thiện và 5 căn nhà chưa lợp mái bị sập, do những kẻ xây dựng đã rút ruột công trình để tham nhũng. Vì vậy, bố có ép, con cũng chả nhận nhà bố cho đâu, nguy hiểm lắm, bố ạ! 
Ông bố cau mặt, mắng: 
- Không ngờ con tôi lại hèn thế. Thế bố hỏi con, báo chí luôn đăng đường này, đường kia vừa làm xong đã hỏng, có cầu vừa xây xong đã sập, nếu con sợ thì chả lẽ ru rú ở nhà không dám đi đâu sao? Báo chí cũng đưa tin trường học này, trường học nọ vừa xây xong đã hỏng, nếu con sợ không cho các con của con vào học thì đành để chúng thất học à? Thời nay, muốn sống được phải liều, con ạ. 
Read More..

5 thg 12, 2012

Vua Hùng, ông tổ của một trong 54 dân tộc hay của cả 54 dân tộc ở Việt Nam?

Lại Nguyên Ân

 Bài viết của nhà văn Lại Nguyên Ân như một câu hỏi mang tính nghiên cứu để chúng ta tìm hiểu sâu hơn về truyền thuyết Vua Hùng

Mỗi năm, cứ gần tới ngày giỗ tổ Hùng Vương, nghe đài báo rầm rộ đưa tin các nơi chuẩn bị hành hương về đền Hùng, trong tôi cứ lớn dần một câu hỏi muốn cật vấn những người hiểu biết: Vua Hùng là ông tổ của 1 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam hay là của toàn thể 54 dân tộc ở Việt Nam?

Tôi tin rằng, với những bộ óc bình thường, với sự hiểu biết bình thường, người ta đều có thể trả lời: vua Hùng chỉ được coi là ông tổ của một dân tộc Kinh (= Việt) thôi; dân Kinh (Việt) chỉ là 1 trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Vậy 53 dân tộc còn lại đều có ông tổ riêng của mình, chứ không phải vua Hùng.

Chuyện “ông tổ” nói ở đây, tất nhiên là chuyện của truyền thuyết. Người ta không đòi hỏi truyền thuyết phải là sự thật. Trong cộng đồng dân tộc có truyền tụng một thuyết về một ông tổ chung thì người ta thờ chung ông tổ ấy, không đòi hỏi chứng minh bằng chứng cứ lịch sử (có đòi cũng không ai chứng minh được!). Mà dân tộc nào không có thứ truyền thuyết tương tự, thì như thế không có nghĩa dân tộc ấy không có một nguồn cội chung của họ.

Nhưng vấn đề là có “dân tộc” theo nghĩa sắc tộc, tộc người (như người Kinh, người Mường, người Thái, người Tày, v.v…) và “dân tộc” theo nghĩa là dân cùng một quốc gia (theo nghĩa này ta nói: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, v.v…).
 
Từ “dân tộc” khá dễ dàng bị lái hàm nghĩa, nhất là khi người ta cố ý.
 
Chẳng hạn, khi người ta gọi lễ giỗ tổ Hùng Vương là quốc lễ (như có người gọi “quốc giỗ” – một từ ngữ pha tạp rất khó lọt tai!), người ta đã ngầm coi vua Hùng như ông tổ của dân tộc theo nghĩa dân cùng một quốc gia. Điều này, trên thực tế, đã biến vua Hùng trở thành ông tổ chung của toàn bộ 54 dân tộc (= sắc tộc, tộc người) hiện sinh sống trên đất Việt Nam. Đó là một sai lầm cố ý, một trò lái hàm nghĩa, một sự lạm dụng.

Cần nói rõ: mọi người dân của 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam đều mang quốc tịch Việt Nam, nhưng chỉ những ai là người của dân tộc Kinh (Việt) mới coi vua Hùng là ông tổ. Còn những người thuộc các dân tộc khác, tuy họ đều có quốc tịch Việt Nam, nhưng họ không phải là con cháu vua Hùng. Họ không cần về Đền Hùng lễ tổ mỗi dịp ngày mồng mười tháng ba hàng năm. Dư luận nên nói rõ sự thực này chứ đừng lạm dụng hàm nghĩa dân tộc để tập trung tất cả mọi dân tộc còn lại trên đất Việt, buộc họ hướng về Đền Hùng, buộc họ coi vua Hùng là ông tổ! Làm như thế tức là buộc họ phải coi tổ người Kinh như tổ dân tộc mình, phải theo lệ tục người Kinh, tức là đồng hóa họ vào cộng đồng người Kinh; đó chính là xem thường họ, xúc phạm họ.

Tôi biết, có người cho rằng dùng cách mù mờ từ chỗ nói vua Hùng là ông tổ dân Kinh (Việt) rồi dần dà biến vua Hùng thành ông tổ dân tộc, rồi lái nghĩa dân tộc từ sắc tộc sang hàm nghĩa dân cùng quốc gia! Ấy là cách xây dựng tâm thế cộng đồng dân tộc!
 
Tôi phản đối cách xây dựng tinh thần dân tộc theo lối lạm dụng, lợi dụng, bất minh ấy.
 
Phải từ chỗ tôn trọng bản sắc riêng, nguồn cội riêng mỗi dân tộc ( = sắc dân) cùng sinh tồn trên đất Việt hiện tại để xây dựng ý thức cộng đồng.

Ta nên chú ý 2 hiện tượng trái chiều: trong khi ở những nước có rất ít sắc tộc, ví dụ nước Đức, người ta đã tận dụng hiện tượng mới của thế giới hiện đại là hiện tượng nhập cư, nhân việc có thêm những sắc dân khác đến xứ mình sống chung trong cộng đồng để xây dựng xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa; thì ở           Việt Nam, có xu hướng ngược lại, ta đang dùng cách mở rộng các thần tượng của một dân tộc đa số (dân tộc Kinh) ra thành thần tượng cho các dân tộc thiểu số khác cùng sống trên đất Việt. Cái dụng ý biến lễ giỗ vua Hùng từ giỗ tổ của người Kinh thành quốc lễ của mọi người dân có quốc tịch Việt là ví dụ rất rõ! Đây hiển nhiên là sự áp đặt văn hóa nghi lễ của tộc người đa số cho các tộc người còn lại.
 

Điều không ngạc nhiên là một số khá đông công chúng tán thưởng “chiến lược” này. Điều ngạc nhiên là không ít chuyên gia am hiểu, không ít quan chức, không ít nhà khoa học, thậm chí nhà sử học hàng đầu, lại tán thưởng, thậm chí góp sức luận chứng cho cách làm này, – cách làm mà trên thực tế, nó chính là một thứ sô-vanh văn hóa (cultural chauvinism).
 

Tôi cho rằng những người hiểu biết không nên ủng hộ thứ sô-vanh văn hóa này./.
Read More..

13 thg 11, 2012

Câu chuyện ngôn ngữ

Lê Phú Khải.
( Nhân nhà báo Phan Quang 85 tuổi: Xin tặng ông………100 từ ghép.)

Trong cuốn bút ký “ Đồng Bằng Sông Cửu Long” được xuất bản ngay sau những năm đất nước thống nhất, sau đó được tái bản nhiều lần, nhà báo Phan Quang trong bài “ Qua những tên đất, tên sông” có một nhận xét khá bất ngờ, thú vị như sau:

“ Người Việt Nam từ đầu đến cuối đất nước sống cách xa nhau hàng ngàn cây số, nhưng Bắc Nam thoạt gặp đã dể dàng nghe tiếng nói của nhau. Cùng một cội nguồn, cùng một ngôn ngữ dân tộc như vậy là lẽ đương nhiên. Không những ngữ pháp không thay đổi, từ vị thống nhất, tôi còn ghi nhận một chi tiết hay hay: Người Bắc cùng người Nam chia nhau hay phần của một từ ghép, khi thì phần trước, khi thì phần sau, chẳng hạn như: dơ bẩn, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, chà xát, hay biết…….tiếng Nam dùng phần đầu, ngược lại trong thóc lúa, lanh lẹ, nóng nực, dẫm đạp, đón rước, lừa gạt…..người Nam lại lĩnh phần sau. Phải chăng vì vậy mà khi thoạt gặp nhau dù nghe giọng nói lạ tai có cái gì khang khác, hay hay, nhưng rõ ràng cùng một cội nguồn, rất gần gũi và do đó hai bên hiểu nhau ngay ?

Các nhà ngôn ngữ học, nhất là những phương ngôn học, có kiến thức rộng, chắc chắn qua nghiên cứu sẽ còn rút ra nhiều nhận xét đầy đủ , lý thú, có tính quy luật hơn, và từ đó khái quát những kết luận bổ ích, người viết những dòng này là người say mê rong ruổi trên các nẻo đường đất nước, vì yêu mến con người và cảnh vật mà học tiếng địa phương, và càng biết thêm được ít chút, càng thêm yêu mến con người”…( Trang 412 – 413 ) Đồng Bằng Sông Cửu Long. NXB trẻ, 2002 ).

Là phóng viên Đài TNVN thường trú nhiều năm tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, tôi rất lưu tâm đến nhận xét tinh tế về ngôn ngữ này của nhà báo đàn anh Phan Quang. Trong những năm rong ruổi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, tôi đã ghi chép những từ ghép, mà như nhà báo Phan Quang nhận xét. “ Người Bắc cùng người Nam chia nhau hai phần của một từ ghép”.

Tôi ghi chép để khi viết bài, đặc biệt là viết Câu Truyện Truyền Thanh cho Đài, các nhân vật Nam Bộ nói đúng “ phần trước” hoặc “ phần sau” của từ ghép.

Có câu chuyện “ hay hay” thế này, có lần tôi bảo đứa cháu nội gái của tôi, mẹ nó là dân Cà Mau gốc, rằng: Hôm nay nội đưa con đi tiêm phòng bệnh uốn ván. Nó ngớ người ra, không biết đi tiêm phòng là đi đâu, làm gì ? Chợt nhớ đến…..Phan Quang, tôi bảo : Đưa con đi trích ngừa uốn ván, thế là nó hiểu ngay còn than: Con sợ đau lắm!. Cái từ ghép “ tiêm trích”, người Nam dùng phần sau. Còn từ ghép “ phòng ngừa”, người Nam cũng dùng phần sau. Phải nói là đi trích ngừa, cháu gái tôi mới hiểu. Có lần ra Hà Nội, tôi vốn nói giọng Bắc Kỳ, giọng Hà Nội thứ thiệt, nhưng lại dùng lộn một từ trong từ ghép, mà đó là phần của người Nam nên bà chủ quán hỏi ngay: Bác mới ở Miền Nam ra?

Năm tháng đi qua, tôi đã ghi được trong sổ tay của mình hơn 100 từ ghép như “ phát hiện” của nhà báo Phan Quang. Nhân năm ông tròn 85 tuổi. Xin gửi tặng ông………100 từ ghép làm quà mừng thọ ông!

Tôi xếp các từ ghép này theo thứ tự a,b,c ( chữ đầu ) của từ: ô dù, ốm đau, buồn rầu, bơi lội, bóc lột, cô gắng, co kéo, chọc ghẹo, chán ngán, chặt đốn, cưng chiều, chờ đợi, chửi rủa, chậm trễ, cần thiết, cạn kiệt, chia xớt, đưa rước, dậy bảo,, dòm ngó, dọn dẹp, dụ dỗ, đùa giỡn, đùi về, đau ốm, đĩ điếm, khờ dại, điên khùng, dư thừa, giỡn chơi, đui mù, dòm ngó, dọa nạt, đe dọa, hung dữ, ham thích, hoảng sợ, hèn nhát, hư hao, ham muốn, lượm nhặt, nhờ cậy, khỏe mạnh, kiêu xin, kỳ lạ, khờ dại, lựa chọn, lời lãi, lười biếng, lừa gạt, mau lẹ, mồm miệng, may rủi, nôn nóng, mai mối, ngăn ngừa, ngăn chặn, ngất xỉu, nhìn ngó, quậy phá, rơi rớt, rãnh rỗi, rượt đuổi, rầy la, tập dượt, thuê mướn, thay thế, tiêm trích, thưa kiện, tiềm kiếm, trưng bày, tồi tệ, to lớn,trêu chọc, tuyển mộ, trông chờ, tránh né, thương yêu, trông coi, uổng phí, ưa thích, vâng dạ, vay mượn, rượt đuổi, rơi rớt, sáng tỏ, sửa chữa, giúp đỡ, giành dật, gầy ốm, già cỗi, ghê sợ, say sỉn, phòng ngừa. Hơn 100 từ ghép kể trên đều như nhận xét của Phan Quang. Ví dụ như: Đui mù, thì người Nam nói đui, người Bắc nói mù...v…v…v.
 
Chúc nhà báo Phan Quang sức khỏe để tiếp tục có những phát hiện lý thú./.
Read More..

8 thg 11, 2012

Chỉ số hạnh phúc và ...

Nguyễn Duy Xuân
 
Mấy tháng trước các báo đăng tin New Economics Foundtion xếp VN là nước hạnh phúc thứ 2 thế giới, trong lúc đó Mỹ thứ 104, Zimbabwe (97), Bỉ (96), Luxembourg (128) khiến độc giả tuy ngỡ ngàng nhưng lại sung sướng, tự hào vì hạnh phúc của nước mình bỏ xa các cường quốc trên thế giới. Nhưng mà khó tin vì không hiểu New Economics Foundtion căn cứ vào đâu mà xếp hạng như vậy. Nhưng mà thôi, được người ta ở bên trời Tây đề cao mình vậy cũng tốt. Một lời khen dù không trúng, khen vờ khen vịt, thậm chí còn khen đểu nữa thì với người Việt mình cũng hơn ngàn vạn lần câu chê.

Thế rồi hôm kia, đọc mẩu tin trên báo Tuổi trẻ ngày 31-10 mà không khỏi giật mình: 15% dân số VN có vấn đề về tâm thần. Giật mình mà vẫn tin. Tin vì đây là số liệu của Bộ Y tế, được một vị GS có uy tín của Đại học Quốc gia TP.HCM đưa ra tại hội thảo “Khoa học Việt - Pháp về tâm thần và tâm lý y học”. Tin vì một cuộc hội thảo khoa học quốc tế chắc chắn không có chuyện bịa số liệu để lấy thành tích. Và tin vì trên mặt báo, ngày nào cũng đầy những tin tức về các vụ án mạng, tự tử, những vụ chém giết lãng xẹt…

15% dân số VN có vấn đề về tâm thần ? Cũng dễ hiểu thôi. Ở cái thời đại mà đất nước phát triển, xã hội thay đổi nhanh, biết bao áp lực, lo toan đè nặng lên cuộc sống của mỗi người, không rối loạn tâm thần mới lạ. Nhưng mà vẫn lo, bởi cái tỉ lệ này lớn quá. Cứ 6-7 người Việt Nam lại có 1 người có vấn đề tâm thần tức là có những ý nghĩ và hành vi không bình thường. Chao ôi, mỗi ngày trong công sở, xung quanh làng xóm, ra ngoài đường ta gặp biết bao người. Chả nhẽ… ?

Từ biểu hiện rối loạn tâm thần vì một áp lực nào đó đến hành động thiếu kiềm chế gây hậu quả nghiêm trọng là một khoảng cách mong manh. Dư luận thời gian qua chẳng phải đã rất xót xa, đau đớn trước cái chết của hai nữ sinh, chỉ vì mấy trăm ngàn đồng tiền quĩ bị mất ?

15% dân số VN có vấn đề về tâm thần. Chuyện không nhỏ như con thỏ ở một đất nước được xếp hạng nhì thế giới về chỉ số hạnh phúc.
Read More..

6 thg 11, 2012

THƯ GIÃN


Đinh Bá Tuấn 
(phóng tác theo những câu chuyện tào lao cho thêm phần tào lao)

 Khôn...?

Trên vỉa hè ở đường phố Sydney, một người Việt đi du lịch đang ngửa mặt nhìn tòa nhà cao tầng. Có người đến vỗ vai:
- Tòa nhà này xây để phục vụ các khách cao cấp, ai ngắm tòa nhà phải trả tiền.
-  Bao nhiêu?
- “ Mỗi tầng 10 đô la”- Người kia trả lời.
- Người Việt nháy mắt, cười lả rả : “ Tôi mới nhìn được 3 tầng”.
- Xin ông 30 đô, người kia nói và cầm tiền bỏ đi.
- Người Việt hí hửng: Tưởng giỏi giang cao thủ thế nào! Đúng là tụi Úc ngu thật, mình đã  nhìn hết  mấy chục tầng tòa nhà này rồi.
-  ...!!!?

Thế thì tốt rồi!

Bé đi học về, chưa kịp cất cặp sách, ông bố đã hỏi:
- Hôm nay kiểm tra được mấy điểm?
- Dạ, 4 điểm ạ.
- Mẹ mày! Học hành thế à! Ăn gì mà ngu vậy!- Ngừng lát, như nhớ ra điều gì, ông hỏi: " Thế thằng X với thằng Y ngồi cùng bàn được mấy điểm?"
- Dạ, chúng nó đều 2 điểm hết ạ.
- Thế thì tốt rồi! Vào ăn cơm đi con. Yêu quá... chụt chụt.


Read More..

31 thg 10, 2012

Tản bút mùa lạnh


Phan Cung Việt


      Tối qua tôi lại mò ra vườn hoa gần nhà, hưởng chút gió thu thần tiên, giữa hoa lá và sao trời, nghe chuyện con người, đúng hơn là hầu chuyện con người. Nói theo điều tra xã hội học mà lâu nay ta vẫn hay làm, thì số người ra đây cũng có chuyên đề nhóm, lợi ích nhóm. Trong khi các bà thảo luận sâu về con dâu thời nay, về mấy anh con trai đổ đốn chỉ vâng theo lời vợ, thì các ông thì thào về chuyện tươi mát. Nhưng đó là thảo luận nhỏ, theo tổ nhóm.
Tôi chỉ thích nghe những chuyện sộp hơn, lớn hơn, có tầm vĩ mô kia. Thì đây, ra vườn hoa dễ ước gì được nấy, như chuyện ông Bụt, chuyện cô Tấm, chuyện trầu cau…Xin mọi người thử xem, vườn hoa lạ lắm.
Góc phía này có 3, 4 chiếc ghế đá quây lại đến lạ lùng. Như ông trời xếp sẵn bàn cờ tiên trên núi vậy. Trời chuyển lạnh, mấy cụ ngồi nép vào nhau như những cánh cò già. Hai ba nhóm châu vào mà trò chuyện, tranh biện. Quả hôm nay câu chuyện có tầm vĩ mô thật. Chuyện tuổi già với sổ đỏ nhà đất và chuyện thuê Oxin, cụ thể là Oxin nhí.
Một cụ kể rành rẽ. Tôi có hai ông bạn đều phải đi cấp cứu vì cái sổ đỏ. Một ông là tổng giám đốc ngành cơ khí, một ông là hiệu trưởng một trường cao đẳng có danh tiếng. Câu chuyện , tình tiết lạị xảy ra giống nhau như bản photo ấy, mới đáng sợ chứ…
Một dạo ồn lên bài viết của ông cựu thủ tướng Chu Dung Cơ bên Trung Quốc. Về sau nghe nói cũng không phải ông ta viết, mà là bài viết của một nhà văn nổi tiếng, ông Chu chỉ làm việc tóm tắt lại thôi. Bài đó có những ý về tuổi già rất hay, rất thấu đáo. Nhất là vấn đề đất đai nhà cửa, di chúc tài sản.
Hai ông bạn tôi cũng ở trong cảnh đó. Khi người ta hạ cánh về hiu, rồi bước dần sang thất thập thì vấn đề nhà cửa đất đai, vấn đề kế thừa, di chúc, sổ đỏ…đặt ra nóng bỏng lắm. Ở quãng thời gian chín muồi đó, nàng dâu bắt đầu giục chồng mình nắm lấy giấy tờ, sổ đỏ. Ông bạn tổng giám đốc đang yên đang lành, đến dịp phải đi viện giải quyết cái tiền liệt tuyến, ông bị thế hệ thừa kế ép đưa cái sổ đỏ. Ông như bị phục kích, uất lên, tăng xông huyết áp luôn. Ông hiệu trưởng cũng vậy, trước ngày ông nhập viện giải quyết bệnh trĩ, cũng bị ép chuyển giao sổ đỏ, cũng huyết áp luôn, đi cấp cứu cùng chứng xuất huyết não. Ấy là nói đại cục, tiểu tiết của mỗi ông, mỗi gia đình thì còn nhiều lắm . Cả xung đột và lộ trình xảy xung đột. Nhưng sổ đỏ là sổ đỏ, sao lại có chuyện đầy kịch tính như vậy. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Có thể ông ta đông con, lại đang có chuyện tranh chấp. Có thể ông ta có con riêng hoặc bồ nhí. Có thể chẳng có lí do nào, chỉ vì ông ta đã …già.Ngay ở cái tờ di chúc cũng có ngàn lẻ một chuyện nao lòng.
Các cụ im lặng đến dễ sợ, rồi đến lúc như nhất loạt hô lên : “ Sổ đỏ. Trách gì gọi nó là cái sổ đỏ nhỉ .” Trách gì cái áo quan thường sơn màu đỏ.
Suỵt. Chính các cụ Suỵt lên một tiếng. Ngọn gió thật lạnh từ đâu cũng đánh suỵt một cái. Chắc vì cái điều mà cụ nào đó vừa nói hơi quá, chạm vào cái kiếp người. Một cụ chữa cháy, chuyển nhanh tiết tấu sang chủ điểm nóng thứ hai : Oxin, oxin nhí.
Một cụ kể một chuyện, giọng mạch lạc lắm . Chuyện rằng, tôi có ông bạn thân cỡ thứ trưởng về hưu. Ông này người cùng làng, truyền thống học hành gia giáo đạo đức tôi biết, từ nhỏ. Mới rồi nhà ông bạn rộ lên một chuyện, cũng gọi được là tày đình. Một năm bà vợ ốm nặng, phải thuê cô bé oxin khoảng hơn 10 tuổi. Cô bé đang tuổi chơi, ông bạn tôi vừa phải động viên, vừa tập cho từng li từng tí, như luyện một cô mèo con. Dần dà cô bé ham làm, ăn uống đầy đủ, người phổng phao đẹp lắm. Đến năm bà vợ phải đi chữa bệnh nước ngoài, chỉ ông bạn và con cháu cùng oxin ở nhà. Cô bé được chiều chuộng, bắt đầu biết vòi vĩnh tiền nong, thích chơi bời bên các nhà láng giềng và đi dạo phố xá. Cô bé bắt đầu phát dục hoặc biết đặt bẫy như cuộc đời dạy cho. Một lần cô bé sang láng giềng, khoe một chuyện. Ở nhà ông ấy ôm cháu, cháu cứ nóng cả người lên, thích mà sợ lắm cơ !...
Cô bé phổng phao xinh đẹp nhưng vẫn đang ở tuổi vị thành niên. Cả nhà tá hóa. Cũng may mấy người biết chuyện đều là người hiểu biết tử tế. Biết người đàn ông đứng đắn xưa nay, cô bé tuổi lớn chỉ khoe khoang hoang tưởng. Nhưng ông bạn tôi, người trong cuộc càng hoảng hơn, cũng “tăngxông huyết áp”, phải đi cấp cứu. Ôi, có ngàn lẻ một chuyện oxin thời nay, nhất là oxin nhí, nao lòng hơn cả chuyện cái sổ đỏ, chủ chết như bỡn.
Các cụ nghe chuyện này, lại im thin thít. Sự im lặng đáng sợ hơn chuyện sổ đỏ trên đây nữa. Chắc cụ nào cũng chạnh long . Lại cũng phải đặt câu hỏi như sổ đỏ, về nhiều phía. Không đơn giản chỉ là phía cô gái mới lớn động tình hoặc vu vạ tống tiền. Tuổi già thời nay cũng hay táy máy lắm, đáng phải kiểm điểm. Gió lạnh tràn về đầy sân. Như mùa đông bắt đầu về từ tối nay. Ngay trên khu vườn đầy hoa đẹp này.
Tốp các bà các cô gần kia múa nhảy rất hăng. Càng lạnh càng say múa. Tiếng hô lảnh lót theo nhịp một, hai, ba…nhanh, nhanh, chậm…Cứ thế, ấm lên cả một góc sân.
Các cụ ông bên này cất lời góp chuyện, như thể anh hai quan họ, như hát ví dặm giao duyên. Nhảy điệu gì mà toàn nhanh nhanh chậm vậy các bà các cô ơi…
Phải múa theo nhịp : Sống khỏe, “ đi “nhanh chứ.
Rồi các cụ ông cũng cười như lớp trẻ trong vi tính : he he he…

Bắc lạnh, 10.2012
Read More..

28 thg 10, 2012

XÔ ĐẨY


Nguyệt Phạm

  đâu đó người ta nói :
Đôi  khi người ta khóc chỉ vì thương nhau
Đôi khi người ta đánh nhau chỉ vì không có gì phải/ cần kiềm chế
Đôi khi người ta vuốt ve chỉ vì lâm thời
Đôi khi người ta cười chỉ vì vui
Đôi khi người ta hồ hởi vì nghĩa vụ
Đôi khi người ta vừa uống, vừa khinh, vừa chửi
Đôi khi người ta nhớ chỉ vì nhớ
Và đôi khi người ta khóc chỉ vì được ôm nhau – không hẳn
buồn, vui, nhớ hay diễn kịch.
Một cái ôm, không giới tính
Không quyền lợi
Chỉ vì người ta cần ôm nhau
Và người ta khóc
Những giọt nước mắt vô hình.
                               
Tôi trẻ? Đôi khi khi tôi hoài nghi về điều đó
Tôi già? Chưa bao giờ dám khẳng định
Tôi lượn ươn và hay lơ ngơ
Tôi có tóc bạc, chuyện xảy ra chẳng có gì nghiêm trọng
Trong một cơn xô đẩy, có người đàn ông phát hiện tóc tôi bạc- người đầu tiên
Sao có người đàn ông tỉ mẩn đến vậy?
Giống mẹ tôi, anh nhổ tóc bạc một cách nồng nhiệt-
Một khung cảnh khá thơ mà tôi chẳng nghĩ được gì. Chỉ vô
duyên hỏi sao anh có mùi của mẹ.
Lần đầu tiên, những ngón tay lướt trên da mình tôi mơ hồ nghĩ
về một sự ngưỡng vọng.
Lần đầu tiên nhìn một gã đàn ông mà tôi tự hỏi một cách
kích động: Gã này khỏa thân thì trông như thế nào ? Gã
làm tình có nồng nhiệt, buồn cười, lóng ngóng …?
Lần đầu tiên có một người trong giấc mơ nắm tay đưa tôi
đến một thế giới màu sắc, nhẫn  nại và khoan dung.
Một gã đàn ông trong đầu tôi hiện hữu, mơ hồ.
     
Read More..

25 thg 10, 2012

MÙA TỬ TẾ


Nghệ thuật mới

Có một sự thật là: chưa bao giờ số lượng những người tìm cách chứng minh mình là người tử tế lại đông như bây giờ trong khi số lượng những hành động tử tế lại ít hơn bao giờ hết.

Tử tế chính là lẽ sống cho cả cuộc đời của một con người. Để làm được người tử tế quả là một thách thức khổng lồ. Nó đòi hỏi người ta phải sống vì cái đúng và vì người khác từng giờ, từng ngày và suốt cả cuộc đời không bao giờ được phép ngưng nghỉ. Sự tử tế biến mất ngay lập tức khỏi mỗi chúng ta khi chúng ta đố kỵ và ghen ghét người bên cạnh. Sự tử tế cũng biến mất ngay khỏi chúng ta khi chúng ta cảm thấy khó chịu khi người được mình giúp điều gì đó lại không biết cách bày tỏ lòng biết ơn chúng ta, không biết cách tung hô sự giúp đỡ của chúng ta và không biết cách quảng cáo cho sự giúp đỡ của chúng ta. Khi chúng ta tìm cách công khai lòng tốt  của chúng ta với một ai đó thì sự tử tế của chúng ta lại giảm đi một chút. Và đến lúc nào đó, khao khát quá mức được công khai lòng tốt của mình cho thiên hạ biết sẽ xóa đi toàn bộ lòng tốt ban đầu của chúng ta. Tất nhiên ai được chúng ta giúp đỡ, được chúng ta ban phát lòng tốt , trừ một số rất ít còn lại đều tìm cách này hay cách khác bày tỏ lòng biết ơn của họ.  

Ông cha ta đã nói tới việc tích đức và luôn luôn khuyên bảo con cái tích đức chứ mấy ai khuyên con cái tích của. Tích đức và tích của là hai con đường ngược nhau . Tích của là gom góp tiền bạc vào cái túi riêng của mình, còn tích đức là ban phát sự tử tế cho thiên hạ. Nhưng ngày nay, có một sự thật mà chúng ta đều phải thừa nhận: đó là có không ít những người lên tiếng về sự tử tế nhưng thực chất lại chỉ làm sự “tử tế” cho cá nhân mình mà thôi. Nghĩa là những gì người đó thể hiện chỉ để cho thiên hạ biết đến họ chứ không phải làm cho thiên hạ. Một trong những yếu tố làm nên sự tử tế chính là sự hy sinh. Mà sự hy sinh đầu tiên và quan trọng nhất là hy sinh lợi ích của mình. Nghĩa là họ gom góp những cái gọi là sự tử tế để làm đầy cái túi cá nhân của họ mà thôi. Như thế sự “tử tế” ấy chỉ là sự “tử tế” cho con người họ chứ đâu phải sự “tử tế” cho thiên hạ.

Có quá đông sự lên tiếng của những người mà trong cuộc sống lâu nay họ là những kẻ tham lam, đố kỵ và chẳng sống vì ai. Nhưng họ lại là những kẻ to tiếng nhất về sự tử tế. Sự tử tế của họ chỉ là ngôn từ chứ không phải sự tử tế từ cái tâm. Và khi sự này, vụ nọ hết thời gian tính của nó thì sự tử tế của những người như vậy lại biến mất. Họ trở về đời sống thường nhật với những đố kỵ, ghen ghét, ích kỷ và vô cảm. Cái sự “ tử tế” như thế có thể gọi là “mùa tử tế”.

Mỗi năm có một hoặc vài ba mùa tử tế. Mà cái mùa tử tế này thì lúc nào cũng bội thu. Bội thu mùa lúa, mùa khoai làm cho đời sống con người thêm no ấm, còn bội thu “ mùa tử tế” thì chỉ làm cho con người và xã hội tồi tệ thêm mà thôi./. 
Read More..

22 thg 10, 2012

TỪ LỖ TẤN ĐẾN MẠC NGÔN - NGHĨ VỀ HỘI CHỨNG ĂN THỊT NGƯỜI TRONG VĂN HỌC TRUNG QUỐC


Trần Mạnh Hảo


“Mình là một kẻ có truyền thống ăn thịt người trên bốn nghìn năm”…”Mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”…
(Lỗ Tấn – Nhật Ký người điên)Viết kỷ niệm 76 năm ngày giỗ của đại văn hào Lỗ Tấn ( 19.10.1936 – 19.10.2012)
Lỗ Tấn là nhà văn Trung Quốc nổi tiếng, bậc thầy thể loại truyện ngắn, người đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc. Chủ đề “truyền thống ăn thịt người của dân tộc Trung Hoa” ám ảnh suốt những trang văn của ông như một lời cảnh báo nước Trung Hoa đã, đang và sẽ bị chủ nghĩa DUY ÁC thống trị.
 Mạc Ngôn, người vừa được giải Nobel văn chương là một hậu duệ tuyệt vời của Lỗ Tấn, vẫn tiếp tục đưa món thịt người khoái khẩu Trung Hoa vào văn chương của mình, đặng hoàn tất hành trình mấy nghìn năm văn học  Trung Quốc về nỗi ám ảnh người ăn thịt người. Tác phẩm Mạc Ngôn có chuyện ăn thịt người thật ru ? Có đấy, hồi sau sẽ rõ.

Ngay sau khi nhận giải văn chương Nobel, trả lời một báo Pháp, Mạc Ngôn nói ông thích nhất tác phẩm “Tam quốc chí” của La Quán Trung. Ngày bé, đọc “Tam quốc chí”, kẻ viết bài này quá kinh hãi khi đọc đến đoạn có một người ái mộ Lưu Bị ( lúc còn hàn vi) đến mức mời vị hoàng thân nhà Hán này đến nhà chơi, nhưng vì nghèo quá, không có gà lợn ngan ngỗng, đã giết thịt bà vợ yêu quý của mình làm bữa cỗ thịnh soạn đãi Lưu Bị.
Trong danh tác “Thủy hử” của Thi Nại Am, bàng bạc một không khí ăn thịt người, bánh bao nhân thịt người, thịt người giả thịt nai, thịt người ngon hơn thịt lợn dê hay trâu bò khiến người đọc có khi nổi da gà vì thú ăn thịt người của dân Trung Hoa. Nhân vật Lý Qủy giả làm Lý Qùy chuyên chặn đường giết người cướp của. Khi Lý Qùy bắt được Lý Qủy, bèn ngả anh này ra cắt tiết làm thịt như làm thịt một con chó, rồi ăn ngon lành trong mấy ngày túy lúy mồi ngon rượu ngọt…
Vợ chồng Trương Thanh & Tôn Nhị Nương trong “Thủy Hử”trước khi lên Lương Sơn Bạc từng làm nghề giết thịt người để ăn, đem thịt người giả làm thịt bò, thịt heo mang ra chợ bán. Hai vợ chồng này mở quán bán các món nhậu làm bằng thịt người trên đồi Thập tự, chuyên đánh thuốc mê giết người xẻ thịt. Võ Tòng đả hổ chỉ chút nữa đã bị Tôn Nhị Nương thọc tiết như heo…
Trước khi lên Lương Sơn bạc, Tống Giang suýt nữa đã bị mổ bụng lấy gan làm thuốc giải rượu cho đầu lĩnh Trương Anh…
Tuyệt tác “ Tây Du ký” của Ngô Thừa Ân mô tả sư phụ Trần Huyền Trang và đệ tử Trư Bát Giới đi thỉnh Kinh Thiên Trúc đã mấy lần bị yêu quái, bị bọn đầu lĩnh lục lâm thảo khấu toan làm thịt ăn nếu không có đệ tử Tôn Ngộ Không kịp đến cứu thoát…Ngay cả một số nữ yêu quái xinh đẹp cũng thèm ăn thịt nhà sư điển trai này…
“Đông Chu liệt quốc” từng kể nhiều chuyện ăn thịt người như là một truyền thống văn hóa Trung Hoa. Chỉ xin nêu ra mấy thí dụ :
Tề Hoàn công được coi là minh quân thời Xuân Thu, từng làm chủ soái chư hầu trong 35 năm, được sử phong là vua tốt có văn hóa “Hoàn văn”, lại chỉ thèm món thịt trẻ con, nghe nói ngon lắm mà mình chưa được ăn. Dịch Nha là bề tôi nịnh thần chiều ý nhà vua, bèn về đè con trai thừa tự của mình ra giết thịt, làm ra các món ngon tuyệt dâng Tề Hoàn công. Tề Hoàn công khen món thịt trẻ con ngon nhất trần đời, bèn ngỏ ý tháng nào cũng ăn cho đỡ nhớ…
Một thuở Nước Sở vây thành nước Tống. Người Tống hết lương thực, bèn đổi con cho nhau mà giết ăn, còn xương trẻ con thì dùng thay củi nhóm lửa để nhà này xào nấu thịt trẻ con nhà khác và ngược lại…
Tấn Châu Xước bắt được hai tướng nước Tề là Thực Xước và Quách Tối bèn giết thịt ăn, da hai ông này dùng làm nệm trải gường vừa êm vừa ấm…
Đến các thủy thần trên hàng nghìn con sông lớn bé Trung Hoa mỗi năm cũng ăn thịt đến hàng trăm ( có thể hàng nghìn) gái trinh vô tội. Mỗi lần thủy thần dâng vỡ đê lụt lội, dân làng lại phải ném một cô gái trinh còn sống xuống sông cho Thủy thần ăn tươi nuốt sống…
Sử Trung Hoa chép : Lã hậu vợ Lưu Bang Hán Cao tổ từng giết đại tướng Hàn Tín rồi băm nát như tương để làm mắn ông này, đoạn gửi cho các chư hầu ăn món mắn Hàn Tín để thấy thứ mắn tuyệt chiêu của nhà Hán có ngon không ?
Thuở Phục Ba tướng quân Mã Viện chinh nam đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, bị Hai Bà đánh trả tới cùng. Khi bị quân Hán dùng kế tiện nhân cởi truồng tấn công nữ binh của Nữ vương Việt, quân Việt xấu hổ quá đã thua trận. May mà Hai Bà nhảy xuống Hát giang trầm mình tự tử; nếu không, Hai Bà không may rơi vào tay Mã Viện, chắc chắn đã biến thành hai hũ mắn gửi về dâng vua Hán dùng thử xem mắm làm bằng thịt hai vua bà xứ Man di này ngon tới đâu ?
Dân tộc Trung Hoa có nền văn minh sớm vào bậc nhất thế giới. Ngay từ thời cổ đại, Trung Hoa đã sinh ra nhiều vị thánh tuyệt vời cứu nhân độ thế : Khổng tử, Mạnh tử, Lão tử, Trang tử, Chu Văn Vương, Mặc tử, Tuân tử…Thời bách gia chư tử ( Xuân Thu Chiến quốc) là thời loạn lạc nhưng cũng là thời nở hoa nhân bản của hàng chục nhà lấp thuyết nhân văn giúp nền văn minh Trung Hoa hướng thiện.
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân sinh năm 1881 ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, mất ở Thượng Hải 1936
Lẽ nào, trong một xứ sở có nền văn minh xuất chúng như thế, nơi ánh sáng của triết học, thi ca rạng ngời như thế, lại cũng là nơi mà cái ác, cái xấu xa ghê tởm của thói người ăn thịt người dã man tới mức đầu thế kỷ XX, văn hào Lỗ Tấn còn đau đớn thốt lên cái thuộc tính Trung Hoa ăn thịt lẫn nhau kia kinh tởm đến vô cùng bằng truyện ngắn “ Nhật ký người điên”, viết về một trí thức chống lại chế độ man rợ bị nhà cầm quyền vu cho là điên và bắt nhốt chuẩn bị làm thịt. Xin quý vị đọc một ít đoạn trích từ truyện ngắn này, như sau :

“…Mấy hôm trước, người tá điền bên thôn Lang Sói sang báo mất mùa, kể chuyện với ông anh mình rằng bên ấy, có một tên đại ác vừa bị người ta đánh chết. Có kẻ đến moi tim moi gan đem về rán mỡ ăn cho được can đảm. Mình nói xen vào mấy câu thì ông anh và người tá điền trố mắt nhìn. Hôm nay, mới biết là ánh mắt họ cũng giống hệt ánh mắt những người gặp ngoài đường kia!
Nghĩ lại mà lạnh từ đầu đến chân.
Họ đã ăn được thịt người thì vị tất lại không ăn được thịt mình!
Rõ ràng câu nói "Ăn thịt mày một miếng..." của người đàn bà nọ, tiếng cười của những người mặt tái mét, răng nhọn hoắt kia, và mẩu chuyện của người tá điền hôm trước, đều là những ám hiệu cả. Mình thấy rõ trong lời nói của họ có thuốc độc, trong giọng cười họ có dao găm. Răng thì nhăn ra trắng hếu. Toàn là bọn ăn thịt người!
Theo mình nghĩ, tuy mình không phải là một người ác, nhưng từ ngày mình giẫm lên cuốn sổ ghi nợ của cụ Cố Cữu, thì không còn thể nói chắc được nữa. Hình như họ có ý định gì, không thể nào đoán ra được. Huống hồ, họ giở mặt một cái là có thể đổ riệt cho người ta là người ác. Còn nhớ hồi ông anh bầy cho mình làm luận. Mặc dù nhân vật đem ra bàn tốt đến đâu, hễ tìm được cách chê vài câu là ông ta khuyên cho mấy khuyên. Và đối với những nhân vật xấu, hễ lựa lời bào chữa, là ông ta phê ngay bên cạnh "Phiên thiên diệu thủ, dữ chúng bất đồng " (Có tài biện luận! Độc đáo!). Như vậy thì mình làm sao đoán biết được tâm địa họ thế nào? Huống hồ khi họ đã muốn ăn thịt mình!
Việc gì cũng phải suy nghĩ mới vỡ nhẽ. Cổ lai, việc ăn thịt người thường lắm, mình cũng còn nhớ, nhưng không được thật rõ. Liền giở lịch sử ra tra cứu thử. Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào cũng có mấy chữ "nhân, nghĩa, đạo đức" viết lung tung tí mẹt. Trằn trọc không sao ngủ được, đành cầm đọc thật kỹ, mãi đến khuya mới thấy từ đầu chí cuối, ở giữa các hàng, ba chữ: "Ăn thịt người".
Những chữ đó trên trang sách và những lời nói của người tá điền cũng lại cười khì khì và trợn mắt nhìn mình một cách quái gở.
Mình cũng là người, họ định ăn thịt mình thật!
Dịch Nha(8) nấu thịt con cho Kiệt, Trụ ăn. Đó là chuyện ngày trước. Ai biết được từ khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, người vẫn ăn thịt người, cho đến con Dịch Nha, và từ con Dịch Nha cho đến ông Từ Tích Lâm(9) rồi từ ông Từ Tích Lâm cho đến cái anh gì bên thôn Lang Sói! Năm ngoái, trên tỉnh có mấy tên phạm nhân bị chém, còn có người mắc bệnh lao lấy bánh bao chấm máu liếm(10).

Đứa em gái mình bị ông anh ăn thịt, mẹ có biết thế hay không, mình làm sao hiểu được!
Nghĩ có lẽ mẹ cũng biết. Chẳng qua khi khóc, mẹ không nói ra đó thôi. Chắc cũng cho là phải. Còn nhớ hồi lên bốn lên năm, mình đang ngồi hóng mát trước nhà, nghe ông anh nói rằng: Cha mẹ ốm đau, con phải cắt một miếng thịt, nấu chín, dâng cho cha mẹ, mới là có hiếu. Mẹ cũng không cãi lại. Ăn được một miếng thì tất nhiên có thể ăn cả con người. Nhưng bây giờ nhớ lại thì hôm ấy, nghe mẹ khóc, thương tâm quá đi mất! Thật là một chuyện lạ lùng!

Không thể nghĩ được nữa. 
Bây giờ mới biết mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”(hết trích)

Lỗ Tấn mang trong mình cả một nước Trung Hoa cổ hủ và tàn ác, hèn hạ và dối trá, nghèo đói và thất học trong cơn mê ngủ ảo tưởng về mình đang bị các đế quốc xâu xé. Ông sinh ra trong cuối thời Thanh mạt, từng chứng kiến ông nội mình bị vua Quang Tự ra lệnh xử tử hình vì tội hối lộ trong trường thi.
 Khi nhìn thấy trong phim cảnh người Nhật chém đầu một người Trung Hoa mà dân Trung Hoa lại hí hửng chen nhau xem cảnh ô nhục đó, Lỗ Tấn bèn bỏ giở ngành y ông đang học tại Tokio, về nước dùng ngòi bút cứu nước. Ngay khi còn học tại Nhật, ông đã tham gia “Quang phục hội” là hội của những người sau này tham gia cách mạng Tân Hợi ( 1911) lật đổ nhà Thanh tạo ra Trung Hoa Dân quốc.
Lỗ Tấn cho rằng căn bệnh trầm kha của Trung Hoa là căn bệnh tinh thần, căn bệnh ảo tưởng, mê ngủ kinh niên, phải chữa bằng ngòi bút chứ không thể chữa bằng dao kéo hay ống chích y khoa. Liệu Lỗ Tấn có thể chữa nổi căn bệnh ung thư tinh thần của nước Trung Hoa lên cơn thèm thịt đồng loại đang trong giai đoạn ung thư cuối cùng này chăng ?
Ông nhìn thấy nước Trung Hoa chính là một con bệnh điên đang bị giam nơi nhà tù có tên là lịch sử trong ám ảnh bị thời đại ăn thịt, như suốt bốn nghìn năm hội chứng ăn thịt nhau phải chăng là nghiệp chướng Trung Hoa ? “Nhật ký người điên” là tác phẩm đầu tay viết năm 1918 lại cũng chính là một kiệt tác của Lỗ Tấn.
Ông nhìn thấy nước Trung Hoa, dân Trung Hoa trong số phận của chú AQ khờ khạo, ngu dốt, khôn lỏi, cả tin, ấm ớ dễ bị lừa, ảo tưởng, tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình bằng phép thắng lợi tinh thần luôn luôn là miếng mồi ngon cho các triều đại, cho các thể chế chính trị trên đất nước rồng điên này ăn thịt.
Một anh nông dân điển hình AQ vừa đói, vừa dốt, vừa hèn hạ khôn vặt, vừa ảo tưởng vừa rất thiêu thân, dễ bị
kích động, ấm ớ, mơ ngủ…sao có thể làm cách mạng? Chẳng qua cũng chỉ là thứ cách mạng a dua, thứ cách mạng súc vật. Hàng tỉ anh AQ này chỉ là phương tiện cho bọn cai chính trị, bọn lãnh tụ buôn chính trị, buôn cách mạng lợi dụng tính cả tin ngu xuẩn, tính thiêu thân khi bị kích động, bị bơm nước đường của AQ, để rồi cuối cùng chú và các chú thành nạn nhân của cách mạng.
Thiên tài Lỗ Tấn bằng truyện “AQ chính truyện” đã tiên đoán số phận bi kịch của hàng trăm triệu các chú nông dân thất học, đói rách, tự dối lừa mình và bị bọn cai đầu dài cách mạng lừa dối, dụ dỗ đi tìm thiên đường ảo tưởng; để rồi anh em nhà    AQ bị cuộc cách mạng cộng sản tàn bạo nhất trong lịch sử bốn nghìn năm ăn thịt người của nước Trung Hoa giết hoặc bị chết đói ngót trăm triệu nhân mạng trong thời cải cách ruộng đất, thời hợp tác hóa, thời đại nhảy vọt, thời cách mạng văn hóa ( cách mạng phản văn hóa, diệt văn hóa mới đúng).

Tác phẩm “ AQ chính truyện” là kiệt tác hàng đầu của Lỗ Tấn được in trong tập truyện “ Gào thét” ( 1923). Năm 1926, tập truyện lừng danh của Lỗ Tấn có tên là “Bàng Hoàng” ra đời đưa ông lên vị trí số một của văn đàn Trung Hoa về thể loại truyện ngắn. Ngoài ra, Lỗ Tấn còn xuất bản thêm bảy tập tạp văn kiệt xuất.
Viết truyện ngắn “Thuốc” kể lại chuyện bài thuốc gia truyền kinh tởm chữa bệnh lao của người Trung Hoa bằng cách ăn bánh bao chấm máu tử tội bị chém đầu. Các sách giáo khoa văn từ phổ thông lên đại học của Trung quốc dạy về “Thuốc” rằng : Lỗ Tấn lên án chế độ phong kiến giữ nhiều hủ tục man rợ, chủ trương ngu dân để dễ cai trị.
Không, chế độ phong kiến Trung Hoa mấy nghìn năm không hề chủ trương ngu dân mà luôn khuyến học, trọng kẻ sĩ : “nhất sĩ nhì nông”, “nhân bất học bất tri lý”…
Trong lịch sử nhân loại, để dễ cai trị bằng cách diệt trí thức : “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, coi trí thức không bằng cục phân ( lời của Mao ”
Viết truyện “Thuốc”, Lỗ Tấn công bố một tư tưởng sâu sắc rằng máu ( tức cách mạng bạo lực “súng đẻ ra chính quyền” của Mao) mãi mãi không thể là phương thuốc chữa nổi con bệnh Trung Hoa, không cứu nổi nước Trung Hoa chìm trong cơn mê ảo tưởng, lạc hậu, nghèo hèn. Mao đã vay máu của hàng trăm triệu chú AQ, chắc chắn chỉ có thể trả bằng máu…Và quả thực, lời tiên tri bằng văn học của Lỗ Tấn rất chính xác : Mao Trạch Đông đã tắm máu nước Trung Hoa không phải chỉ một lần. Mao còn tìm cách tắm máu các dân tộc khác bằng món bánh bao chấm máu người có tên là “tư tưởng Mao Trạch Đông”…
Trước hết, phải khẳng định một sự thực, rằng Lỗ Tấn chưa bao giờ là một người cộng sản, mặc dù ông từng là bạn thân một nhà văn, một lãnh tụ cộng sản Trung Hoa là Cù Thu Bạch ( bị Quốc Dân đảng xử bắn năm 1935). Ông từng cùng với Cù tiên sinh lập ra phong trào Tả liên – các nhà văn cánh tả. Lỗ Tấn mãi mãi là một người quốc gia, yêu nước Trung Hoa của người nghèo khổ bị cả bốn nghìn năm quan quyền bần cùng hóa, AQ hóa…
Chính là Mao Trạch Đông đã “vơ  vào”, đã lôi tên tuổi kiểu nhận vơ ông vào phong trào cộng sản của mình sau khi ông chết năm 1936, để gọi ông là nhà văn vô sản số một Trung Hoa, là tấm gương cách mạng Trung Hoa, coi ông như là Goocki của Trung quốc.
Từ năm 1949 Trung Quốc đã cho dạy văn chương Lỗ Tấn trong nhà trường, từ năm 1954 ở Việt Nam cũng dạy học về Lỗ Tấn y chang Trung Quốc, đều dùng lăng kính cộng sản để soi vào văn Lỗ Tấn, biến ông thành công cụ tuyên truyền cho đảng cộng sản chính là công cuộc giết chết  văn tài Lỗ Tấn.
Giả sử trời cho Lỗ Tấn sống thọ đến U 90, thì năm 1966, năm Mao làm cách mạng văn hóa, chắc chắn Lỗ Tấn đã phải bị đấu tố tới chết hoặc cùng đường phải tự tử như Lão Xá mà thôi.
Suốt cả đời, Lỗ Tấn luôn chống chủ trương ngu dân của những kẻ nhân danh cách mạng, như ông viết trong lời tựa tập truyện “ Gào thét”(1923), như sau :
 "Dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng chăng nữa, cũng chỉ có thể làm thứ người mà người đưa ta đưa ra chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà thôi.. Cho nên, điều chúng ta cần phải làm trước là biến đổi tinh thần họ, và theo tôi hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ..." (Tựa viết lấy cho tập Gào thét, Trương Chính dịch)

Tinh thần ngạo nghễ nhưng hiền dịu, nhu mì của Lỗ Tấn chừng như giấu ẩn trong câu thơ tuyệt vời này của ông :
Hoành mi lãnh đối thiên phu chi
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu.
Xin tạm dịch là:
Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ
Cúi đầu làm ngự các nhi đồng.

Lỗ Tấn một bác sĩ chữa bệnh tinh thần cho nước Trung Hoa rất tài giỏi, gọi tên căn bệnh ấy là bệnh mê ăn thịt người, bệnh ảo tưởng cho cái ngu của mình là tài giỏi, cho cái ấm ớ của mình là minh triết, cho cái hèn hạ của mình là anh hùng, cho cái tàn ác vô song của mình là thiện căn…Nhưng căn bệnh tinh thần của đời mình, Lỗ Tấn chừng như không chữa nổi.
Một người có tham gia vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào cuộc cách mạng Tân Hợi, xóa bỏ mấy nghìn năm phong kiến, trao nước Trung Hoa vào tay nhân dân gọi là dân quốc, thế mà Lỗ Tấn vẫn còn bị hủ tục cha mẹ đặt đâu con ngồi đó hành hạ một đời. Đang du học tại Nhật thì mẹ ông là Lỗ Thụy gọi về cưới vợ. Cuộc hôn nhân không có tình yêu này là bi kịch cả đời ông.
Đêm tân hôn ông mới biết mặt cô dâu Chu An là một phụ nữa xấu, lại mù chữ nên suốt cả đêm động phòng hoa chúc, ông quyết không động phòng, thức đến sáng đọc sách. Và cả đời ông cho đến chết vẫn không hề động phòng với bà vợ lấy do mẹ ông chọn. Cuộc hôn nhân này đã là nấm mồ chôn bà Chu An ngay trên cõi dương thế. Và tâm hồn ông chừng cũng bị chôn sống trong nỗi đau khổ cô đơn, khi nhìn thấy sự bất hạnh ghê gớm của bà vợ Chu An bị chữ hiếu cực đoan của mình giết chết ngay trong cõi sống…
May là cô sinh viên của ông : Hứa Quảng Bình đã đến yêu ông và trở thành vợ hai của ông, cho ông một đứa con trai nối dõi.
Bi kịch từ nhau của người em ruột Chu Tác Nhân ( cũng là một nhà văn, một giáo sư đại học) vì chuyện không đâu do cô vợ ngươi Nhật của ông em ghét anh chồng, vu cho Lỗ Tấn rình xem trộm em dâu tắm, đã trở thành nỗi đau lớn trong tâm hồn Lỗ Tấn, cùng với nỗi đau không một lần ân ái với bà vợ cả do không có tình yêu, khiến ông sinh bệnh mà chết sớm lúc 55 tuổi.
Sau 13 năm Lỗ Tấn qua đời, nước Trung Hoa đã rơi vào tay bạo chúa Mao Trạch Đông. Mao nhất quyết dùng máu, hơn nữa dùng cả biển máu chữa căn bệnh Trung Hoa bằng mấy cuộc tắm máu sau : năm 1949 sau chiến thắng do cuộc tranh hùng Mao-Tưởng, Mao đã tắm máu hàng triệu đảng viên Quốc Dân đảng, rồi cuộc tắm máu cải cách ruộng đất, cuộc đại chết đói do phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đại chết đói trong cuộc đại nhảy vọt, cuộc đại tắm máu 1966 cách mạng văn hóa…
Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử Trung Hoa mà cái ác, cái xấu, cái đểu cáng dối lừa lại được tôn vinh đến thế. Chưa bao giờ máu Trung Hoa lại đổ nhiều đến thế, hội chứng ăn thịt người lại trở thành kinh khủng như dưới thời Mao đến thế. Xin quý độc giả xem hai đoạn trích dưới đây :
 “Ngày 27-5-2012, Tân Hoa xã đưa tin, công an đã bắt Trương Vĩnh Minh, 56 tuổi, người thôn Nam Môn, thị trấn Tấn Thành, huyện Tân Ninh, tỉnh Vân Nam vì bị cáo buộc giết người hàng trăm người để ăn thịt và lấy thịt người giả làm thịt đà điểu đưa ra chợ bán nhiều năm.Năm 1992, vợ chồng ký giả Nicholas D.Kristof và Sheryl Wudunn của tờ New York Times tìm được một số hồ sơ tiết lộ chi tiết về những vụ ăn thịt người tập thể trong giai đoạn Đại cách mạng văn hóa tại một số khu vực ở tỉnh Quảng Tây hồi cuối thập niên 60.
Theo những tài liệu kể trên, đã có ít nhất 137 người đã bị ăn thịt – mỗi nạn nhân bị cả chục người cùng ăn. Hầu hết những người liên quan đến việc ăn thịt người tại tỉnh Quảng Tây chỉ bị phạt nhẹ sau khi kết thúc Đại cách mạng văn hóa.
Theo cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” của tác giả Tân Tử Lăng:Trong tình cảnh này xuất hiện nạn ăn thịt người ở tỉnh Tứ Xuyên và nhiều nơi khác – khi chôn người chết chỉ vùi sơ sài, đợi đến tối bới lên lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng.
Tàn nhẫn nhất là nạn ăn thịt trẻ con ở Đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.
Đội sản xuất này có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong 1 năm (từ tháng 12-1959 đến tháng 12-1960) đã có 48 bé gái (từ 7 tuổi trở xuống) bị người lớn làm thịt và 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người.
Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện tình trạng ăn thịt trẻ con bởi khi đó tuy nhà ăn tập thể đã ngừng hoạt động trên thực tế vì không còn lương thực, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.Các gia đình đổi con cho nhau để giết thịt chúng cho bớt đau lòng.
Đêm ấy, đến lượt Vương Giải Phóng cùng 2 người khác đi tuần và họ phát hiện một dải khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Khi ập vào nhà Mạc Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng khi đó chỉ thấy có 5 bởi bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết, xẻ lấy thịt và đang luộc trong nồi.
Trong lúc tổ tuần tra tìm cây trói can phạm, Mạc Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài, ăn ngấu nghiến. Lãnh đạo địa phương sau khi cân nhắc đã quyết định ỉm vụ này đi vì sợ bị kỷ luật – sau 1 ngày bị giam giữ, cả nhà Mạc Nhị Oa được phóng thích.
Những tưởng các câu chuyện kể trên chỉ có thể diễn ra trong thời kỳ “đói kém”, nhưng sự kiện Trương Vĩnh Minh thực sự khiến dư luận bị sốc bởi bởi lẽ xã hội Trung Quốc ngày nay không làm gì có chuyện đói kém đến thế.
Ngày 225-2012, Vince Weiguang Li, người nhập cư gốc Trung Quốc không bị kết án cho dù đã chặt đầu và ăn thịt Tim McLean trên xe buýt Greyhound ở Canada trước sự chứng kiến của hành khách hôm 30-7-2008 bởi ông ta bị coi mắc bệnh tâm thần phân liệt chứng hoang tưởng.”
Báo chí Hàn Quốc đưa tin từ tháng 8.2011 hải quan Hàn Quốc đã ngăn chặn tới 35 vụ buôn lậu thuốc làm từ thịt trẻ em tán bột và cho rằng chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Họ đã tịch thu 17.451 viên được cất giấu trong hành lý của du khách hoặc chuyển qua đường bưu điện. Nhiều người cho rằng, loại thuốc này có khả năng trị bách bệnh và tăng cường sinh lực. Cơ quan Giám định pháp y quốc gia Hàn Quốc đã kiểm định, cho thấy 99,7% thành phần trong viên thuốc tương ứng với ADN của người. Có nhiều thông tin khác nhau về thứ thuốc “thịt người” này. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng đó chỉ là những mẩu nhau thai được lấy từ các bệnh viện phụ sản, mà theo y học cổ truyền, đó cũng là những vị thuốc chữa bệnh. Nhưng một đài truyền hình lớn của Hàn Quốc đã mất công điều tra công nghệ làm thuốc kinh hoàng này. Những người trực tiếp chế thuốc dường như không có cảm giác ghê tay. Họ cắt nhỏ từng xác thai nhi ra thành từng mảnh, sau đó đưa vào lò vi sóng sấy khô. Khi những lớp da và thịt đã khô cong, những miếng nhỏ này được đưa ra, bỏ vào máy nghiền, hoặc máy đập để tán nhỏ thành bột. Sau đó, chất bột này được trộn đều với các loại thảo dược theo tỷ lệ vừa đủ để đóng thành viên nang hòng che giấu thành phần thực sự của nó với mục đích đánh lừa các nhà điều tra y tế và các nhân viên hải quan…”
Lỗ Tấn hình như đã truyền lại cho hậu duệ Mạc Ngôn ám ảnh một nền văn minh nghiện ăn thịt người suốt bốn nghìn năm ? Trong các tác phẩm của Mạc Ngôn có thấy nhân vật nào giết thịt người  ăn đâu ? Nhầm !
Chả lẽ con người chỉ có thể xác mà không có tâm hồn ru ? Này nhé, các nhân vật của Mạc Ngôn hầu như đã bị bọn quan quyền, bọn buôn cách mạng,bọn đầu lậu chính trị ăn thịt hết linh hồn họ là gì ?
Cứ nhìn các bà các chị trong “ Mông to vú nở” bị cán bộ nông trang buộc rọ vào miệng khi bóc vỏ đậu để họ khỏi ăn hạt đậu sống vì đói, thì họ có khác gì con vật đâu ? Những người đàn bà này và hàng ngót tỉ chú AQ tân thời hình như đã bị tà thuyết của các bác ăn thịt hết linh hồn, khiến họ sống y như súc vật đó sao ?
Xin hãy đọc dòng văn học vết thương được mở đầu bằng truyện “ Chủ nhiệm lớp” ( 1977) của nhà văn Tứ Xuyên Lưu Tâm Vũ, các tác giả kế tiếp : Lý Bích Hoa, Tông Phác, Trương Khiết, Trần Thế Cưu, Trịnh  Nghĩa, Vương Á Bình, Vương Tống Hán, Ngô Cường, Lục Văn Phu…Rồi đến các tác phẩm của Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Vương Mông…Hầu hết các nhân vật bi kịch của dòng văn học vết thương nơi các tác giả trên đều đã bị tà thuyết của bác Mao ăn thịt hết linh hồn…
Văn học mô tả con người ăn thịt thân xác nhau đã kinh khiếp như Lỗ Tấn đã viết; chẳng lẽ việc con người bị kẻ khác ăn thịt hết linh hồn của mình như nhân vật của Mạc Ngôn lại ít kinh hãi hơn sao ?
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nhắc các vị cầm quyền Việt Nam rằng, đừng quên chuyện Trương Phụ tướng nhà Minh sang cướp nước ta vẫn thích ăn thịt người dân Việt, đã tiếp sứ thần
Nguyễn Biểu thay mặt vua hậu Trần là Trùng Quang đến gặp tướng nhà Minh Trương Phụ cầu hòa.Trương Phụ đãi sứ Việt ngay trên đất Việt món đầu người luộc để thử gan tướng Việt nhà hậu Trần có dám xơi thịt người như chúng hay không ? Xin trích từ điển mạng Wikipedia mục “Nguyễn Biểu”:
“Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối thời Trần, làm quan đến chức Điện Tiền Thái sử (Ngự Sử). Khi quân nhà Minh xâm lược Đại Ngu, ông đã phò vua Trần Trùng Quang Đế (1409-1413) tổ chức cuộc kháng chiến.
Năm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An, vua Trùng Quang Đế chạy vào Hóa Châu, sai ông đi sứ giảng hoà. Tướng giặc là Trương Phụ dọn cỗ đầu người để thử lòng. Nguyễn Biểu móc mắt ăn, rồi làm thơ đòi quân Minh công nhận chủ quyền Đại Việt, ông tức giận mắng Trương Phụ: "Trong bụng thì mưu đánh lấy nước, bên ngoài giả làm quân nhân nghĩa. Đã hứa lập con cháu nhà Trần, lại đặt quận huyện, không chỉ cướp lấy vàng bạc châu báu, lại còn giết hại nhân dân, thực là giặc tàn ngược". Trương Phụ trả thù bằng cách buộc ông vào cột cầu sông Lam để cho nước dâng lên ngập chết. Tương truyền ở dưới chân cầu ông dùng móng tay vạch vào thân cầu tám chữ: "Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử" (Nguyễn Biểu tử tiết ngày 11 tháng 7).
Vua Trùng Quang Đế cảm kích của với khí tiết đáng trân trọng của ông đã làm bài thơ tiễn Nguyễn Biểu đi sứ và bài văn tế Nguyễn Biểu. Cả hai bài này đều được lưu truyền đời sau.”(hết trích)
 Cần nên nhớ, rằng hàng tỉ chú AQ nước họ , mà họ còn xơi thịt cả thân xác lẫn tâm hồn, lẽ nào họ lại đi thương bọn ngoại tộc mà họ từng khinh bỉ gọi là man di ? 
Read More..

16 thg 10, 2012

SUY NGẪM VỀ TỰ XỬ


Đinh Bá Tuấn 

 Nho giáo phát xuất từ Trung Hoa và người khai sinh ra nó là Khổng Tử. Với  Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức,  theo Khổng Tử nếu giữ và làm tốt được nó thì xã hội sẽ an bình. Mặc dù còn những hạn chế, nhưng các nhà nước phong kiến Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam… đã biết vận dụng nó để trị nước, an dân.

Trong quá trình tu thân, Nho giáo đề cao đạo quân tử. Quân tử phải đạt được ba đức: “ Nhân – Trí – Dũng”. Sau khi tu thân người quân tử phải Hành Đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này  được công thức hóa: “Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ”. Nếu không làm được điều đó thì người quân tử phải tự rút lui. Còn nếu như mắc phải tội nặng thì Vua sẽ ban cho thanh kiếm để tự xử mình. Đó là cái chết trong danh dự. Nó thể hiện tính tự giác của cá nhân và nghiêm minh trong trị nước của các nhà nước phong kiến Trung Hoa.

Nho giáo du nhập vào Nhật bản  kết hợp với tinh thần Võ Sĩ Đạo sẵn có, đạo quân tử của người Nhật lại nâng thêm một bậc. Lúc này không phải có một thanh kiếm vua ban nữa mà là hai thanh kiếm. Thanh kiếm thứ hai thường ngắn hơn dùng để tự xử mình. Sự can đảm đã tạo dựng cho các samurai xem cái chết để giữ gìn danh dự như một điều vinh dự, một cái đẹp của cánh hoa đào rơi.

Một thanh kiếm khi ở Trung Hoa, hai thanh kiếm khi vào Nhật bản. Những thanh kiếm ấy chỉ dành tự xử các quan lại trong triều đình và các Samurai, thường dân thì không có. Nhưng nó lại tác động và định hướng đến toàn bộ xã hội. Sự tự trọng ấy là tấm gương để mọi người soi chiếu.

Nho giáo du nhập vào Việt nam cùng với Đạo Lão và gặp từ bi sẵn có của Đạo Phật. Sự pha trộn của các đạo giáo, tiếc thay không ra được món cocktail  ngon mà lại ra món hổ lốn, lổn nhổn chưa định được đúng tên là món gì. Sự sắc bén của các thanh kiếm cũng không còn, lòng tự trọng cũng dần mất đi. Người Việt nhất là quan lại, thường nói nhiều, làm ít, không biết trọng lời hứa, ít dám chịu trách nhiệm với công việc mình làm. Tự xử lại càng không có.

Nên chuyện xảy ra trong những ngày qua trên chính trường, chẳng có gì phải buồn. “ Chung quy chỉ tại Vua Hùng …”./.  
                                                          
                                                               Vũng Tàu, 16/10/2012
Read More..

13 thg 10, 2012

GỌI MỘT LY ĐEN

Đây là truyện ngắn mới viết của Trần Đức Tiến, đăng trên báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Truyện được viết theo một phong cách mới, khác nhiều so với cách viết trước đây của anh và khác hẳn so với cách viết chung của các nhà văn Việt hiện nay. Đọc, tùy theo mỗi người có cảm nhận khác nhau. Xin giới thiệu với các bạn truyện ngắn này.(Đ.B.T) 

 TRẦN ĐỨC TIẾN


Y hẹn tám giờ. Ở cà phê Vườn Thúy, đường Dốc Nhà Thờ. Bấm nút chuyển cái tin nhắn đi xong, nửa phút sau Tâm nhắn lại: “Vâng”. Y định nhắn tiếp, nói thêm mấy câu cho chắc ăn. Thật ra y không thông thạo cái thị xã này lắm. Mới tới đây vài ba lần. Đi một mình. Lần nào cũng chỉ ngủ một vài đêm trong cái khách sạn rẻ tiền, ăn mấy bữa cơm bình dân, và rỗi rãi thì ngồi giết thì giờ ở cái quán cà phê văng vắng nào đó. Xong việc, về… Y không nhớ Vườn Thúy số nhà bao nhiêu. Chỉ nhớ từ ngã tư chỗ có cái nhà thờ cổ cổ đi lên, khoảng hơn trăm mét. Bên ngoài quán có rặng liễu rủ, bên trong là vườn. Nhưng soạn xong cái tin thứ hai, y lưỡng lự một chút rồi xóa. Tâm “vâng” là được rồi. Nhắn thêm biết đâu Tâm đổi ý? Vả lại, giờ này chắc gì chồng nàng đã ra khỏi nhà? Y không muốn gây rắc rối cho nàng vì những cái tin nhắn không đúng lúc. Ô, nhưng y đã biết gì về chồng con Tâm đâu? Hai người hầu như chưa biết gì về nhau cả. Đây là lần đầu tiên hẹn hò…
Y đi bộ dọc theo bờ hồ, nhận thấy đoạn đường đã từng qua lại mấy lần không có gì thay đổi. Hàng cây bằng lăng già cỗi trổ hoa tím. Cái bến cho thuê thuyền vịt bỏ hoang. Cái nhà hàng nổi hình như chỉ mở cửa vào buổi tối... Y đến Vườn Thúy lúc tám giờ kém năm. Quán vắng. Chọn cho mình một góc khuất, y nghĩ: chắc phải tám giờ mười lăm Tâm mới đến. Thậm chí còn muộn hơn.
Nhưng Tâm sẽ đến. Y tin thế. Kinh nghiệm mách bảo y: cuộc đời có lắm thứ chỉ có thể tin được thôi, chứ  giải thích thì chịu.
Y gọi một ly cà phê đen. Cà phê Vườn Thúy ngon. Mấy lần trước, y cũng ngồi nhâm nhi ở đây. Không ngờ một cái quán vớ vẩn tỉnh lẻ lại có thứ cà phê ngon như vậy. Nhưng điều này có lẽ cũng chỉ mình y biết. Dân thị xã buổi sáng đến đây không phải để thưởng thức cà phê, mà chủ yếu là ngắm chim, ngắm cá và buôn chuyện.
Trong góc sân Vườn Thúy có một hồ nước nhỏ, nuôi cá và rùa. Hai con rùa to bằng cái rá vo gạo, thường ngoi lên nằm ngủ trên tảng đá giữa hồ. Trong làn nước hồ xanh đen, mấy con cá mình dài, đầu nhọn, lấp lánh ánh bạc, lượn lờ mềm mại như rắn. Phía trên bờ hồ, treo trên sợi dây thép chăng ngang là những chiếc lồng chim to nhỏ các kiểu. Cái sơn vàng, cái sơn trắng, có cái trùm vải hoa. Cu gáy, chào mào, chích chòe, phường chèo, bạc má, lách tách, nhồng, vẹt… Những con chim đã dạn khách, ăn uống, nhảy nhót thoải mái ở trong lồng, thỉnh thoảng còn hót lên chiều người nghe.
Phin cà phê của y bưng ra, vừa nhỏ xuống ly những giọt đầu tiên nâu sánh thì có thêm hai người khách bước vào. Hai người đàn ông đã có tuổi, dáng vẻ nhàn nhã. Một ông gầy cao tóc xoăn. Ông kia thấp béo tóc bạc.
Cả hai ung dung đến ngồi cạnh chiếc bàn kê sát bên hồ nước. Bàn số 17. Hình như cái chỗ quen thuộc ấy vẫn dành cho họ. Gầy Xoăn gọi chanh muối. Bạc Béo gọi trà gừng. Gầy Xoăn duỗi thẳng đôi chân dài dưới gầm bàn, khom người nhìn xuống mặt hồ:
- Đi đâu một con rồi?
- Cái giống cái bao giờ cũng đủng đỉnh - Bạc Béo cười khìn khịt.
Quả nhiên lão vừa dứt lời thì mặt nước dềnh lên: con rùa thứ hai xuất hiện. Nó chậm rãi bơi đến bên tảng đá, bám hai chân trước lên đó, kềnh càng đu cả người lên theo. 
Con rùa thứ nhất đã nằm ngủ trên mặt tảng đá từ lâu, mai khô hết nước. Mắt vẫn nhắm, đầu vẫn rụt sâu, nó khẽ nhúc nhắc nằm dịch sang bên, nhường chỗ cho con cái vừa bò lên. Con này ý tứ nghển cổ đảo xung quanh một vòng, trước khi nằm xuống cạnh con đực.
- Nằm sát nữa vào. Khéo rơi xuống nước - Bạc Béo lại cười khìn khịt, giọng dỗ dành.
“Đời còn dằng dặc thế. Tình yêu đã cạn rồi” - Gầy Xoăn ngẫu hứng ư ử một câu hát trong cổ họng.
Y liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Quá mười phút. Y nhấc chiếc phin lên khỏi miệng ly. Cà phê vẫn nhỏ xuống đều từng giọt.
Quán lại có thêm ba người khách. Ba phụ nữ. Hai chị tuổi sồn sồn khoác túi. Một cô trẻ hơn, áo sơ mi bỏ trong quần, đeo cả chục chiếc lắc vàng trên cổ tay. Họ tìm đến góc vườn, dưới gốc cây sa kê. Vừa đặt đít xuống ghế, chị sồn sồn mặc áo đen đã ghé tai cô tre trẻ thì thầm điều gì. Cô này đỏ mặt lên, mủm mỉm cười:
- Em không tin.
- Tao cũng không tin - Chị kia nói to - Nhưng lúc nhìn cái mặt thằng kia thì tao lại tin.
- Đẹp trai à?
- Không. Đểu. Con gái dễ chết vì những thằng đàn ông mặt đểu đểu.
Chị sồn sồn còn lại không tham gia câu chuyện. Chị ta kéo tay con bé phục vụ ở quán, giọng mềm mỏng:
- Cho chị xin ly cà phê tiểu đường.
- Cà phê gì ạ? - Con bé hỏi lại như không nghe rõ.
Vẫn giọng thẽ thọt, nụ cười tươi như hoa:
- Cà phê tiểu đường, em!… Cà phê không đường ấy.
Chủ quán, trẻ hơn Gầy Xoăn và Bạc Béo một chút, mặc đồ pijama, khoan thai từ sau quầy bước ra. Gã không nói không rằng, với tay lần lượt gỡ từng chiếc lồng chim máng trên dây thép xuống, cất vào trong mái hiên. Lũ chim nháo nhác một hồi rồi im.
Gầy Xoăn ngừng hát, bất giác ngửa cổ nhìn lên vòm trời màu xám đục thấp thoáng sau tán cây:
- Sắp mưa.
Cùng lúc đó, một chiếc xe máy xộc thẳng vào cổng. Ngồi trên xe là gã thanh niên rất kẻng trai, quần bò, áo chẽn kẻ sọc đỏ, tóc để ngôi giữa. Rất nhanh, gã tắt máy, dựng chân chống, bước vội đến chiếc bàn còn trống dưới mái hiên như sợ ai nhanh chân hơn chiếm mất chỗ. Bàn số 2. Gã có vẻ vào quán để trú mưa chứ không phải để uống cà phê. Tuy nhiên, sau khi cúi xuống buộc lại dây giày, gã cũng kêu một ly đen đá.

Trời chưa mưa, ly cà phê của gã thanh niên cũng chưa kịp mang ra, trong quán lại có thêm người nữa. Nhân vật này như từ dưới đất chui lên: thằng bé đánh giày. Thằng bé xách hòm đồ nghề, tiến đến trước mặt gã thanh niên:
- Chú! Giày?
Gã kia nhìn thằng bé với cặp mắt khinh khỉnh. Gã không nói gì, chỉ ngọ nguậy hai bàn chân ra ý bảo: giày của tao là giày da lộn, không đánh xi.
- Giày chú bẩn. Để cháu lau cho sạch?
Thằng bé đánh giày gạ gẫm.
Gã thanh niên nhìn xuống chân. Giày gã có vết bẩn thật. Hình như nhớt xe máy dính vào mũi giày.
- Mày lau bằng cái gì?
- Cháu lau bằng gì là việc của cháu. Đảm bảo giày chú không mất màu là được.
Gã thanh niên nhìn thằng bé có vẻ hay lý sự một thoáng rồi cúi xuống, tháo chiếc giày bẩn ra khỏi chân.
- Chiếc kia nữa? - Thằng bé đánh giày nhắc.
- Chiếc kia không bẩn - Gã thanh niên sẵng giọng.
- Nhưng phải lau đều cả hai chiếc. Chú thích một cái màu vàng một cái màu nâu à?
Gã thanh niên đành tụt nốt ra chiếc giày thứ hai. Thằng bé đánh giày nhanh nhẹn lồng đôi dép nhựa cũ đã mòn vẹt vào chân cho gã, rồi xách đôi giày da lộn đi nhanh ra phía cổng. Gã thanh niên định nói với theo câu gì, nhưng biết đã lỡ đà nên dừng lại.
- Toi rồi - Gầy Xoăn thở dài.
Bạc Béo vẫn ngồi im. Lão hiểu ngay ông bạn đi cùng đang nói về chuyện gì. Đề tài ấy đã trở đi trở lại với hai người trong quán cà phê này hàng chục buổi sáng.
- Vậy bao nhiêu công sức của bà lương y đổ cả xuống sông xuống biển?
- Đổ cả xuống sông xuống biển.
- Nhưng rõ ràng đã có lúc người ta nhận ra sai lầm, và thả thằng bé ra rồi? -Bạc Béo gặng hỏi.
- Người ta thả, rồi người ta lại bắt.
- Như trẻ con ấy nhỉ?
- Ông đi mà hỏi họ.
Bạc Béo chăm chú nhìn xuống mặt hồ tối sẫm. Con cá lớn, mình ánh bạc uốn lượn như rắn, giờ nằm im phắc dưới chân tảng đá. Trong cái hốc đá cạnh đấy, một chú cá nhỏ bằng đầu ngón tay đang ngo ngoe. Thấy yên tĩnh, chú cá nhỏ liền phóng ào ra. Chú không hề biết miệng con cá lớn đã ngoác ra chờ sẵn. Chú cá nhỏ lao thẳng vào cái khoảng tối chết người giữa hai hàm răng lởm chởm như răng cưa của con cá lớn.
- Thế hóa ra cái huyệt dương minh ấy là bịa à? - Bạc Béo lại hỏi.
- Tôi chắc không bịa.
Gầy Xoăn nói xong quay sang, nhìn chăm chăm vào một bên tai của Bạc Béo. Rồi đưa tay lên sờ sờ vào cái dái tai đã héo của bạn:
- Đây, chính xác là nó ở chỗ này. Các nhà khoa học bảo: lúc người ta còn trẻ, vào những ngày đẹp trời, nhìn kỹ sẽ thấy nó nổi lên, mảnh như một sợi chỉ màu hồng.
Bạc Béo bị sờ tai hơi lâu, nhột, rụt cổ lại, nhưng vẫn sa sả như cãi nhau:
- Như thế thì bà lương y kia đúng. Khoa học không thể sai được. Tại sao lại bắt thằng bé? Huyệt dương minh của nó còn sờ sờ ra đấy, ai cũng thấy. Nó là trai tân. Nó không phạm tội hiếp dâm!
Một con rùa giật mình, lăn bủm xuống nước. Con rùa cái. Con đực như không hề biết gì, vẫn nằm im trên tảng đá ngủ say. Y nhìn đồng hồ. Tám giờ hai mươi lăm. Chắc tám giờ ba mươi Tâm đến. Nàng đang chờ đèn đỏ ở một ngã tư đường. Hoặc cũng có thể đang dừng xe nói chuyện với một người quen nào đó. Nếu gặp người quen, có thể nàng còn dừng lại lâu hơn bình thường. Phụ nữ là như vậy. Những lúc cần nhanh, họ lại chậm. Hẹn hò càng quan trọng họ càng muốn kéo dài thời gian. Đàn ông ít người hiểu rằng, trong lúc mình sốt ruột vì chờ đợi, thì người phụ nữ đã bắt đầu tận hưởng cuộc hẹn hò rồi.
Chủ quán lại lẹp kẹp đôi dép lê từ sau quầy đi ra. Gã hỏi với vào nhà trong:
- Hôm nay đã cho rùa ăn chưa mày?
- Vừa ăn hôm qua rồi bố ơi - Giọng một đứa trẻ từ trong nhà vọng ra.
Gầy Xoăn nghiêng đầu nghe. Lão quay ra hỏi chủ quán:
- Rùa nhà cậu ăn gì?
- Dạ thưa, ăn thịt bác ạ - Chủ quán mau miệng đáp.
- Ngày xưa nhà tớ cũng nuôi một con rùa. Nhưng chỉ cho ăn cơm. Suốt ngày cu cậu nấp trong gầm giường. Đến bữa tớ nắm cho cục cơm bằng ngón tay cái, quẳng vào cho cu cậu. Cu cậu cứ lỉm nghỉm chén sạch lúc nào không biết. Ấy, có con rùa trong nhà, muỗi mòng cứ gọi là tiệt nọc, cậu ạ.
- Rùa nhà cháu không ăn muỗi, cũng không ăn cơm.
- Xơi toàn thịt à?
- Toàn thịt.
 - Mỗi bữa mấy lạng?
- Mỗi con ngốn hết một cân đấy bác.
- Chết chết…
- Bọn này bụng rỗng, ăn tốn lắm. Nhưng được cái ăn xong lăn quay ra ngủ, nên cả tuần mới cho ăn một lần.
- Thế mấy con cá trong bể này thì nuôi bằng gì?
- À, chúng nó ăn nhau.
Bạc Béo rụt đầu, cười khụt khịt. Lão đã nguôi chuyện huyệt dương minh với thằng trai tân bị bắt oan. Gầy Xoăn không nói gì, lại ngửa cổ, rên rẩm như cái cassette hỏng: “Đời còn dằng dặc thế. Tình yêu đã cạn rồi”…
Tám giờ ba mươi. Ly cà phê của y vơi một nửa. Chủ quán ra ngồi cùng bàn vớiGầy Xoăn và Bạc Béo. Có vẻ như gã cũng thích buôn chuyện tào lao với hai ông khách quen. Góc vườn, chỗ ba người phụ nữ, thỉnh thoảng lại rú lên tiếng cười của chị sồn sồn áo đen ngắt quãng chuỗi âm thanh thì thầm. Bàn số 2, thanh niên để ngôi giữa nhấp nhổm đứng hẳn dậy. Bố khỉ, thằng bé đánh giày sao lâu thế? Hay nó biến mất cùng với giày rồi? Nhưng từ chỗ gã thanh niên nhìn ra vướng bức mành, không thể thấy gì ngoài cổng. Gã đành ngồi xuống.
 “Chỉ lướt qua một cái là mình biết sẽ xảy ra chuyện gì” - y mỉm cười, nghĩ. Lần ấy, cũng ở thị xã này, y từ trong hiệu sách bước ra. Hè phố ít người. Y vừa đi vừa chúi mũi vào cuốn sách mới mua được. Bất chợt y ngẩng lên và bắt gặp cái nhìn lạ lùng của nàng. Xoẹt, ý nghĩ đầu tiên nhoáng lên trong đầu y như ngọn lửa quẹt ga: “Đây là người đàn bà của mình”.
Bước thêm ba bước, y quay lại. Nàng cũng đang dừng hẳn, nhìn y.
- Xin lỗi, chị là…?
- Em là Tâm - nàng nhanh nhảu.
- Hình như tôi gặp Tâm ở đâu rồi?
- Dạ vâng. Ở Phan Thiết, lầu ông Hoàng...
Y vắt óc nghĩ. Y đến Phan Thiết một lần,  từ lâu lắm, và chưa từng ghé lầu ông Hoàng. Nhưng thấy nàng có vẻ cả quyết như vậy, y đành ậm ừ rồi xin nàng số điện thoại.
Một mình trở về khách sạn, y phì cười. Lầu ông Hoàng, lầu ông Hoàng! Cái địa danh gắn liền với giai thoại nổi tiếng về mối tình của chàng thi sĩ họ Hàn với người đẹp. Nhưng lầu ông Hoàng ở chỗ quái nào nhỉ? Lần ấy, xe của y ghé qua Phan Thiết vào buổi trưa. Nhớ lời vợ dặn, y chỉ kịp dừng lại mua mấy thùng nước mắm tống lên xe. Dọc đường về, có một chai bị vỡ, mùi  mắm len cả vào giấc ngủ gà ngủ gật, mơ mơ màng màng. Đấy, chỉ có thế - kỷ niệm duy nhất của y về Phan Thiết.   
Tâm.
Một cái tên.
Một số điện thoại.
Và một cuộc hẹn.
Y hẹn nàng tám giờ, ở cà phê Vườn Thúy.                    
Bây giờ là tám giờ bốn lăm.
Thằng bé đánh giày bất ngờ xuất hiện ngay sau lưng gã thanh niên để ngôi giữa. Hóa ra ngoài cổng chính, Vườn Thúy còn có cửa ngách mà chỉ những người ra vào quán thường xuyên mới biết. Thằng bé xếp gọn đôi giày da lộn sạch như mới dưới chân gã thanh niên.
Mặt gã thanh niên giãn ra trong nụ cười đểu:
- Mẹ. Ông tưởng phải lê đôi dép này đi tìm mày?
Thằng bé đáp trả ngon lành:
- Cháu mà lặn thì chú có bới tung cả cái thị xã này lên cũng chả thấy.
Gã thanh niên gật gù, xỏ giày, trả tiền thằng bé rồi nhảy ba bước đến chiếc xe của mình. Xe nổ máy, vọt nhanh ra đường.
Chủ quán rời khỏi bàn bước vào hiên. Gã gỡ những chiếc lồng chim xuống, lần lượt mang từng chiếc ra sân máng lên sợi dây thép.
- Sao khó mưa thế nhỉ? - Bạc Béo bâng quơ.
Không ai hưởng ứng câu hỏi của lão.
“Đời còn dằng dặc quá. Tình yêu đã cạn rồi” - Gầy Xoăn gõ gõ ngón tay lên mặt bàn.
Y thở dài, nhìn đồng hồ. Rồi gọi thêm một ly đen./.

Lời bình: Một quán Cafe. Thị xã nơi tỉnh lẻ. Hàng cây bằng lăng già cỗi trổ hoa tím. Cái bến cho thuê thuyền vịt bỏ hoang .... một cô gái tên Tâm vừa thực, vừa mơ hồ. Một ông Béo. Một gã thanh niên. Một thằng bé đánh giày. Đám đàn bà buôn dưa lê. Những câu chuyện tào lao, giời ơi đất hỡi, không đầu, không cuối, lộn xộn. Đẹp trai à?-  Không. Đểu. Những câu hát chẳng ăn nhập :" Đời còn dằng dặc quá. Tình yêu đã cạn rồi". Không ai biết đích xác mình đang chờ gì, muốn gì. Truyện trủng chẳng, câu chữ có xu hướng  ngắn lại...
Nhưng đấy lại là một buổi sáng điển hình của một quán Cafe ở một thị xã, thi tứ nào đó. Một buổi sáng có có đầy rẫy trong đời. Một cuộc hẹn mà trong đời thường ai cũng có. Ai cũng đã từng chứng kiến, từng có giờ phút sống qua nó nhưng không biết biến thành văn chương như Trần Đức Tiến.
Truyện ngắn này khách quan, không cốt truyện, nhưng thực sự ám ảnh người đọc.

Read More..