Nhớ vào khoảng đầu năm 2008, mấy anh em ngồi tào lao ở quán café,
anh Tiến (nhà văn Trần Đức Tiến) nói với mình:"Mai có vợ chồng bác Tấn xuống
chơi, Tuấn có rảnh đi cùng”. Đã đọc truyện ông viết: Một thời để mất, Rừng xưa
xanh lá, Chuyện kể năm 2000, nay gặp ông không khác so với hình dung: nhẹ nhàng, bình thản. Trò chuyện
ông chân tình, ý nhị mà không màu mè, với mình như thấy quen ông từ kiếp trước.
Ông hỏi mình tuổi gì, mình nói tuổi Mậu Tuất. Thế thì Tuấn sau mình hai giáp,
ông dùng từ sau trước như tuần tự của thời gian mà không dùng từ hơn kém mang
tính thứ bậc. Sau này để ý lại, thấy trong các trang viết ông dành cho bạn bè,
cho người thân đều một khiêm nhường, ý nhị thế. Ờ, mình với Tuấn nhiều cái giống
nhau nhỉ, cùng tuổi con chó này, tên cùng vần T này, cùng dân Hải này…ông liệt
ra một loạt cái giống nhau làm mình phì cười. Trầm ngâm một chút ông nói, trong
các truyện mình viết cũng thường lấy tên Tuấn
nữa. Thêm một chữ u, u buồn.
Trò chuyện ông kể truyện
ngắn đầu tiên được đăng sau khi ở tù ra là viết về một người bạn thân sau nhiều năm chinh chiến nay về làng làm nghề thổi kèn đám ma. Ông nói, lúc đăng báo họ sửa lại đoạn
kết thành thử ra đọc thấy khiêm cưỡng, nhàn nhạt, nhưng khi ấy họ đăng cho mình, lấy đúng tên mình cũng là dũng cảm
lắm. Rồi
chuyện ông “tự nhiên” đi tù, chả phiên tòa nào xét xử, chả một bản án nào được tuyên. Những năm sau này ông đã viết nhiều đơn, gửi đi nhiều nơi, chỉ
để các cấp lớn nhỏ trả lời một câu: Tại sao tôi phải vào tù? Buồn là cho đến khi ông từ giã thế giới này, chẳng ai, chẳng cấp chính quyền,
đoàn thể nào trả lời câu hỏi ấy, cứ nơi nọ đổ cho nơi kia, rồi hẹn hết năm này tháng khác. Cứ như số ông phải đi tù, thế thôi! Vĩ nhân nào đã nói:"Một ngày tù bằng nghìn thu ở ngoài", Ông lại những 5 năm, kém tí chẵn hai nghìn ngày, bằng bao nhiêu cái nghìn thu? Đến nỗi mà:"Kể từ khi ở tù ra, hắn nhìn ai cũng quen quen, hình như gặp ở trại nào, ra hồi nào ấy nhỉ?". Vậy mà ngồi nghe ông nói về những ngày tháng ấy cứ nhẹ tênh, như ôn lại chuyến đi du lịch. Người
mới gặp nghĩ ông cam chịu, nhưng trò chuyện cùng ông, đọc những gì ông viết, sau cái tĩnh lặng kia là trái tim cháy bỏng, là những trăn trở của
kiếp nhân sinh, nhưng cái hay ở ông là vượt lên trên những oán trách, hận thù.
Người như thế, khác thế ở thời này là dễ bị nghi hoặc lắm. Ông nói, chiều qua vừa từ Hải
phòng vào nhà con gái ở Sài gòn thì buổi tối đã có hai cậu công an đến hỏi:”Bao
giờ bác về?”.
Bữa đó trên bè hào Long Sơn, có Lý là nhân viên văn phòng
của xã. Khi biết chuyện Lý có ba bà vợ, lên lịch mỗi bà đến ở với Lý hai tháng, đúng ngày tự động dọn
đến, tự động dọn đi, chả một câu phàn nàn. Tổ chức có ý quy hoạch đưa Lý vào
cán bộ nguồn của xã, với điều kiện phải đăng ký và ở với một bà thôi. Lý nói, cả
ba bà đều yêu tôi, tôi yêu cả ba bà, ba bà đối với nhau tử tế thân thiện, các anh
chỉ cho phải bỏ ai? Nghe tới đó, ông cười: hay, hay! Quay sang Trần Đức Tiến
ông nói, nhân vật ở đây, chứ ở đâu nữa mà phải tìm. Tuần sau đó Trần Đức Tiến
có bài về Long Sơn, về Lý đăng trên Tiền
Phong chủ nhật. Các bác văn nghệ từ nam chí bắc về Vũng Tàu cứ đòi phải dẫn sang Long Sơn để thưởng
thức món “bướm tiên” và gặp nhân vật ba vợ không chịu bỏ vợ nào.
Gặp lần ấy mình nghĩ người
như ông còn bao nhiêu mối giao tiếp quan hệ nếu có quên người nào đó mới gặp cũng
là bình thường. Vì thế thật ấm áp khi có ai từ Vũng Tàu ra ông đều gửi lời hỏi thăm, ra truyện
mới ông gửi tặng mình.
Đọc truyện của ông mình thích những trang ông viết về bè bạn,
về Dương Tường, về Lê Bầu, về Hứa Văn Định … đủ các cung bậc cảm xúc. Ông cũng
hay kể vể Nguyên Hồng, bộc trực tốt tính lắm, chính vì thế có lần mình mới hỏi
bà Bích vợ ông cái chi tiết khi ông bị bắt, Nguyên Hồng gặp bà ở ngoài phố quay
đi không dám nhận là sao? Bà nói, hai người giáp mặt nhau mình định chào thì anh
quay đi. Ông cũng ngồi đấy nói như thanh minh: Cái anh cộng sản này hay
ở chỗ đó, họ làm cho cả xã hội nghi
kỵ lẫn nhau, làm cho mọi người lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Pháp, Mỹ đều không làm được
điều này. Ở ông luôn thấy cái đẹp, cái hay của con người ngay trong cái ác, cái
yếu hèn.
Nhớ có ông từng là bạn mình, chơi
với nhau mấy chục năm, cũng gọi là thân, đối với nhau cũng tử tế. Rồi có một
ngày tai bay vạ gió mình bị nạn, nhiều người chưa rõ cũng lo cho mình, gọi điện
thăm hỏi động viên, còn bạn thì biến mất tăm. Gọi điện cho bạn để tào lao
thôi, bạn kêu bận quá, bận quá, lát nữa
tôi gọi lại cho. Lát nữa, ấy là đến khi hoạn nạn với mình đã qua. Bạn sợ liên lụy.
Khi tai qua nạn khỏi, gặp bạn ở đám giỗ, đám hỏi, có tý rượu bia bạn lại bùi
ngùi: Thấy ông vất vả quá, khổ quá! Quay
sang mọi người trong bàn bạn nói to, tôi với ông Tuấn này bạn bè mấy chục năm rồi,
con chấy cắn đôi, sống chết có nhau…
Đấy, cứ bùi ngùi vậy, cứ trơn tuột vậy. Thật lòng lúc ấy mình
vừa bực, vừa coi thường nữa, nhưng nhớ tới
bác Tấn, như thế, như thế… mà vẫn nhẹ tênh,chả trách, chả thù, để rồi lại nghĩ
lại, thôi có lúc quỷ thần hai vai ám ảnh người ta, bỏ đi.
Tháng 4/2014 vợ chồng ông cùng dịch giả Dương Tường vào Vũng
Tàu, khi đó sức khỏe của ông cũng đã yếu lắm. Hôm ấy ngoài mấy anh em tụi mình
còn có một Fan hâm mộ, người đã tài trợ để tái bản cuốn: Chuyện kể năm 2000. Sách
in đẹp gộp hai tập làm một, khi viết tặng sách cho tụi mình, thấy tay ông run lắm.
Ông nói, các bác sỹ họ cứ động viên mình, nhưng mình biết chắc chỉ vài tháng nữa
thôi! Vào chào các cậu, chắc lần này là lần cuối. Rồi như sợ bạn mình buồn, chỉ
đĩa thức ăn trên bàn ông giục tụi mình ăn đi, ăn đi đừng để phí.
Là người theo đạo Phật, ông hiểu rõ lẽ vô thường của vạn vật, của đời người, được đấy mất đấy, phúc đấy họa đấy, triết lý ấy lại được kiểm nghiệm bằng chính cuộc đời mình, có lẽ vì thế nên ông luôn nhìn mọi thứ trong đời sống một cách nhẹ nhàng, bình thản của người đắc đạo. Thì đấy, đúng là trong họa có phúc, chả ai tự dưng lại muốn tù đày, nhưng nếu không có cái
họa của 5 năm oan trái, ngồi tù thì Bùi
Ngọc Tấn chắc mãi chỉ là"Nhà Văn Công Chức", "Nhà Văn Quốc Doanh" mà thôi. Làm sao có được những trang viết thấm đẫm tình người với đủ các cung bậc cảm xúc
mà không chút màu mè, giả tạo như trong Rừng xưa xanh lá. Làm sao có được những
chất liệu để viết nên Chuyện kể năm 2000, một tác phẩm lay động mọi trái tim, xứng tầm giải Nobel văn học, cùng nhiều tác phẩm khác nữa. Và, đúng như lời điếu mà dịch giả
Dương Tường đã đọc trong tang lễ khi tiễn đưa ông về với Phật:”…Lịch sử công minh, sớm
muộn sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ
mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu
văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái
tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử”.
Với mình lúc nào cũng như thấy ông ở quanh đây!