Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

8 thg 3, 2015

TÀO LAO TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG (Bài 5)

Đinh Bá Tuấn

Gặp gỡ ở Sydney

Trái đất này cứ tưởng là to rộng nhưng hóa ra cũng nhỏ hẹp. Chưa nói bây giờ cứ ngồi một chỗ bật các thiết bị điện tử lên là biết cả thế giới đang diễn ra những gì. Chỉ nghĩ, hơn bảy tỷ người trên trái đất này, xác suất hàng tỷ, gấp bao nhiêu lần giải độc đắc của vé số, vậy mà có những người ta cứ ngẫu nhiên gặp lại. Trong hành trình du hí của mình, rất nhiều lần có những ngẫu nhiên như thế. Ở Thái Lan, ở Trung Quốc, ở Mỹ, ở Úc châu…cứ như những giấc mơ nối tiếp. Có những gặp gỡ  là sự vui mừng, có những gặp gỡ là nỗi buồn và những nghĩ suy về nhân tình thế thái, những thăng trầm của kiếp người…

Tình cờ, rất tình cờ, nhưng có lẽ có sự sắp đặt của thượng đế, mình gặp lại Hải.  

Từ hôm đến Sydney, mấy hôm đầu còn hăng hái khám phá, những ngày tiếp  theo trở về công thức thường có ở một gia đình. Sáng con gái đi học, vợ đi chợ, mình lại tìm một quán café ngồi đồng. Bankstown không phải là thủ phủ của người Việt ở Sydney nhưng cũng có nhiều quán café Việt. Quán Thảo Tím nằm ngay góc phố cạnh ga tàu điện, phía trước có công viên nhỏ, góc công viên có tượng con Kangaroo đang tè, các cụ già người Việt thường tập trung ở đây chơi cờ tướng. Chủ quán thấy mình vào, hỏi như đã quen từ lâu.

- Hôm nay đi một mình à?

- Mình cười thay câu trả lời, ngồi vào cái  bàn gần góc quán.

Trời mưa, lại vào cái giờ mọi người đi làm nên quán vắng, cả quán khách chỉ có mình và một người nữa. Người khách thấy mình cũng gật đầu thân thiện.

Im lặng nghe rõ cả tiếng càfe rơi!

Ông khách lên tiếng:

- Trời mưa chán nhỉ?

- Mùa này sáng ra là cứ mưa suốt ấy mà- ông chủ quán đáp lại.

Mình quay sang để ý tới ông khách, trạc ngoài năm mươi, khuôn mặt rõ là người từng trải, nhưng đôi mắt thì buồn, ánh nhìn ngơ ngác! Thật khó thể đoán anh ta làm nghề gì. Bất giác anh ta quay sang hỏi mình:

- Anh mới ở Việt nam qua?

- Vâng. Chắc anh qua đây lâu rồi? Mình hỏi lại.

- Không, tôi cũng mới qua!

Như nhận ra cái sự nghi ngờ của mình anh ta nói tiếp, tôi từ Vanuatu qua. Thấy mình chưa rõ, anh nói, Vanuatu ở trong nước thường gọi là Tân Đảo ấy.

      - À, ra vậy!

- Ở Việt nam anh ở đâu? Anh ta hỏi tiếp.

- Tôi ở Vũng Tàu.

- Tôi thấy anh nói giọng Bắc!

- À, quê thì ở Hải Dương.

Thấy anh như sững lại, giọng hỏi gấp:"Ở Hải Dương anh ở khu nào?". Mình nói: "Ở thành phố Hải Dương bây giờ, ngay khu Ga". "Ga à? Ga Hải Dương đúng không? Nhà tôi trước cũng ở phố Ga, ngay sát ga Hải Dương đấy"  

Đến lượt mình ngạc nhiên hỏi lại: Tôi ở đó từ bé sao không biết anh nhỉ?

Anh nói, khi ở Tân Đảo về, tôi và gia đình ở đó khoảng hơn ba năm…

- À, thế thì anh có họ hàng với nhà ông Triển?

- Ông Triển là bác ruột tôi, tôi là con ông Triều!

- Thế thì tôi nhớ rồi, anh là Hải em anh Hùng!

- Dạ!

Không có sự vồ vập, ôm hôn thắm thiết của những người quen gặp lại. Trong tôi những thước phim của hơn nửa thế kỷ trước hiện về. Gia đình anh  về ở phố tôi, những người ở vương quốc giàu có, sung sướng về ở với những người cần lao. Phố tôi có ông Xu híp, mắt híp chặt, làm nghề xe ngựa, nhà chỉ có hai cái đèn tuýp (đèn ống bây giờ) tối bật sáng choang, chỉ có thế mà lấy được ba bà vợ, bà nào cũng đẹp. Nhà anh lại có đầy đủ, xe đạp Peugeot,  đài Philips, quạt máy, mọi người đều mặc quần áo đẹp… trời ơi, giấc mơ của giai cấp cần lao. Tôi nhớ anh Hùng ngày đó khoảng hơn chục tuổi, lúc nào áo cũng thắt lơ, đầu rẽ ngôi, nói năng thưa dạ lễ phép, Hải thì quần sọoc đỏ, nhỏ tuổi hơn tụi tôi, nhát lắm chả bao giờ bước ra khỏi cửa nhà. Tụi tôi thường bắt những con gián dọa Hải, mỗi lần như vậy Hải thường hét lên chạy vào trong nhà.

Nhưng bác Triển anh thì hay uống rượu, say rượu ông thường đánh chửi vợ con. Phố thì nhỏ nên mỗi lần như thế cứ náo loạn lên và có một lần rượu say ông không đánh chửi vợ con mà đánh chửi nhau với cái đài (radio), ông mang cái đài Philips (lúc đó giá trị mua cả được một căn nhà) ra trước cửa nhà đập tan, vừa khóc vừa chửi: “Đ.m mày, chỉ vì mày mà bố khổ. Đ.m mày, chỉ vì mày mà gia đình ông tan nát!”.

Không lâu sau vụ đó thì gia đình anh chuyển đi không còn ở phố tôi nữa. Tôi có nghe mẹ tôi kể lại, khi họp ở khu phố người ta nói: Lão Triển là gián điệp của địch cài về nước để phá hoại!

Tôi hỏi: Sau ngày đó gia đình anh chuyển đi đâu?

Anh nói, chuyện dài lắm, mới đầu gia đình tôi chuyển về ga Bắc Giang nơi bố tôi được phân về làm gác ghi, gia đình bác Triển thì về nông trường Mộc Châu. Được vài năm bố tôi bị tai nạn nghỉ việc, cả nhà gần chục miệng ăn mà chả có thu nhập gì, có tí của mang về thì cũng đã bán sạch. May mà có người quen trước làm cùng với bố tôi cho mượn mảnh đất gần ga Gia Lâm, thế là làm tạm cái chòi để có chỗ chui ra chui vào, mở quán nước cho mẹ tôi và chị Nga, cái Hằng bán, bố tôi và tôi thì chữa xe đạp. Anh Hùng học xong phổ thông thì đi bộ đội, về xin được chân bốc xếp ở ga Hàng Cỏ, cũng may không chả biết lấy gì mà sống! Gia đình bác Triển còn cơ cực hơn nhiều, con cái có cái tiếng bố phản động nên chả được học hành gì. Mà anh biết không, bác ấy vừa là trưởng đoàn vừa là người đầu tiên nghe theo Đảng hồi hương đấy.
   
  Cặp mắt buồn ngước lên, ánh nhìn ngơ ngác, nhấp ngụm cafe anh nói tiếp: Mãi cuối những năm 80, người Việt ở Vanuatu yêu cầu dữ quá, cùng những điều trần của các tổ chức quốc tế, chính phủ Cộng hòa Vanuatu đã đồng ý cho tất cả những gia đình hồi hương về Việt nam được quay trở lại Vanuatu, thế là chúng tôi lại khăn gói trở về.

Bác Triển và ông cụ anh giờ ra sao?

Bác Triển và bố tôi mất cả rồi, bác Triển mất trước bố tôi vài năm. Chỉ thương cho ông cụ nhà tôi, khi nhận được giấy báo cho phép trở về Vanuatu khoảng một tuần thì mất. Nhưng thấy cụ còn yêu Tân Đảo lắm, cụ nói, khi cụ chết thì thiêu rồi đem theo tro cốt của cụ về bên này. Thoáng nghĩ, đến vậy ư? Thế thì đây mới là hồi hương? Buồn thật.

Còn anh Hùng?

Anh Hùng mới mất năm kia. Được ba đứa, thằng đầu giờ làm giám đốc nhà in, con thứ hai làm nghề dạy học, thằng thứ ba đang theo học và làm luận án tiến sĩ về xã hội Việt nam thế kỷ hai mươi, ở trường New South Wales - Sydney đây.

Lại nghĩ, thôi thế là  phúc đức ông bà để lại lớn quá rồi. Còn ở lại Việt nam mấy đứa không mắc nghiện hút thì cũng bổ sung vào đội quân cửu vạn ở ga Hàng Cỏ như bố nó!

Định hỏi tiếp, Hải bây giờ ra sao? Nhưng thấy cái cười hiền trên khuôn mặt nhàu nhĩ, cặp mắt buồn với ánh nhìn ngơ ngác của anh, mình nghĩ không nên hỏi thêm nữa./.


                                                Sydney – Vũng Tàu
Read More..

21 thg 12, 2014

LỜI ĐIẾU TRONG LỄ TANG NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN CỦA DỊCH GIẢ DƯƠNG TƯỜNG

ĐBT: Mặc dù biết được bệnh tật của ông, nhưng mình không ngờ lần gặp ông vào tháng 5/2014 tại Vũng Tàu lại là lần cuối cùng. Cầu mong ông thanh thản, bình yên nơi cõi Phật.  


Dương Tường


                                                                                              Thưa…


Tôi được tang quyến tin cậy uỷ thác cho trọng trách đọc lời điếu trong lễ tang này.

Hôm nay, chúng ta tiễn đưa một con người mà sự ra đi không chỉ là một mất mát không gì bù đắp nổi đối với gia đình, người thân và bạn bè, mà còn để lại một trống vắng mênh mông trong địa lý văn học nước nhà. Người mà chúng ta vĩnh biệt hôm nay là công dân Bùi Ngọc Tấn, một người con đáng tự hào của Hải  





Cùng vợ chồng nhà văn Bùi Ngọc Tấn
   và dịch giả Dương Tường (6/2014)

Phòng, hội viên danh dự hội Văn Bút quốc tế, từng đoạt 2 giải Văn chương quốc tế có uy tín.Với tư cách là con người, Bùi Ngọc Tấn đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho cách mạng, mặt khác, cay nghiệt thay, đã trải mọi trầm luân của kiếp nhân sinh, đã uống đến tận cặn ly đắng cuộc đời, đã kiên cường vác cây thập giá của mình chứ không kéo lê nó. Với tư cách là kẻ sĩ, Bùi Ngọc Tấn đã dùng ngòi bút thiên tài, trung thực và từ tâm của mình đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm để đời, những trang viết làm lay động hàng triệu trái tim độc giả, xứng đáng được xếp vào hàng những tác giả lớn mà cả một thế kỷ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
   
Vâng, Hải Phòng có người con như thế đó.

Hải Phòng từ nay vắng đi một trong những niềm tự hào của mình, mặc dầu nhiều người chưa hiểu điều đó. Lịch sử công minh, sớm muộn, sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử.

Hôm nay, đi sau linh cữu Bùi Ngọc Tấn, tôi tin rằng cùng với chúng ta bằng xương bằng thịt, còn có cả một dòng sông vô hình hàng triệu độc giả trong và ngoài nước tiễn biệt nhà văn yêu thương. Và rồi đây, ở nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà văn, những ngày tới, những tháng tới, những năm tới, sẽ còn những người từ xa tới đặt hoa tưởng niệm, như khách bốn phương khi đến Paris vẫn thường tìm đến nghĩa trang Père-Lachaise đặt một bông hồng lên mộ Hugo, Balzac hay Flaubert…
Read More..

3 thg 12, 2014

TÀO LAO TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG (Bài 4)

Đinh Bá Tuấn

Những người hát xẩm

Những năm của thập kỷ sáu mươi và đầu bảy mươi thế kỷ trước, ở các bến xe, ga tàu miền Bắc thường có những nhóm xẩm. Gọi là xẩm nhưng ngoài hát xẩm họ còn hát  ca trù, hát tuồng... Mỗi nhóm thường có ba người, người đàn ông kéo nhị, đàn bà gõ phách, đứa trẻ có nhiệm vụ xin tiền. Nhị và bộ gõ là thứ không thể thiếu khi hát xẩm. Hát thì tùy theo giờ tàu đến và số người đứng xem. Nếu khách ít, gần đến giờ tàu chỉ hát trích đoạn, nếu khách đông lại chưa tới giờ tàu đến thì hát diễn cả bài. Cứ hát hết một đoạn, đứa trẻ cầm nón đi một vòng ai cho tiền thì để vào đó. Trong suy nghĩ của mọi người thời ấy thì người hát xẩm và người ăn mày cũng như nhau.

Họ không được vinh danh là nghệ nhân xẩm như thời nay.

Nhà mình gần ga tàu, nghe xẩm riết rồi cũng thành nghiện xẩm như trẻ con bây giờ nghiện game. Xẩm thì có xẩm béo, xẩm gầy, xẩm Bắc Ninh, xẩm Thái Bình… gọi thế để tiện phân biệt các nhóm xẩm với nhau.

Mình thích nhất là Xẩm béo. Xẩm béo người béo tròn, mắt sáng chả mù lòa gì, thường chỉ hát diễn một mình, vừa nhị, vừa gõ, cái mẹt để cạnh, ai cho tiền thì để vào đó chả một lời xin. Xẩm béo có giọng trời phú, khi Xẩm béo hát những bài như xẩm Trương Chi hay xẩm anh Khóa thì thôi rồi, khách nghe cứ ngây ra, còn khi hát diễn Phạm Công-Cúc Hoa thì như có hàng chục người cùng diễn. Lớp lang, đủ giọng gái trai, người già, con trẻ, sống động vô cùng. 

Xẩm béo theo như lời đồn, trước kia là diễn viên ở một đoàn văn công miền ngược (các tỉnh vùng Tây bắc), giỏi lắm, hát hay lắm, lại đào hoa. Vợ sắp cưới của tay trưởng đoàn văn công chết mê mệt vì Xẩm béo. Chuyện vỡ ra, Xẩm béo bị kỷ luật đuổi khỏi đoàn văn công nên bây giờ về đây hát xẩm. Xẩm béo sống rộng rãi, phóng khoáng, hôm nào được khấm khá một chút, lúc kiểm tiền Xẩm béo cho hết lũ trẻ con phố mình đang vây quanh những đồng 2 xu và 5 xu (năm xu thời đó mua được một que kem). Xẩm béo lại có tài kể chuyện nữa, những khi trời mưa vắng khách, tụi trẻ con phố mình xúm vào góc nhà ga để nghe Xẩm béo kể chuyện Nghìn lẻ một đêm với những Alibaba và 40 tên cướp, Các chuyến đi biển của Sindbad, Aladin và cây đèn thần... cả một thế giới mênh mông huyền bí làm tụi trẻ con phố mình mê mẩn. Tụi trẻ phố mình vì thế quý và khoái Xẩm béo lắm.

Sau năm 1975 không thấy nhóm xẩm nào xuất hiện ở bến xe, ga tàu nữa. Có lẽ dòng nhạc mới với các thiết bị âm thanh hiện đại từ miền Nam tràn ra Bắc nên khách không còn thích nghe xẩm nữa. Hơn nữa cả nước đã thống nhất tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội rồi chủ nghĩa cộng sản, của cải tuôn như núi trào, đời sống nhân dân no ấm, hạnh phúc dư thừa nên các xẩm tự giác ngộ không làm cái nghề mà xã hội coi như ăn mày này nữa!

Rồi mình phiêu bạt dọc miền đất nước. Lúc ở miền Trung, khi ở miền Nam lăn lộn với những mưu sinh, nhưng hình ảnh của những Xẩm béo, Xẩm gầy cứ ám ảnh mình. Có những lần ghé xem nhóm “Sơn lâm mãi võ” biểu diễn quảng cáo để bán thuốc cho đỡ nhớ, nhưng chả có cảm xúc gì, ánh lên chỉ là những hình ảnh bạo lực.

Tưởng rằng những dạng như: Xẩm béo, Xẩm gầy, Xẩm Bắc Ninh, Xẩm Thái Bình… mãi mãi chỉ là quá khứ và không còn tồn tại trên trái đất này.

Nhưng rồi như người ta nói: Đời chả biết đâu mà lần. Như số mệnh, mình lại được gặp người hát xẩm bằng xương, bằng thịt bằng giọng xẩm đúng điệu năm xưa, cũng ngồi hát xẩm để mưu sinh, mà lại gặp tít bên kia bán cầu giữa một nước Mỹ văn minh và tự do.

Sáng hôm ở New York tụi mình đi thăm tượng Nữ thần tự do. Bến tàu thủy chở khách đi thăm nằm ngay cạnh công viên. Khi mới bước vào công viên có anh chàng hát dạo người Mexico, thấy khách Việt, chàng vừa tung đàn vừa lắc mông, hát tiếng Việt lơ lớ: Em ời, sau mươi nam cuoc đơi, hai mươi nam đau sung suong khong bao lau… cả đoàn cười ồ vui vẻ. Đi tiếp xuống bến tàu, trên thảm cỏ ngay cạnh bến một người đàn ông Việt mập tròn tay kéo nhị, chân gõ đệm, hát đúng giọng xẩm chuẩn: Anh khóa ơi! em tiễn chân anh ra tận bến tàu, hai tay em đỡ lấy khăn ư diều. Thiếp tiễn chân anh ư ư ... Anh khóa ơi! tay em cầm dầu giọt lệ chảy cùng tú oanh ư ư …

Thật không ngờ! 

Bất giác mình kêu: Xẩm béo.

Giật mình, gần nửa thế kỷ rồi, nếu Xẩm béo còn sống thì bây giờ ông cũng đã qua cái tuổi "xưa nay hiếm" từ lâu.

Cả đoàn lại ồn ào kéo đi, mình cũng đi theo dòng người ồn ào ấy, miệng cười cười mà sao hai mắt cứ cay xè./.
Read More..

20 thg 10, 2014

HỌC VĂN ĐỂ LÀM GÌ?

Nguyễn Vạn Phú 

Phải công nhận Bộ Giáo dục & Đào tạo rất tài tình; chỉ bằng một động tác thay đổi cách tuyển sinh đại học là bộ này bắt cả xã hội phải thao thức với câu hỏi muôn đời: Học văn để làm gì?

Với ngành y tế thì câu trả lời dường như có sẵn: Dùng môn văn xét tuyển ngành y?

Lý do được người đứng đầu ngành y tế lý giải rất gọn: “Tôi phải nói thật là môn văn rất cần. Trong quá trình làm việc, nhiều người viết báo cáo mà ngữ pháp sai rất nhiều, chưa nói đến lỗi chính tả. Viết sai thì tư duy cũng sai, nói cũng không tốt được” (Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến).
Bà Tiến nói quá chính xác và đó cũng có thể là lý do để hàng ngàn ngành nghề khác đòi hỏi người dự tuyển cần giỏi văn bởi không chỉ riêng bác sĩ, y tá cần viết đúng ngữ pháp, không sai lỗi chính tả mà hàng ngàn ngành nghề khác cũng cần.

Nói đâu xa, ngay cả Mark Zuckerberg mà có quyền ở Việt Nam, ắt anh ta sẽ yêu cầu người nào muốn tham gia cái mạng Facebook do anh điều hành phải viết sạch nước cản, diễn đạt rõ ràng, không viết lung tung như gã ngọng. Nói cho cùng anh chàng Mark này đang làm tờ báo khổng lồ trong đó mọi người dùng là kẻ viết bài liên tục cho anh ta, còn nhân viên của Facebook chỉ việc lo bán quảng cáo kiếm tiền. Viết bài cho Mark mà sai ngữ pháp, sai chính tả, ai mà chịu.

Nhưng, khoan đã! Những kỹ năng nói ở trên là kỹ năng ngôn ngữ, tức là môn tiếng Việt chứ đâu phải môn Văn?

Môn Văn nó phức tạp hơn nhiều. Ví dụ nhà văn  William Faulkner nổi tiếng (Giải Nobel Văn chương năm  1949) chuyên viết những câu văn đọc muốn bể cái đầu, dài như cọng rau muống, câu dài nhất ông này từng viết trong cuốn Absalom, Absalom! dài đến 1.288 chữ. Thế mà khi lên nhận giải Nobel ông nói như thế này về sứ mệnh nhà văn và qua đó gián tiếp nói về vai trò của văn học: “Tiếng nói của nhà thơ không chỉ để ghi lại câu chuyện con người, nó còn là cột chống, trụ đỡ để giúp con người trụ lại và vượt qua”.

Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi nhiều người đồng tình là cần dùng môn văn để tuyển bác sĩ tương lai, không phải vì chuyện chính tả mà cao sang hơn, là mong muốn người bác sĩ giỏi văn sẽ không chơi ép bệnh nhân, kê thuốc không vì chữa bệnh mà vì tỷ lệ hoa hồng. Mong muốn của họ là văn sẽ giúp hình thành nhân cách con người, kể cả lòng tự trọng, nói chung là cái người ta thường gọi là y đức.

Nhưng, hượm đã! Cái đó là chuyện đạo đức, hiện được giao cho các môn như giáo dục công dân chứ đâu phải môn văn? Còn nếu môn giáo dục công dân đi dạy các chuyện xa vời như “phủ định siêu hình”, “phủ định biện chứng”… đó là chuyện của môn này, không bàn ở đây.

Nhà phê bình Dana Stevens viết trên tờ New York Times để lý giải người ta cần văn chương làm gì. Cô viết: “Văn chương là kẻ sinh đôi thất lạc từ lâu của cuộc đời, là kẻ đóng thế xấu xa, là tấm lót mượt như nhung, là hồn ma than khóc của cuộc đời”. Ý cô muốn nói văn chương ghi lại tất cả những gì còn lại từ cuộc đối thoại của mọi nhân chứng cuộc đời, giữa những người đang còn sống và mọi kẻ quá vãng về đam mê, thương yêu, thù hận, giận dữ, nỗi buồn, niềm vui… Còn có ai dạy cho ta biết về những điều đó ngoài văn chương. 

Chính ở đây mà chúng ta mới hiểu vì sao những nhà khoa học, những nhà toán học, kể cả những bác sĩ tài ba, hầu như tất cả đều đam mê văn chương, rành rẽ về văn chương – và chính ở đây mới tồn tại niềm hy vọng những người bác sĩ tương lai, nếu từng học được lòng trắc ẩn, sự cảm thông, lòng tự trọng, sự phù du của đồng tiền mới tự miễn dịch chống lại mọi lề thói xấu xa đang bao bọc lấy anh ta. 

Điều đáng buồn, môn Văn ở nhà trường hiện nay chưa làm được ngay cả mức độ thấp là trao cho người học kỹ năng ngôn ngữ để đọc thông viết thạo tiếng mẹ đẻ. Ở mức độ rung lên từng sợi dây cảm xúc của học trò để những cái như lòng cam đảm, đam mê, hoài bão, nói chung là mọi xúc cảm cần thiết để làm người trọn vẹn thì môn Văn đang bế tắc, đang giết lần giết mòn những rung cảm còn sót lại ở học sinh vì sự khô cứng, khuôn mẫu và gò ép. 

Vậy, phải chăng đừng hỏi “Học văn để làm gì?” – hãy hỏi “Học văn thế nào”, mới chính là câu hỏi đúng.
Read More..

18 thg 10, 2014

TÀO LAO TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG (Bài 3)

Đinh Bá Tuấn

Một ngày sát gái!

Đến Nam Phi lần này là dự hội nghị về bất động sản, nhưng mục đích chính là đi xem bóng đá trận bán kết World Cup. Vé bạn đã mua sẵn từ năm trước, giá vé chính thức là 600 USD, nhưng trước trận đấu một ngày xem trên mạng vé chợ đen lên đến trên 5000 USD. Thực lòng với dạng tay chơi nửa mùa như mình con số trên cũng có sức quyến rũ. Thoáng nghĩ… giá như… xem tivi cũng tốt! Nhưng mà vé của bạn đãi, bạn lại cùng đi xem với mình, thế là không nghĩ vớ vẩn được, tay chơi nửa mùa lại trở về phong thái hiên ngang vốn sẵn dáng người.

Ngày diễn ra trận đấu, buổi sáng dậy mình thấy cả khu Resort nhốn nháo, tưởng có chuyện gì, nhìn ra thì thấy chiếc Limousine đến đón tụi mình. Thằng lái xe mặc vét đen, kính đen, giày đen bóng lộn, mặt ngầu như mật vụ Mỹ. Các em phục vụ ở Resort ào ra bên xe chụp ảnh. Ở Mỹ loại xe này đỗ đầy trước các khách sạn nhưng ở Nam Phi đây là của độc, bước lên xe này chỉ có các đại gia và tay chơi thượng hạng. Thoáng cái thấy mình cứ như bước sang đẳng cấp khác. Có em Reception xinh như mộng, mấy lần mình ỡm ờ thả lời ong bướm nhưng chả ăn thua gì. Em cứ ngây ra, chả rõ em giả vờ không muốn bắt chuyện hay là tiếng Anh của mình chuẩn quá em nghe không được! Thấy em lấp ló ở cửa nhìn ra, chớp ngay cơ hội mình mời chụp ảnh chung. Không những chả từ chối, em còn cười tươi như hoa, ghé sát vào mình, mùi nước hoa bây giờ nghĩ lại vẫn còn thơm! Lại ân cần: anh phải mang thêm áo nhé, đêm về lạnh lắm, vừa nói vừa kéo khóa áo của mình lên, môi suýt chạm nhau. Sướng rêm!

Các “đại gia” bước lên xe, thằng thì áo gió, thằng thì áo mút, lôm nhôm, luộm thuộm, lộ ngay chân tướng của giai cấp  cần lao tập tành ăn chơi.
  
Nói về sân vận động, đúng là tụi tư bản giãy chết, chúng nghĩ sắp tới ngày tận thế nên làm cái gì cũng mang tính hưởng thụ cao. Trước trận đấu nửa giờ  khán đài trên sân vắng ngắt, mình cũng ngồi nhâm nhi café ở dưới sảnh chờ. Chỉ vài phút, sau khi hai đội ra sân khởi động khán đài trên sân đã kín mít, mà chả phải chen chúc gì. Nhớ lại những ngày xưa xem bóng đá ở sân Hải Dương, trời nắng đổ lửa, sân vận động như cái chảo rang, vậy mà đá lúc ba giờ chiều thì  một giờ đã phải vào ngồi, vạn người trên sân mà có mỗi nhà xí bé tẹo, có buồn tiểu cũng chả dám đi.

Trận bán kết mà mình xem là giữa Hà Lan và Urugoay, tụi mình ngồi ngay khu của cổ động viên Hà Lan. Chả biết hôm ấy là ngày gì mà đi đâu cũng có gái ở bên. Ngồi hàng trước tụi mình là mấy em sồn sồn cả Âu cả Á, hò hét  dữ, thi thoảng quay lại đập loạn xạ, xong lại sorry, sorry. Khi thằng Robben ghi bàn vào lưới đội Urugoay mình cũng đứng lên hét mừng, chả rõ vô tình hay cố ý một em quay lại đập thẳng vào thằng chim của mình. Em sorry, sorry, còn mình thì đau điếng. 

Nửa đêm mới về tới nơi nghỉ, trời lạnh gần 0 độ C, đi qua quầy tiếp tân thấy em đẹp như mộng vẫn đứng đó. Mình hỏi, trực thông à? Em nói phải chờ tụi mình về xong mới bàn giao. Lại cặn kẽ, nói sếp giao hay ý em vậy. Em cười: cả hai. Cảm động quá, nghĩ cũng như ở Việt nam thôi, mình rút ví lấy tờ 50USD đưa cho em, nói cầm để mai uống café. Thấy em  sua tay, không được, không được, mình cứ để đấy rồi về phòng nghỉ.

Ở lại Nam Phi thêm một ngày nữa, nhưng cũng đi chơi suốt và không gặp lại được em. Sáng hôm trả phòng ra sân bay qua quầy tiếp tân trả chìa khóa. Trực tiếp tân là cậu thanh niên da đen, đưa cho mình phong thư nói, cô Kitty gửi ông.

Thư (mình tạm dịch): Mr TUAN thân!  Em có việc gia đình không đến tiễn các anh được. Chúc anh và cả đoàn thượng lộ bình an. Tạm biệt anh. (Kitty) 
Cuối thư là ba chữ tiếng Việt không dấu: HEN GAP LAI.

Cả tờ 50 đô nữa!

Lá thư ấy và tờ 50 đô mình vẫn giữ như giữ một kỷ niệm đẹp./.


Read More..

22 thg 9, 2014

TÀO LAO TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG (Bài 2)

Đinh Bá Tuấn

 Bài học ở Cape Town

Đến Cape Town (Nam Phi), bữa ăn đầu tiên là ở nhà hàng Sài gòn. Nhà hàng nằm ở đường gì mình cũng chả nhớ tên. Chỉ nhớ đường nhỏ, dốc và ít cây, nhìn thẳng ra Núi Bàn. Gần cuối đường có hai nhà hàng, một bên là nhà hàng Việt mang tên Sài gòn, một bên là nhà hàng Thái. Chữ Thái loằng ngoằng nên không rõ tên nhà hàng là gì. Khi xe đỗ trước nhà hàng Sài gòn các bạn Thái mới nói: Hôm nay ăn món Việt, Tuấn nhé? Đến nước này thì cười mà Ok thôi. Sự chu đáo của các bạn Thái thì mình đã rõ, nhưng xử tế nhị như thế này làm mình phải nghĩ quá. Với tỷ lệ áp đảo (4Thái, 2Việt), mà lại hai thằng Việt ất ơ, chả phải quan chức cần cầu cạnh gì, bạn “nhường”  quá mình cũng ngại.

Sự đoàng hoàng, tự tin và tế nhị trong giao tiếp của các bạn làm mình bật ra sự so sánh. Liệu có mấy quan chức Việt có đủ độ tự tin, tinh tế thế này? Mình cũng đã đi cùng với nhiều loại quan chức, nhiều cấp quan chức Việt, đi trong nước cũng có, đi ngoài nước cũng có, nhưng thật lòng mà nói: Chán lắm. Ông thì tự ti rúm ró, ông thì ba hoa kệch cỡm. Lại có ông “kiêu” đến nỗi, nghĩ ta đây đang ở trung tâm tinh hoa thời đại, sang ban phát tinh hoa ấy cho bọn tư bản giãy chết. Ăn bún bò ở Las Vegas mà ông đòi nhà hàng phải tìm cho ông mắm tôm, hoa chuối thái. Nhà hàng nói không có, ông oang oang, văng nước miếng sang mấy bàn bên cạnh, thế này thì ở Mỹ làm đéo gì? (Vậy mà, vì thể hiện được “lập trường” sau chuyến đi ấy ông từ phó sở lên trưởng sở đấy). Nghĩ ngay cái vụ này thôi, nếu anh ba, anh tư nhà mình mà trưởng đoàn, sau mấy ngày vạ vật toàn cơm tàu, cơm tây, nay đứng trước  một bên là nhà hàng Thái, một bên là nhà hàng Việt, trong đầu nghĩ ngay đến lẩu mắm, phở bò, chắc quên cha thằng ngồi bên cạnh là người nước nào!!!?

Chủ nhà hàng Sài gòn, tên Mỹ quê ở dưới miệt Cần Thơ. Theo như Mỹ nói, cả Cape Town chỉ có nhà hàng của em là nhà hàng Việt duy nhất. Các anh chị trong sứ quán, các du học sinh Việt nam thường ra đây ăn uống, họp mặt. Mình hỏi: Mỹ qua đây được lâu chưa? Dạ, em mới qua được mấy năm, trước em ở Đức. Mình lại hỏi: Mở nhà hàng to như thế này, vốn lớn nhỉ? Dạ, em chỉ có một nửa còn một nửa của bạn người Đức kia. Vừa nói, Mỹ vừa chỉ một anh tây cao lớn đang dọn tô chén bàn bên cạnh. Chả ai vô duyên như mình, tự nhiên bật ra, chả ra câu hỏi, chả ra câu cảm thán: Ủa, chung vốn với cả người Đức à!!!? Thoáng thấy Mỹ hơi sững lại, nhưng vẫn nhẹ nhàng: Có sao đâu anh.

Lúc về nghĩ lại, mình tưởng như tự nhiên thốt ra những câu đó, nhưng thật ra đó là những ý nghĩ tự ti, sợ cái lạ, sợ những gì nằm ngoài những thứ được định sẵn, những cái đó nó lẩn vào máu mình, ngầm chảy trong huyết mạch của mình và khi có cơ hội là tự bật ra mà thôi.  Xét theo nghĩa ấy mình cũng chẳng thoát ra được những vớ vẩn, nhỏ như con thỏ của tư tưởng Việt./.



Read More..

Văn hóa "Giả Vờ" ở Việt Nam

Nhan Chinh
 
Sống trong một đất nước lúc nào cũng lo sợ bị "Ăn Cắp" và phải cố tập cho mình tính "Giả Vờ"... thật là "Đau Đầu", "Nhức Óc" !!. Bài viết phiếm luận nầy rất hay vì nói lên đầy đủ những tệ trạng của một xã hội KHÔNG CÒN NHÂN TÍNH CON NGƯỜI.

Tôi không bênh vực những Tiếp viên Hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN, nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cắp để gỡ vốn chứ ! Mà tôi thực sự thương hại họ, vì " Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua !"
Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện "ăn cắp": Bác sĩ, Y tá "ăn cắp" phong bì của bệnh nhân, "ăn cắp" thuốc tiêm chủng ngừa bằng cách chia phân lượng thuốc tiêm ra nhiều phần, không đủ tiêu chuẩn, "ăn cắp" thủy tinh thể nhân tạo của Mỹ, rồi thay thế bằng sản phẩm Ấn Độ để "ăn cắp" giá tiền sai biệt.
Khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học "ăn cắp": Giáo sư "ăn cắp" công trình trí tuệ của người khác, học sinh, Sinh viên "ăn cắp" bảng điểm, "ăn cắp" bằng cấp dỏm bằng phong bì.
Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị Lãnh đạo "ăn cắp" tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quỹ đạo ăn cắp, họ ăn cắp dự án, ...
Vì vậy , khi tôi nhìn thấy những cô Ca sĩ, Hoa hậu, Người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe "khủng", nhà "khủng", tôi thương hại họ quá, họ cũng bị "ăn cắp" trinh tiết, bị "ăn cắp" phẩm giá, anh ạ ! Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.

Khi về Việt Nam, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lộ. Tôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình . Những người công an trẻ đó cũng bị "ăn cắp" lương tâm, phải không anh?. Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt.
Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là "Bút Máu" đấy anh ơi !
Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công lý có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị "ăn cắp" nhân tính mất rồi !
Trong xã hội, toàn là "ăn cắp", vậy thì kẻ cắp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, Vì Văn hóa "giả vờ" là đồng lõa cho xã hội ăn cắp.
Công chúa mặc áo đầm hồng, ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng, đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn Chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ Công chúa là một Chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm gì cả . Y như tên nhóc Bắc Hàn mặt búng ra sửa Ủn Ỉn, và đoàn tùy tùng Tướng già của thằng con nít đó vậy ...
Toàn đảng đều "giả vờ" tin rằng các Hoàng tử, Công chúa đều là thiên tài không đợi tuổi, mặt trẻ ranh mà nhảy lên ngồi trên đầu các nhà cách mạng lão thành, và ai nấy đều "giả vờ" tán tụng khen thơm như múi mít !. Thượng bất chính, hạ tắc loạn:
  
Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người Việt Nam như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi. Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể "ăn cắp" lương tâm, phẩm giá, và nhân tính của tôi. Tôi được sống như một "CON NGƯỜI" không phải chỉ "giả vờ " "làm người" đang sống đâu .....
Read More..

20 thg 9, 2014

TÀO LAO TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG (Bài 1)


Đinh Bá Tuấn

Việt nam, fằng, fằng, fằng…

Lúc làm thủ tục nhập cảnh ở sân bay Cape Town (Nam Phi), anh chàng hải quan ở sân bay cứ cầm hộ chiếu của mình nâng lên rồi đặt xuống. Gần trọn một ngày, sau mấy chặng bay, rồi chờ đợi. Mệt lử. Sốt ruột, mình hỏi có vấn đề gì không? Lúc này anh chàng mới hỏi lại mình: Việt nam ở đâu nhỉ? Mình nghĩ, thằng này đùa hay không chịu học lịch sử, địa lý nên dốt thật. Anh bạn Thái đứng sau mau miệng: Việt nam ở gần Thái Lan đó. Chàng hải quan như sực tỉnh: À, Viet nam – American, fằng, fằng, fằng. Viet nam, fằng, fằng, fằng…  rồi nheo mắt cười.Ok!

Tưởng rằng, thường thì lúc nhập cảnh nó làm khó mình một chút thôi, chứ lúc xuất cảnh thì dễ. Vậy mà lúc làm thủ tục xuất cảnh, thím hải quan cũng lại cầm hộ chiếu của mình nâng lên rồi đặt xuống. Mình lờ đi, kệ mày. Lát sau thím mới hỏi:
-         Mày đi nước nào?
-         Tao về Việt nam.
-         Ở Việt nam mày là quan chức à?
-       Không, tao là thường dân (định đùa, tao là thường dân phân loại nhưng lại thôi).
-    Thím nhìn mình từ đầu đến chân như thể mình người của hành tinh khác. Chắc thím nghi ngờ: Đúng vậy không đó?  Thường dân mà cũng quay về à!

Mình nghĩ, sao hải quan nước này nó dốt đến thế! Các chú, các thím không biết nước các anh đánh thắng mấy đế quốc to đấy à? Là lương tri của thời đại đấy à? Không biết cái tổ chức Maxco xếp nước các anh là nước hạnh phúc nhất thế giới đó sao? Chú, thím cứ nghe tuyên truyền của bọn phản động, rằng Việt nam chẳng biết làm ăn mẹ gì, chỉ biết cắn xé lẫn nhau…rồi ghi ngờ tụi anh, làm mất mặt tụi anh quá!


Bây giờ ngồi viết lại, vẫn thấy cái nheo mắt đầy ẩn ý của chàng hải quan lúc nhập cảnh cùng động tác Việt nam, fằng, fằng, fằng…và cái nhìn rướn lên đầy ngạc nhiên của thím hải quan như thể mình là người của hành tinh khác, khi mình nói: Tao về Việt nam. /.
Read More..

4 thg 5, 2014

Về trí thức Việt.

 Nhà văn Phạm Thị Hoài
ĐBT: Nhà văn Phạm Thị Hoài hiện đang sống ở Đức, bài nói chuyện này  của chị tại buổi tọa đàm ở  Berlin. Theo mình đây là bài hay.
 
Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây rất đơn giản, xin những vị có ý chờ đợi ở một nhà văn những tư tưởng cao siêu, phức tạp thể tất cho. Tất nhiên là mọi vấn đề của hiện thực Việt Nam đều rất phức tạp. Nhưng tôi nghĩ rằng, cái cách dễ dàng nhất, láu lỉnh nhất để khỏi phải đối mặt với cái hiện thực này chính là làm cho nó phức tạp hơn bản thân nó. Mà văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam có một căn bệnh trầm kha là, khi sự vật dường như không thể giải quyết nổi theo các tiêu chí của nho sĩ, hiệp sĩ hay chiến sĩ thì nó lập tức được nhìn theo nhãn quang của phương sĩ, hay đạo sĩ. Ðấy là một thứ nhãn quan tất nhiên rất thú vị và vô cùng phức tạp, thú vị và phức tạp tới mức cho phép người ta có thể mải mê trong chính nó, và bản thân hiện thực chỉ còn là cái cớ rất phụ mà thôi. Nhưng chúng ta sẽ trở lại cái hiện thực này ở một đoạn sau. Bây giờ tôi chỉ xin nói trước là, trong buổi hôm nay chúng ta sẽ cố gắng giản dị và sáng tỏ trong suy nghĩ của mình.

Xuất phát điểm của vấn đề mà tôi muốn đặt ra cũng rất giản dị

Sau ít nhất là hai ngàn năm có một cộng đồng Việt, một dân tộc Việt, một văn hoá Việt, một quốc gia Việt, và sau ít nhất là hai trăm năm có một lãnh thổ Việt như ngày nay, chúng ta vẫn là một nước nghèo và lạc hậu vào hạng nhất thế giới. Nhưng vấn đề không phải chỉ ở chỗ nghèo và lạc hậu. Nếu chỉ như vậy thì tôi còn chưa thấy có gì đáng sợ lắm.

Vấn đề một là ở chỗ: chưa bao giờ chúng ta không như thế. Từ khi tôi sinh ra đã như vậy. Từ khi cha mẹ, ông bà tôi sinh ra đã như vậy. Từ khi các cụ tôi sinh ra cũng như vậy. Khi các kỵ tôi sinh ra thì thế giới lúc đó chỉ là Trung Hoa và Ấn Ðộ, nhưng bảng xếp hạng thì vẫn thế, không có gì thay đổi. Nước Hy Lạp chẳng hạn là một nước hiện nay đang nghèo nhất cộng đồng Châu Âu, nhưng không phải bao giờ cũng thế. Nước Nga cũng đang vô cùng bê bối, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chỉ có nước Việt là chưa bao giờ không như thế mà thôi. Tôi thậm chí không dám nghĩ tiếp rằng, khi cháu tôi, hoặc chắt tôi sinh ra, chúng ta vẫn không thoát được cái kiếp đội sổ như vậy. Sở dĩ tôi phải nói hơi dài về vấn đề này, vì nó là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành tính cách và tư cách của người Việt nói chung và người trí thức Việt nói riêng. Ta hãy hình dung, nếu một anh học trò trong suốt cuộc đời đi học của mình không bao giờ không đứng cuối lớp, như một cái dớp không thay đổi, thì đến một lúc nào đó ý chí phấn đấu của anh ta, nếu anh ta có một ý chí, cũng phải tiêu tan.

Hai là, nếu câu chuyện chỉ dừng ở chỗ chúng ta là một nước nghèo và lạc hậu mà thôi thì tất nhiên vẫn là một câu chuyện buồn, nhưng chưa đến nỗi bi đát và vô vọng. Bởi lẽ – chỗ này tôi cũng phải nói thẳng, vì chúng ta đang sống ở một nước không nghèo và không lạc hậu tí nào là nước Ðức – có thể nói rằng sự giàu có và văn minh tiến bộ cũng đẻ ra những nỗi buồn rất đặc trưng của nó, cũng đẻ ra sự bi đát của nó, chứ không phải chỉ riêng nghèo và lạc hậu mới buồn và bi đát. Ta vẫn thường xuyên thấy những công dân của cái thế giới văn minh và giầu có này tìm cách giải toả những nỗi buồn của họ, giải toả những bi kịch của sự thừa thãi vật chất cũng như của sự tiến bộ với tốc độ rất nhanh chóng của cái xã hội hiện đại của họ bằng cách tìm về những xã hội còn mông muội, còn bán khai, còn nghèo khó, và coi đó là một câu trả lời nhất định, một alternative. Tất nhiên chúng ta có thể mỉm cười và coi đó là một thứ lãng mạn, một căn bệnh quí phái, nhưng không thể bác bỏ nó được. Chỉ có điều, hiện thực Việt Nam thậm chí không phải là chỗ thích hợp để cái thế giới thứ nhất đó chữa chạy những cái căn bệnh quí phái của mình. Bởi vì ngoài cái nghèo và lạc hậu, thì đến đầu thế kỷ 21 này xã hội Việt Nam còn là chỗ hội tụ của những dịch bệnh dường như vô phương cứu chữa khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm, tôi đặt tên khái niệm đó là sự bất an. Với một nhà văn thì đương nhiên sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối quan tâm chính. Theo cách nhìn của tôi, thì sức mạnh của một xã hội là khả năng đem lại cho các thành viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất định. Người ta có thể nghèo, nhưng nếu người ta có được một cảm giác an toàn nhất định, điều đó quan trọng hơn. Nếu không có cảm giác ấy thì người ta chỉ có thể miễn cưỡng sống tạm cuộc đời của mình và đương nhiên không có một động cơ nào đủ mạnh để sống tiếp cuộc đời của những thế hệ trước, sống trước cuộc đời của những thế hệ sau và sống chung cuộc đời của những kẻ cùng thời. Nói như thế thì xã hội Việt Nam là một tập hợp tạm bợ, rời rạc và hoàn toàn không hữu cơ của những cá nhân hoang mang và bất ổn.

Về xuất phát điểm là như vậy, vấn đề đặt ra là trong cái số phận dường như là vĩnh viễn hẩm hiu đó của dân tộc ta thì người trí thức tham dự như thế nào ? Nói một cách khoa trương và có lẽ tương đối sáo thì người trí thức Việt Nam chịu trách nhiệm gì về cái số phận chung ấy của cả một dân tộc ? Cho đến nay, chúng ta đã nghe, có thể là đã nghe đến thuộc lòng, những lời đáp vô cùng rõ ràng về việc này. Việc vì ai, do ai mà nước ta đáng buồn như vậy. Có hai câu trả lời rõ như ban ngày: một là do khách quan, hai là do chủ quan.

“Thằng khách quan”, tôi xin lỗi là phải dùng một từ như vậy, bởi vì trong tiếng Việt thì kẻ có tội rất to như thế phải bị gọi là thằng. Thằng khách quan nó có vô số hoá thân và đều được gọi tên rất rành mạch: lúc thì đó là thằng lịch sử, lúc thì đó là thằng bối cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng tình hình chung, lúc thì đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù địch, thằng thực dân đế quốc, thằng thiên tai địch họa … Nếu nghe như vậy thì người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta cả. Như vậy thì chẳng có lý do gì hy vọng và chẳng có một cuộc toạ đàm nào, một cuộc hội thảo nào cần thiết nữa. Và nếu ai tin vào lời tiên đoán của ông giáo sư Harvard là ông Huntington trong cuốn sách cách đây mấy năm rầm rộ, cuốn Cuộc Chiến Văn Hóa, rằng Việt Nam sẽ là địa bàn xung đột để chiến tranh thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung Quốc xảy ra, thì quả nhiên là chúng ta đáng tuyệt vọng hoàn toàn.

Về chủ quan, người Việt Nam không có truyền thống đem cả một dân tộc ra mà tự phê bình. Một trong những lý do vì sao như vậy cũng là ở chỗ, khi người ta đã suốt cả một số phận luôn luôn đội sổ thì lòng tự tin thực sự chẳng còn gì lớn lắm. Ðấy là tôi muốn nói đến một lòng tự tin thực sự, chứ không phải cái thứ tự tin theo kiểu vừa đánh võ mồm vừa run trong lòng, hoặc là thứ tự tin lưu manh, cứ kích nhau lên để hòng vụ lợi cho mình. Rõ ràng là tự phê bình đòi hỏi một lòng tự tin lớn. Tôi cứ nhìn cái cách tự tra vấn mình, tự hành hạ, tự truy tội, tự xỉ vả mình của một dân tộc như dân tộc Ðức này mà phải nhận ra rằng: phải là một dân tộc đã đạt được nhiều thành tựu đến mức nào mới dám làm cái việc cũng rất ư quí phái là tự phê bình mình như vậy… Vậy dân tộc Việt trọn gói thì không có lỗi gì đáng kể, nhưng một bộ phận, bộ phận đầu sỏ của nó thì bao giờ cũng luôn luôn là đầu mối của mọi tai họa. Bộ phận đó, như chúng ta thường xuyên được nghe nói, bao giờ cũng là chính quyền, là lực lượng thống trị… Lúc thì chính quyền Bắc thuộc, lúc thì là vua quan nhà Nguyễn chịu trách nhiệm, lúc thì chính quyền thực dân Pháp chịu trách nhiệm, lúc thì bè lũ Mỹ-ngụy. Và bây giờ, không có chính quyền nào khác hơn là chính quyền cộng sản, thì chính quyền cộng sản chịu trách nhiệm. Bảo đúng thì tất nhiên là đúng. Nhưng như vậy có kỳ cục lắm không? Chẳng lẽ trước năm 1945 nạn đói xảy ra là do phong kiến thực dân, còn bây giờ nạn đói xẩy ra là do cộng sản hay sao? Chẳng lẽ cái thói chạy chọt, vây cánh, cửa quan, cửa quyền, bợ đỡ… rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất Tố cũng tại cộng sản hay sao? Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả một thế kỷ 15 chỉ được một ông Nguyễn Trãi, cả một thế kỷ 16 hầu như cũng toàn nhạt nhẽo và trung bình cả thì cũng tại cộng sản hay sao? Một trong những nhà phê bình văn học sắc sảo nhất của Việt Nam ở hải ngoại, anh Nguyễn Hưng Quốc, hiện là giảng viên của trường Ðại học Victoria tại Úc, cách đây 10 năm có viết một cuốn sách nhan đề Văn Học Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản. Trong đó anh đi tìm câu giải thích cho tình trạng kém cỏi tẻ nhạt của văn học miền Bắc trong những vấn đề của chế độ xã hội chủ nghĩa và hệ thống lý luận mác-xít. Ðiều đó tất nhiên có nhiều phần đúng, nhưng chưa đủ. Những năm sau này anh Nguyễn Hưng Quốc đi đến một nhận xét hết sức khổ tâm là văn học Việt Nam ở hải ngoại tồn tại ở các chế độ dân chủ, tự do, hoàn toàn không phải dính líu đến hệ lý luận mác-xít, hệ kiểm duyệt cộng sản, hoàn toàn không liên quan đến bộ máy tuyên truyền chính trị chính thống, nhưng cái văn học ấy cũng không khá gì hơn, cũng trì trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt. Tất nhiên là tẻ nhạt theo một kiểu khác. Vậy lời đáp nằm ở đâu?

Việc phê phán cái xã hội nghèo đói, loạn tặc, nhiễu nhương, tạm bợ, không có phương hướng ở Việt Nam, tất nhiên có thể gắn với việc phê bình chính quyền lãnh đạo. Thế cái xã hội của người Việt ở ngoài nước, tại cộng đồng hải ngoại, không có mặt sự lãnh đạo của chính quyền cộng sản mà cũng đủ những phẩm tính tương tự thì chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào? Rõ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá Việt Nam, những vấn đề nghiêm trọng, không thể qui vào một chính thể, tập đoàn hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả số phận dân tộc Việt Nam, bắt đầu thậm chí từ Lạc Long Quân, nếu như có ông ấy và bà Ấu Cơ. Và nếu đã mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét thì có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đã gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam.

Bản thân tôi không dám làm cái việc là điều tra số phận dân tộc bằng cách đi truy tìm phần dính líu của từng cá nhân người Việt, trí thức hay không trí thức thì cũng thế. Nói chung nhiệm vụ nhà văn của tôi không nằm ở chỗ đi qui trách nhiệm cho ai. Vả lại, trong rất nhiều tình huống thì câu hỏi ai có tội, ai có lỗi, là không thể giải đáp trọn vẹn được. Nhưng việc tất yếu mà một nhà văn phải làm ở thời nào cũng thế là quan sát, và nếu có thể thì khám phá những khía cạnh mà anh ta cho rằng còn mờ khuất của con người và cuộc đời. Nhưng không một nhà văn nào khi làm việc đó có thể ôm đồm cả thế gian mà quan sát và khám phá được. Bản thân tôi, do hoàn cảnh gia đình cũng như môi trường đào tạo, môi trường sống, môi trường sáng tác và làm việc, tôi không thể làm một việc gì khác hơn là quan sát và khám phá giới trí thức. Tôi không có thẩm quyền gì để có thể phát biểu, chẳng hạn về tư cách của người nông dân hay thợ thuyền Việt Nam. Tôi không có một hiểu biết gì đáng kể về những điều đó. Song trí thức Việt Nam là chủ đề của hầu hết các sáng tác của tôi. Vì vậy mà có một buổi nói chuyện như thế này. Tôi không nghĩ rằng mình có thể vạch ra được một đường hướng nào. Việc duy nhất mà tôi có thể thử làm là khắc hoạ diện mạo của trí thức Việt Nam. Bản thân việc này là một đề tài mà một cá nhân không kham nổi. Hôm nay tôi thử trình bày về hai tư cách mà theo tôi là đáng để ý, đó là: “tư cách chính thống” và “tư cách học trò”.

Bây giờ phải xin nói trước để chúng ta dễ đồng ý với nhau về khái niệm là: một định nghĩa hoàn hảo về trí thức rõ ràng không thể có được, ngay cả đối với hoàn cảnh còn tương đối dễ bao quát như hoàn cảnh Việt Nam. Chúng ta tạm quy ước với nhau là khi nói tới trí thức Việt Nam ở đây là nói tới những người mà do học thức, trình độ, môi trường sống, thói quen, hoặc thậm chí do ngẫu nhiên cũng được, mà hoạt động trí tuệ và tinh thần là thường trực, hoặc chủ yếu, hoặc đóng một vai trò đáng kể.
Bây giờ tôi xin nói về tư cách chính thống của trí thức Việt Nam

Một người bạn vong niên của tôi ở Hà Nội, ông Nguyễn Kiến Giang, gần đây có đưa ra một khái niệm là “tính cách phò chính thống của trí thức Việt Nam”. Tôi thì gọi đó là tư cách quan văn, theo cái mô hình trị nước là một ông vua có thể u mê, có thể anh minh, hai bên tả hữu là quan văn và quan võ. Tôi gọi tư cách chính thống của trí thức Việt Nam này là “tư cách quan văn”.

Chúng ta hãy xem lại lịch sử. Nếu như bỏ qua cái thời kỳ mông muội, khi người săn bắn giỏi nhất, bắt cá khéo nhất, thắng nhiều cuộc vật nhất và có thể cũng có nhiều con nhất vì được nhiều đàn bà ái mộ nhất, một người như thế được đứng đầu một cộng đồng Việt, nếu bỏ qua thời kỳ đó thì chúng ta có ngay mười mấy thế kỷ toàn trị của giới có học. Khi đó là giới sĩ, một thời gian dài là giới tu sĩ, sau đó tuyệt đối là giới nho sĩ. Chế độ khoa cử với chức năng là một hệ thống đào tạo và tuyển chọn cán bộ và nhân viên nhà nước, đã tự động ghép học thức, tri thức và quyền lực thành một cặp bài trùng. Tri thức vừa là con đường dẫn đến quyền lực, vừa là cách thực hiện quyền lực. Không có gì để nghi ngờ nữa, giới sĩ phu Việt Nam trong lịch sử là giới cầm quyền, hay ít nhất cũng là giới thừa hành quyền lực. Nói theo từ hiện đại thì toàn bộ guồng máy nhà nước Việt Nam trong lịch sử nằm trong tay các trí thức nho giáo. Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.

Song câu chuyện “phò chính thống”, câu chuyện “quan văn” không chỉ dừng lại khi nho học thất thế. Công bằng mà nói thì ở một giai đoạn ngắn của lịch sử, tức là ở đầu thế kỷ 20 trong cả nước, và từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Nam, đã có một cơ hội để cặp bài trùng trí thức và quyền lực có thể tách nhau ra được, và quả thực cũng có tách nhau ra phần nào. Nhưng đấy là một khoá học tiếc thay rất ngắn, quá ngắn để trí thức Việt Nam vượt ra khỏi cái vòng kiềm toả và tự kiềm toả bằng quyền lực chính trị để trở thành một lực lượng độc lập như giới trí thức ở các xã hội dân chủ hiện đại. Chúng ta có thể coi những vận động cải cách xã hội và dân trí ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 là độc lập với chính quyền nửa phong kiến nửa thực dân đương thời. Và quả nhiên có một tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ tự do, tức là không ăn lương của nhà nước, không hưởng bổng lộc của chính quyền, không phải là các công chức, viên chức, cán bộ trong bộ máy cai trị, một tầng lớp như vậy quả nhiên là có xuất hiện, điều này cũng lặp lại ở miền Nam trong khoảng thời gian 1954-1975. Thế nhưng lịch sử đã quyết định diễn ra theo chiều hướng là tự lặp lại. Bi kịch của một người như Phạm Quỳnh là bi kịch của một trí thức xuất thân hoàn toàn độc lập, có đủ mọi cơ hội và đủ uy tín để tồn tại như một tiếng nói, một uy tín tinh thần, một trọng lượng xã hội độc lập hẳn hoi, nhưng cuối cùng cũng không vượt qua nổi sự mê hoặc của quyền lực chính thống. Tất nhiên Phạm Quỳnh trở thành thượng thư Bộ Lại trong triều Nguyễn với một hy vọng là mượn những phương tiện chính trị mà hành cái đạo của mình. Thế nhưng, ông Tây học Phạm Quỳnh vậy là cũng hành động không khác gì ông Khổng Tử. Khổng Tử chẳng làm được điều gì khi còn đang tại chức. Khổng Tử chỉ có đánh xe đi bát phố, nghe nhạc và bình phẩm về đàn bà, về cái hoạ đàn bà thì đúng hơn, khi tại chức. Và Phạm Quỳnh cũng chẳng làm được gì cho cái đạo của mình trong suốt thời gian làm bộ trưởng như vậy, và Phạm Quỳnh có lẽ còn lâu mới là người trí thức Việt Nam cuối cùng vừa ghét quyền lực, vừa mong được phục vụ quyền lực như vậy.

Từ năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam và từ năm 1975 ở toàn đất nước, có thể nói rằng câu chuyện của cặp bài trùng trí thức và quyền lực lại được kể tiếp với những tình tiết thực ra là giống hệt như trong lịch sử. Chỉ có pha thêm những màn gay cấn đặc trưng cho cái thời đại này mà thôi. Tôi cho rằng chỉ có những người rất ưa sơ đồ hóa các hiện thực mới kết luận rằng trong xã hội cộng sản hay xã hội chủ nghĩa không có chỗ cho trí thức. Không phải như vậy. Nó chỉ không có chỗ cho các trí thức bất đồng quan điểm, bất đồng tư duy mà thôi. Một xã hội của đồng chí tất nhiên không trải chiếu hoa cho những kẻ bất đồng chí. Song điều đó không có gì là mới mẻ, không phải là đặc sản riêng của chuyên chính vô sản, mà của bất kỳ một nền chuyên chính nào. Một trí thức từng là đồng chí như Nguyễn Trãi khi thành bất đồng chí tất nhiên cũng phải chịu cái hoạ tru di tam tộc. Và một nhà văn tài hoa từng được coi là thần tượng của sự ngông nghêng, thách thức như Nguyễn Tuân thực ra cũng có thể so với Nguyễn Du: bất mãn thì có bất mãn, bất đồng thì có bất đồng, nhưng cả hai dù miễn cưỡng hay tự nguyện, cuối cùng cũng để cho chính quyền trọng dụng mình. Nguyễn Du đóng vai đại sứ đi công cán ở nước ngoài, một chức vụ thực sự là không thấp hèn gì. Nguyễn Tuân cũng vậy. Hồi sinh viên tôi thường tự hỏi: Tại sao lại như thế? Phải tay tôi thì không bao giờ chịu để mình ở cái thế há miệng mắc quai như vậy. Nhưng khi đó tôi còn chưa hiểu gì về cái thế phò chính thống, cái thế quan văn của trí thức Việt Nam, một cái thế quả nhiên là rất há miệng mắc quai.

Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam thực ra là một cuộc cách mạng hoàn toàn do giới trí thức lãnh đạo, còn quần chúng cách mạng thì thời nào cũng vậy, là đám đông, và đám đông trong một nước nông nghiệp tất nhiên là nông dân. Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức lãnh đạo một đám đông nông dân tranh đấu cho quyền lợi của một giai cấp khác, đó là giai cấp công nhân. Nếu chúng ta nói như vậy thì việc các quyền lợi dẫm lên nhau, sự không đồng bộ của nhân sự và khả năng phản bội lẫn nhau của những bên tham gia đã được định trước.

Song ở đây tôi chỉ muốn nói về sự tham gia của trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam ở buổi ban đầu của cuộc cách mạng, rồi khi cách mạng quay ra ăn thịt những đứa con đẻ của mình, và bây giờ, khi rõ ràng là cách mạng đã về hưu. Mối tình giữa chủ nghĩa cộng sản và trí thức, nhất là trí thức cánh tả trên toàn thế giới, là một mối tình phức tạp, đẫm nước mắt và đẫm máu. Nhưng tôi dám nói rằng chính cái cuộc tình hết sức nồng nhiệt và lãng mạn với lực lượng trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam thuở ấy đã chắp cánh cho cách mạng, khiến cho nó không chỉ là một cuộc khởi nghĩa của nông dân, hay một cuộc bạo động của thợ thuyền.

Ðiều gì diễn ra khi cách mạng không chỉ còn là một ý tưởng và một lí tưởng, mà đã trở thành một hiện thực, một chế độ, một guồng máy khổng lồ? Tôi xin trích ra ở đây một vài dòng trong nhật ký của Trần Dần năm 1958, vào cái thời điểm mà người ngoài tưởng là cuộc nổi dậy trong văn giới Việt Nam, được biết đến dưới cái tên Nhân Văn Giai Phẩm còn rất là sôi sục. Ông ghi ngày 08-01-1958 như sau:

Tin chạy xì xầm xung quanh rất ghê gớm. Rằng báo Văn là một cái rớt của Nhân Văn, rằng nhà xuất bản hội nhà văn bị lái, rằng Câu Lạc Bộ thành nơi hoạt động của bọn Nhân Văn. Tóm lại, bọn Nhân Văn ấy lọt vào tổ chức của Hội Nhà Văn, chúng ra tay chèo lái một cách “tinh vi”… Sự thật ra, bọn Nhân Văn ấy, non năm nay họ đã theo một cái chính sách gì? Có thể tóm chính sách của họ là: sợ, cầu an, cố đi gần lãnh đạo, dao động, chán nản… Một ngón tay Nhân Văn cũng không có. Non năm nay họ đã nằm bẹp cả xuống, vắt tay lên trán, suy nghĩ như các nhà hiền triết cả rồi. Họ có còn cái khao khát chiến thắng của những người tiến bộ nữa đâu ? Nói đúng ra, họ vẫn mong sự tiến bộ sẽ thắng. Song họ mong nó sẽ thắng bằng một cách ích kỷ, tức là bằng bàn tay thúc đẩy của kẻ khác hơn là bàn tay họ… Vậy đỡ nguy hiểm hơn… Giá lãnh đạo thuyết phục, họ sẽ có cơ giác ngộ, trở nên con nhà nết na nữa cũng nên. Ðằng này lãnh đạo cứ cái chính sách ục, thụi vô lý mãi! Họ càng tủi thân và thất vọng… Tôi biết họ chỉ mong nhất một điều là: “mong thánh đế hồi tâm?”.

Những dòng ấy được viết ra do một trong những người được coi là cứng cổ nhất trong Nhân Văn Giai Phẩm là Trần Dần. Tôi xin lưu ý những khái niệm như “cố đi gần lãnh đạo”, “giá lãnh đạo thuyết phục”, “mong thánh đế hồi tâm”. Tôi cho rằng không cần phải nhiều lời nữa để mô tả cái tính cách phò chính thống này của văn nghệ sĩ trí thức Việt Nam. Nếu có một trí thức thực sự li khai với quyền lực, li khai với quyền lực không lấy gì làm đẹp đẽ lắm của chế độ cộng sản, thì phải có mười trí thức đang nằm chờ ngày “thánh đế hồi tâm” và sẽ có một trăm trí thức không làm gì khác hơn là để cho cái chính quyền ấy trọng dụng mình.

Mao Trạch Ðông trong bài nói chuyện nổi tiếng ở Thiên An có tuyên bố thẳng thừng: “trí thức là cục phân”, song người am hiểu hiện thực của chủ nghĩa xã hội phải nói rằng, trí thức cũng là cục vàng. Những cục vàng ấy là báu vật nằm trong tay những nhà cầm quyền. Ở một địa vị như vậy thì có lí do gì mà mong thay đổi! Người ta có thể gọi đó là cái hèn, cái nhu nhược, cái cầu an. Tôi gọi đó là cái nghiện. Nghiện chính thống. Nghiện suốt cả một lịch sử thì không dễ gì một vài ngày mà cai ngay được. Người nghiện thì ít khi trách cái sự nghiện của mình mà có chăng chỉ đổ tội cho cái làm mình nghiện. Chúng ta phải buộc lòng đi đến một kết luận: khi tự đồng nhất mình ở mức độ cao như vậy với giai cấp thống trị, bất kể là giai cấp nào, thì cái bộ phận ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam là trí thức Việt Nam mặc nhiên phải đánh mất cái thôi thúc cải thiện, thay đổi và cải cách xã hội. Một ông trí thức nho giáo làm quan tất nhiên là không bao giờ nảy ra sáng kiến chống nạn mù chữ trong đám dân đen. Bởi lẽ ông ta chỉ hơn họ và được làm quan nhờ có mấy trăm chữ ở trong bụng. Một ông nhà thơ phụ trách Ban văn hoá văn nghệ tất nhiên không khuyến khích những thứ thơ văn mới lạ, bởi lẽ nếu thiên hạ đi say mê thứ văn thơ mới lạ đó thì thơ ông ta ai đọc? Kinh nghiệm của chính bản thân tôi ở trong nước, với tư cách là một nhà văn hiện nay không được phép công bố tác phẩm ở trong nước, là: Chưa có một ông Ðảng hay một ông công an nào có cơ hội đọc duyệt tác phẩm của tôi cả. Bởi vì trước khi các vị đó sờ được đến bản thảo của tôi thì các đồng nghiệp của tôi ngồi ở những vị trí rất nhiều quyền lực đã kiểm duyệt hộ chính quyền từ khuya rồi!

Bây giờ tôi xin nói đến tư cách học trò của trí thức Việt.

Thực ra dân tộc Việt không toàn phải tiếp xúc với những kẻ đến từ một nền văn minh cao và mạnh hơn hẳn. Láng giềng của nước Việt một thuở, như chúng ta đã biết, là Chiêm Thành, Ai Lao, Phù Nam, Khơme, Xiêm La, Chà Và, Nhật Bản… Ðương nhiên người Việt cũng tiếp thu điều này, điều nọ trong quá trình giao lưu văn hoá với họ… Trong tiếng Việt ta có thể tìm thấy những dấu tích đó. Thế nhưng, chúng ta có thể lấy hẳn của người Chiêm Thành một giống lúa, lúa chiêm, mà chả buồn học hỏi gì nhiều ở văn hoá và ngôn ngữ của họ… Chúng ta lấy biết bao nhiêu điệu nhạc buồn của họ vào chính cái quan họ Bắc Ninh nổi tiếng của chúng ta, khiến cho cái làn điệu dân ca đó trở nên có thể nói là buồn nhất trong các làn điệu dân ca của miền Bắc nói chung, lúc đó miền Bắc là cái nôi văn hoá Việt và lúc đó Việt Nam chỉ dừng lại ở miền Bắc. Chúng ta lấy của họ như vậy mà chả buồn học hỏi điều gì ở họ, không buồn nghiên cứu gì về họ và thậm chí dường như chúng ta chôn phắt họ đi mà không tiếc nuối gì hết.

Như vậy, ở cái thế của kẻ mạnh, hoặc ít nhất ở cái thế của kẻ bằng vai, thì người Việt chẳng buồn học ai cả, chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả. Thế nhưng, khi ở cái thế của kẻ yếu, của kẻ bị chinh phục, bị khinh bỉ, bị nhục nhã, thì sự học của chúng ta mới vội vã bắt đầu. Tôi có viết trong một tác phẩm về việc hầu như chẳng người Việt nào buồn biết tiếng Nhật như sau: “… người Nhật chiếm nước này chưa đủ dài để người nước này thèm tiếng Nhật. Nỗi nhục chưa kịp ngả thành lòng yêu”.

Cái sự học của trí thức chúng ta trong thế giằng xé giữa một bên là nỗi nhục, một bên là lòng yêu, là một sự học đầy mâu thuẫn, thậm chí có thể nói là bệnh hoạn, đầy những đau khổ mà bản thân tôi có thể chia sẻ nhiều phần. Ta hãy lấy ví dụ về việc học này qua cách sáng tạo chữ viết. Cả người Việt lẫn người Nhật vốn đều có tiếng nói riêng mà không có chữ viết riêng. Trung Hoa thì ngược lại, có chữ viết. Nhưng Trung Hoa không băng qua biển để đi sang Nhật mà mang chữ viết cho người Nhật. Và nói chung thì Trung Hoa là một dân tộc lục địa, họ tin ở con ngựa hơn con thuyền. Cái từ mà chúng ta dùng để chỉ họ là người “Tầu” thật ra chẳng đúng tý nào, họ là dân tộc không liên quan đến tầu bè. Trung Hoa rõ ràng không băng qua biển để cưỡng bách người Nhật phải học sách Tầu và viết chữ Tầu, mà chính là người Nhật đã tự động ngồi lên thuyền, băng qua biển đến Trung Hoa, rồi khuân một ít văn hóa Trung Hoa, trong đó có chữ viết, về nhà họ để dùng tạm trong lúc còn thiếu thốn. Cái thái độ đi học của người Nhật như vậy là một thái độ chủ động, tích cực và có sự sòng phẳng của nó. Cần thì học, thích thì học, hoàn toàn tự nguyện. Và một khi người Nhật đã mất công lặn lội như vậy để khuân về nhà từng ấy bộ chữ Trung Quốc thì họ cũng dùng hết, không vứt đi đâu bộ nào. Tất nhiên, không phải ngày một ngày hai, nhưng sau trên dưới khoảng chục thế kỷ, sau nhiều thất bại thì người Nhật cũng dùng được bộ chữ Trung Quốc trong việc ghi lại tiếng Nhật. Chữ Nhật ra đời và trụ được cho đến ngày nay trên cơ sở bộ chữ Tầu giản tiện. Một người Nhật nếu biết tiếng Tầu thì rất quý, thế nhưng nếu không biết thì họ vẫn có khả năng dùng tốt chữ Nhật của họ… Họ đã thành công trong việc đi học ở bên ngoài và làm ra được cái mà họ chưa có. Họ là hạng học trò ngoại lệ…

Còn việc sáng tạo chữ viết của người Việt diễn ra như thế nào? Người Việt chẳng cần lặn lội sang Tầu đi học, mà chính là người Tầu mang một núi khí giới, một rừng người đến trước, rồi sau đó khuân một hòm sách sang sau. Dĩ nhiên là người Việt vừa học vừa chửi, giống hệt như vừa học vừa chửi Pháp, vừa học vừa chửi Liên Xô, và bây giờ vừa học vừa chửi Mỹ. Cái sự vừa học vừa chửi này biến thiên qua nhiều cấp độ và tuỳ vào diễn biến hay triển vọng trong mối quan hệ giữa thầy và trò. Ở trong dân gian, thái độ lưỡng phân này thường bùng nổ chỉ ở thời gian đầu, sau đó có thể nói là cái gì của ta sẵn có, cái gì mà nó bắt ta phải học, dần dần cũng đồng hoá vào nhau, ở cấp độ dân dã, đôi khi không phân biệt nổi xuất xứ nữa. Thí dụ như nói dến ông bụt chẳng hạn, nào ai còn rạch ròi mà bảo rằng đấy là một ngoại kiều Ần Ðộ, mà tên thực ra phải là buddha cơ, nào có ai phải rạch ròi đến thế đâu. Nhưng trong giới trí thức thì cái thái độ lưỡng phân kia là cả một tấn bi hài kịch, trong đó có những pha đầy phi lý, những pha trái khoáy, những pha nực cười và tất nhiên là rất nhiều pha vô cùng vô duyên. Với giới trí thức Việt Nam thì chỗ này có sự rạch ròi của nó. Cái học thuyết của ông bụt không mang tên là bụt giáo mà mang tên là Phật giáo, bởi lẽ giữa chữ bụt và chữ Phật có một khoảng trống, và ngồi trong khoảng trống ấy chính là ông thầy Trung Hoa.

Việc người Việt luôn có những kẻ thù mạnh và giỏi hơn mình, và kết quả là người Việt luôn phải tiếp thu nền văn minh của kẻ thù, việc ấy vừa là một bất hạnh vừa là một diễm phúc. Rõ ràng là trên đời chẳng có cái gì không có ít nhất hai mặt của nó, chỉ có điều, sức mạnh và tầm vóc của một nền văn hoá biểu hiện ra ở chính cái chỗ nó vận động như thế nào trong sự phức tạp đa chiều đó. Nó có đủ khả năng khống chế sự bất hạnh và khuyếch trương cái diễm phúc kia lên không, hay là ngược lại. Hay là nó chẳng có một chủ trương chiến lược nào cả, cứ tiện lúc nào sướng cái hay của Tây của Tầu thì khen lấy được, học lấy được, lúc nào cáu lên thì vứt hết, dẹp hết, quay về trâu ta ăn cỏ đồng ta. Và tôi ngờ rằng sự tuỳ tiện này chính là cách ứng xử của chúng ta. Người ta có thể cho sự tuỳ tiện này một cái tên quan trọng hơn, “sự linh hoạt” chẳng hạn. Nhưng tên có hay như thế nào cũng không thể kéo cái hiện thực dở đi theo được.

Kẻ bị buộc phải đi học trong tình thế lưỡng phân mà lại tùy tiện như vậy thì đến hệ quả gì? Một trong những hệ quả là: hắn không bao giờ học cho hết chữ của thầy. Mới học được nửa trang, mới đọc được nửa trang, học đến nửa quyển sách thì cái phanh của lòng yêu nước, lòng căm thù ngoại xâm – tất nhiên đấy là một tình cảm rất chính đáng – đã chặn đứng tất cả lại và hắn nhất quyết quay ra với khẩu hiệu “tự lực cánh sinh”, hoặc phương châm “sáng tạo, ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam”. Nghiên cứu đối phương chẳng hạn, khi người ta có một kẻ thù thì nghiên cứu kẻ thù để chiến thắng nó là một động cơ đáng kể để học hỏi nền văn minh của kẻ thù. Chỉ có điều tôi có cảm giác rằng sự nghiên cứu của chúng ta chỉ dừng lại ở cái mức tin tức tình báo, đại loại như cái thông tin rằng quân Nguyên Mông không thạo đường thuỷ, hay đại quân hậu cần của giặc hiện đang tắc ở đoạn nào. Chắc là cái sự học và sự nghiên cứu của chúng ta nó dừng lại ở chỗ ấy, nó khác hẳn sự nghiên cứu của cả người Tầu, người Pháp, và người Mỹ về chúng ta. Có một thực tế là các học giả Việt Nam ngày nay muốn thực sự nghiên cứu về Việt Nam thì không thể không sang Trung Quốc, Pháp và Mỹ để ngồi đọc tài liệu Việt Nam mà những nước đó đem về giữ trong các thư viện và văn khố của họ… Tôi có một người bạn, hiện nay đang lang thang ở các trường đại học Mỹ để nghiên cứu về Phan Khôi. Một hành trình hết sức vòng vo. Vì sao? Ðể nghiên cứu về Phan Khôi, anh phải đọc báo Việt Nam của những năm 30. Những báo đó, chúng ta không giữ lại đầy đủ, chúng ta không giữ lại, theo đúng tinh thần của người Việt là thời nào biết chuyện của thời đó, thời nào khoanh lại thời đó, thế hệ nào khoanh lại thế hệ đó, không dính líu gì đến thế hệ sau nữa. Nhưng người Pháp thì khuân những báo đó về Pháp, không phải chỉ khuân một bản mà khuân nhiều bản. Cái bản thừa, bản đúp, thì họ bán lại cho người Mỹ và bây giờ thì Bộ văn hoá Pháp cấp cho một nhà nghiên cứu Việt Nam một khoản tài trợ để nhà nghiên cứu Việt Nam sang Mỹ mua số báo Việt Nam đã được Pháp bán lại cho Mỹ, để nghiên cứu về một nhân vật Việt Nam đầu thế kỷ. Ðối với giới sử học Việt Nam, các công trình của cơ quan nghiên cứu Pháp, Viễn Ðông Bác Cổ, là một chỗ dựa không thể thay thế nổi. Rõ ràng là thực dân Pháp muốn chinh phục và bám trụ ở Ðông Dương và điều đó không có gì để bàn cãi cả. Ðể làm điều ấy, họ cần hiểu biết về cái xứ sở mà họ muốn chiếm giữ, hiểu biết tường tận về văn hoá, một nền văn hoá xa lạ với họ, chứ không phải chỉ là thu thập những tin tức tình báo. Chắc chắn là hoạt động của Viễn Ðông Bác Cổ được Bộ thuộc địa Pháp tài trợ … Các học giả và trí thức Pháp có thể đã là công cụ cho một mục đích không lấy gì làm đẹp đẽ lắm, song bản thân công việc nghiên cứu của họ diễn ra nghiêm túc và thấu đáo. Còn các học giả Việt Nam có thể là công cụ cho một mục đích chính đáng, song kết quả công việc của họ lại tạm bợ và nửa vời.

Xét về phương diện này thì người trí thức VN ngoại lệ nhất là Nguyễn Trường Tộ, và bản thân Tự Ðức cũng là một bậc trí thức không đến nỗi ngu đần như trong sách sử chính thống mô tả. Song như chúng ta đã biết, chương trình canh tân được Nguyễn Trường Tộ đề nghị và rất nhiều điểm cũng được Tự Ðức tán đồng không hề được đem ra thực hiện. Ða số giới cầm quyền đương thời cũng là các bậc học giả hiểu cao, biết rộng, họ có đủ lí do cần thiết để cản trở chương trình canh tân đó, mà cái lí do rằng Nguyễn Trường Tộ là người theo đạo Tây chỉ là một cái cớ.

Một mặt thì chưa học đến nơi đã sốt sắng sáng tạo, để rồi toàn đi đến những kết quả nửa vời như vậy. Mặt khác, khi chỉ còn một mình với cái đống sáng tạo dở dang không dùng được đó thì người trí thức Việt Nam mới lại thành một học trò ngoan, thậm chí rất ngoan. Ngoan tới mức thành một kẻ nô lệ, thành bảo hoàng hơn vua. Thậm chí Khổng Tử hơn cả Khổng Tử, ga-lăng hơn cả người Pháp, mác-xít hơn cả cha đẻ của mác-xít. Lúc bấy giờ cái người học trò thích sáng tạo ấy mới tự phong cho mình những danh hiệu, chẳng hạn là đại diện xứng đáng nhất của những trường phái gì gì đó, của những ông thầy gì gì đó … Khi Trung Hoa đã là Trung Hoa dân quốc, và trí thức Trung Hoa đã miệt mài ngồi dịch sách của những bậc như Rousseau, Montesquieu, thì trí thức Việt lúc đó vẫn còn chết chìm trong cái mớ “thi vân tử viết” của mình, và triều Nguyễn khi đó trưng ra những lễ nghi nho giáo còn chặt chẽ hơn cả triều đình Bắc Kinh một thuở. Ta có thể lấy chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam tiền chiến làm ví dụ cho việc nay.

Tất nhiên phong trào Thơ Mới và văn xuôi 1930-1945 là một bước tiến khổng lồ cho văn học Việt Nam, song thần tượng của nó, nguồn ảnh hưởng của nó từ văn học Pháp là những thứ đã diễn ra trước đó có khi cả vài thế kỷ. Cái mà ông thầy Pháp đã bỏ ra khỏi giáo trình của mình từ mấy đời thì anh học trò Việt vẫn còn nghiền ngẫm say sưa lắm, còn cái mà ông thầy ấy đang dạy ở trên lớp thì anh học trò ấy chỉ nghe có một nửa tai rồi bảo: “Cái đoạn này thì ta nên tự lực cánh sinh”. Cho đến bây giờ cái tinh thần của lãng mạn tiền chiến vẫn chế ngự trong văn chương Việt Nam hiện đại. Nếu có ai phê bình thì các vị ấy vênh mặt lên bảo rằng: “Văn chương Pháp cũng thế, dám chê cả văn chương Pháp à !?” Song những điều đang diễn ra trong văn học Pháp hiện đại thì chẳng có ai buồn học, có bảo là phải học thì các vị ấy lại bảo: “Biết cả rồi, xoàng cả thôi, cũng chả hơn gì ta đâu, mình làm có khi còn hay hơn !”. Như thế thì hỏi làm sao văn chương nghệ thuật nước ta không luôn luôn đi lạc một bước, ít nhất là một bước sau thế giới? Năm mươi năm nữa chẳng hạn, các học trò Việt lại đi mở những thứ sách của thế giới bây giờ ra, thế giới bây giờ, để học lấy học để. Ðã học như thế thì lấy đâu ra thời gian để học chính những thứ đang cùng thời với mình? Hỏi làm sao cái học đó không phải là cái học viển vông?

Thí dụ rõ rệt cho cái lẫn lộn lung tung giữa chủ động nô lệ và chủ động sáng tạo ta có thể quan sát ở các trí thức Việt khi họ đi ra nước ngoài để học hỏi. Chẳng hạn, khi ra nước ngoài học về khoa học quản lí, là thứ mà chúng ta chưa bao giờ có. Rõ ràng trước khi một nước phương Tây quyết định đầu tư vào một chỗ nào đó ở Việt Nam thì họ đành phải làm cái việc không đừng được là đào tạo, cũng như muốn bán cho ta một cái máy bay thì họ phải làm cái việc là đào tạo hộ một anh phi công, đấy là chuyện họ không đừng được. Như vậy là trí thức Việt cắp cặp đi học khoa học quản lí hiện đại. Chữ thầy được mười thì học trò nghe được một, thôi thế thì cũng là may rồi. Nhưng cái mà tôi thường xuyên chứng kiến ở những người đó là họ sẵn sàng vứt tất cả một phần đó đi, mà bảo rằng: “Úi trời, cái kiểu quản lí này không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam !” Cũng là có lí chứ không phải không có lí, tất nhiên là không ai đi bệ nguyên xi nước ngoài về mà dùng được, nhưng chuyện đó tôi không bàn. Tinh thần sáng tạo thì bao giờ cũng muôn năm cả. Thế nhưng cũng chính những người đó, khi trở về nước, đối mặt với những lề lối quản lí rất Việt Nam, nghĩa là rất cẩu thả, rất tạm bợ, rất mông muội, rất trung cổ, thì lại giương cái sở học của mình trong các chuyến đào tạo ở nước ngoài như vậy ra mà bảo rằng: “Tây nó làm như thế, Tây nó khác, Tây nó phải như thế … Không được thế này, không được thế kia …” Nhưng Tây nó làm như thế nào thì không còn nhớ, thế là lại đi học nữa! Xã hội Việt Nam sinh ra một tầng lớp trí thức không làm điều gì khác hơn là suốt đời đi học như vậy. Cứ đến lớp thì chê thầy, cứ về nhà thì lại nhớ thầy, xin cắp cặp theo học lại. Suốt đời đi học như vậy. Như thế thì hỏi làm sao được như người Nhật, tự làm ra chữ viết dùng được cho mình?

Chữ Nôm Việt Nam được làm ra, về xuất phát điểm thực ra không khác gì chữ Nhật, chỉ có điểm khác là nó không thành công. Muốn dùng chữ Nôm, người ta phải biết chữ Hán trước đã, rồi sau đó lại phải học thêm quy tắc cấu trúc cái chữ Hán, vốn đã rất phức tạp như vậy, vào với nhau như thế nào để nó ra cái gọi là chữ Nôm. Tôi lấy một ví dụ: muốn viết chữ “trờí” chẳng hạn, muốn viết cái tiếng ta ấy ra mặt giấy thì phải viết thế nào ?. Người ta phải biết hai chữ Hán là chữ “thiên” và chữ “thượng”, phải biết cách ghép hai chữ này vào nhau để thành một chữ “trờí”. Quả nhiên là một cái lô gích vô cùng kinh hoàng đối với hình dung của tôi, cứ làm như còn một cái “thiên” nào khác, ngoài cái “thượng” đó. Mà đã thế sao không dùng luôn tiếng Hán, chỉ có một chữ “thiên” là xong, tại sao lại hai lần tiếng Hán như thế, gộp vào nhau để ra chữ “trờí”? Trong cái công trình sáng tạo chữ Nôm ấy, rõ ràng sáng tạo là gì? – Là ghép hai cái rập khuôn vào nhau! Tôi chưa bao giờ dám tự hào về cái chữ Nôm mà theo tôi, xin lỗi quý vị ở đây, là điển hình cho tinh thần khổ dâm. Phải học cái chữ của kẻ thù thì chỉ đơn giản là khổ, nhưng học cái chữ của mình bằng cách hai lần đi qua chữ của kẻ thù thì lại bỗng nhiên sướng? Như thế chẳng phải khổ dâm thì là cái gì? Song kết cục của công trình làm ra chữ viết của ta như thế nào lại là bất ngờ lớn cho chúng ta. Chữ quốc ngữ là tác phẩm của một số cha cố Dòng Tên. Cái may của chúng ta trong câu chuyện này là những người truyền giáo có mặt ở Việt Nam một thời gian dài, có ảnh hưởng quan trọng, là các vị Dòng Tên, nổi tiếng là những trí thức tu sĩ uyên bác, có năng khiếu ngoại ngữ và có một lòng khoan thứ nhất định đối với những tín ngưỡng khác, chứ không phải là các vị của Dòng Dominique như trong trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn.

Những căn bệnh khác của “người học trò Việt Nam” trong tình thế lưỡng phân này chúng ta có thể kể ra: Học như vậy thì không thể không mặc cảm. Ðương nhiên là phải thấy mình bé nhỏ, kém cỏi trước cái khổng lồ, phong phú và cái ưu thế của những thành tựu văn hoá khác. Tôi thực sự chưa hề được chứng kiến một trí thức hoặc văn nghệ sĩ Việt Nam nào có một lòng tự hào và tự tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước ngoài. Tất nhiên trong chuyện này có nhiều bên tham gia. Không thể có kẻ đại diện cho một văn hoá nhược tiểu nếu như không có kẻ đại diện cho một cường quốc văn hoá. Tất nhiên như vậy, nhưng đấy không phải là đề tài của chúng ta hôm nay. Ðã mặc cảm như vậy thì không thể không chán nản, mà ỳ ra và ăn sẵn. Dường như trí thức Việt Nam có thể rất yên tâm mà nghĩ rằng: “Không có chúng ta thì thế giới vẫn tiến bộ ầm ầm”. Thế thì đợi người ta tiến bộ mà ăn nhờ có phải đỡ mất công hay không ?. Mà đằng nào, nếu mình làm thì có ra gì mà làm ?. Thế nhưng ăn sẵn cũng có rất nhiều cách ăn sẵn. Cái cách ăn sẵn của trí thức chúng ta cũng chẳng giống ai, còn chọn chán, còn chê chán, còn chặt miếng ra, miếng nào vừa mồm mình thì mới dùng, vừa khẩu vị mình, dễ cho cái bụng mình tiêu hoá. Tất nhiên điều đó cũng có cái hợp lí của nó, song vì sao không thử xem lại cái miệng mình có nhỏ quá hay không, khẩu vị của mình có cần thay đổi đi hay không, và bụng dạ mình có còn đủ tốt để tiêu hoá cái gì đó hay không?

Tóm lại, khi cái học của một tầng lớp có học của chúng ta như thế thì cái học ấy có hơn gì sự vô học của một đám đông hay không ? Hỏi làm sao mà cái học ấy không giúp gì được ai./.
Read More..

26 thg 4, 2014

Văn hóa phương Đông tự cầm tóc mình nhấc lên mà mãi vẫn lùn.

Nguyễn Hoàng Đức

Có rất nhiều cây bút đã viết về đề tài văn hóa phương Tây – văn hóa phương Đông, như kiểu hai mạn của một con tầu, hay hai cánh của một con chim, hoặc như chiếc bập bênh có hai đầu, tức là như một cấu trúc cơ học vật lý –suy rộng hơn là địa lý, hai bên bằng nhau. Tiêu biểu nhất mới đây là bài của GS TS Phạm Đức Dương được đăng trên ‘Thế giới và Việt Nam’ với nhan đề “Mọi nền văn hóa đều đẹp”, bài có đoạn:
Dựa trên định nghĩa văn hóa, chúng ta có thể kết luận: Là Con – Người, dù phương Đông hay phương Tây đều có ứng xử 2 mặt và tùy theo lựa chọn mà mỗi nền văn hóa có những mặt mạnh và mặt yếu khác nhau, rất đa dạng, nhưng không có nền văn hóa nào được phép tự xem là hoàn hảo, đứng trên, cao hơn nền văn hóa khác”.

Tôi nghĩ rằng GS Dương viết theo lối “hay chữ” kiểu học trò học chẹt mà không dựa trên khoa học. Tại sao một vị giáo sư mà không đi đến kết luận khoa học, mà lại dựa trên “định nghĩa văn hóa”? Lẽ ra ông nên biết dựa trên hiện thực khách quan thì cái kết luận của ông còn mang giá trị phổ quát, đằng này ông dựa trên định nghĩa văn hóa, thì trên thế giới có khoảng một triệu định nghĩa về văn hóa, nhưng nếu là sự thật, thì cả thế giới chỉ có một sự thật thôi.

Tôi viết bài này với mục đích bài trừ niềm kiêu hãnh giả mạo của những tầm vóc hủ nho, muốn ấm ớ cào bằng rằng: phương Đông là ta ngang ngửa với phương Tây. Cách nghĩ này làm cho con người yếu kém, cảm tính, ít khoa học. lạc hậu của châu Á, đặc biệt là Việt Nam đang đứng đội sổ của nhân loại ngủ quên trong giấc mơ hiện tại, không bao giờ muốn vươn lên đuổi kịp nhân loại, mà ếch ngồi đáy giếng, vỗ ngực ta chẳng kém ai, rồi thành chẳng ai bằng ta, tiếp đến là ta nhất thiên hạ.

-Trước hết đông người như Trung Quốc, thì Lãnh tụ Tôn Trung Sơn đã từng nói: Trung Quốc chỉ có gia tộc mà không có quốc tộc. Xưa nay Trung Quốc chưa có các cuộc đấu tranh vì tư tưởng, tôn giáo và tự do, chỉ có các cuộc đánh nhau vì chỗ ngồi, đất đai và đàn bà.

Mới đây, các nhà lãnh đạo phương Tây nói thẳng: Trung Quốc không bao giờ trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới, bởi vì họ chưa bao giờ có truyền thống sản sinh tư tưởng. Nói thế, thì khác gì bảo, Trung Quốc đông người cũng chỉ là cơ bắp thôi.

-Ấn Độ đông thứ hai thế giới, nhưng chính lãnh tụ thiên tài của họ là thánh Gandhi đã từng nói: “Chúng ta chống lại nước Anh, chứ không chống lại thể chế Anh”. Sau khi giành được độc lập, Ấn Độ vẫn áp dụng chính thể Quân chủ lập hiến của Anh. Gandhi còn nói: nhờ pháp luật của Anh Quốc chặt chẽ, thượng tôn pháp luật mà chúng ta có thể tay không đấu tranh bất bạo động để đòi công lý cho dân tộc.

-Không có một tác giả nào ở Âu Mỹ ao ước các giải thưởng ở châu Á. Nhưng tất cả các tác giả ở châu Á đều khao khát các giải thưởng ở Âu Mỹ.

-Không một nhà quyền quí nào ở châu Á muốn gửi con đến học tại các quốc gia châu Á. Tại sao? Vì chúng lẩm cẩm lạc hậu.

-Chỉ một phần nghìn người du học Âu Mỹ trở về đã làm giám đốc tất cả các học viện ở Trung Quốc.

-Các nhà lãnh đạo đỏ ở Trung Quốc và Việt Nam chỉ gửi con sang Âu Mỹ học, chứ đâu có thích học ở các trường đại học phương Đông? Tại sao? Vì hủ nho, dốt nát. Lúc nào cũng ỡm ờ nói nước đôi.

-Sách giáo khoa trên toàn thế giới chủ yếu là kiến thức của Tây, chứ có mấy chữ là kiến thức âm lịch của mấy anh Tầu, Việt Nam thì có không?

-Tại Việt Nam, những người xuất chúng nhất như Đặng Thái Sơn, Ngô Bảo Châu là tây học hay đông học?

-Từ Ấn Độ sang Trung Quốc và Việt Nam… những con người thành công từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có một tư duy Đông học, hay âm lịch học nào thành công không? Hay là tàn lụi đi như mấy sọt rác đòi ngâm nga mấy vần thơ vụn theo đuôi ăn sái cảm xúc? Hãy công tâm đếm đi từ chính trị đến nghệ thuật rồi văn chương và điện ảnh!

-Nhà triết học Pháp Francois Jullien còn phân tích rất kỹ rằng: văn hóa Trung Quốc đề cao “cái nhạt”, tức là nhạt hóa để không nổi trội, để an toàn ở mọi nơi. Than ôi, cả một dân tộc chủ trương sống nhạt sợ có mùi thơm lại thành mồi cho kẻ khác ăn thịt, thì còn gì để bàn nữa, mà cứ suốt ngày đòi khoe mẽ “văn hóa phương Đông”!

-Văn hóa Tầu đâu có tạo ra người biết trọng chữ tín và danh dự, chủ yếu là cậy đông lấy thịt đè người, sẵn sàng chui háng như Hàn Tín để cầu an. Việt Nam hiện nay đang nổi lên là nước giam cầm đồng tộc dưới hầm để may vá, giam trong nhà có đèn điện để trồng anh túc, nói dối tràn lan, ăn cắp theo con số chính thức cũng như môi trường có các yết thị ở các nước xung quanh là không nước nào có thể cạnh tranh giải quán quân. Còn chiếc nón truyền thống hiện đang thành nón đội sổ đội lên đầu người mang quốc tịch Việt Nam từ quan đến dân.

-Cả thế giới người ta đã áp dụng thẻ dân sự, còn mấy anh lạc hậu sau rốt của lịch sử vẫn đang áp dụng chế độ hộ khẩu, vậy mà lúc nào cũng sẵn sàng mở miệng hát khúc quân hành “văn hóa phương Đông cao chẳng kém gì phương Tây”. Chẳng bẽ bàng lắm sao?!

Nêu thế thôi, chứ thực ra nhìn vào bất kể cái gì cũng thấy kiểu à uôm lạc hậu của người phương Đông. Mấy người ngồi lê chợ búa vẫn nói “của Tây có bao giờ sai”. Họ vừa nói vừa nhấc cái chai, cái hộp có số má chỉ dẫn đàng hoàng lên. Đến tiền âm phủ họ cũng in tiền đô la để cho ông bà dưới thế được yên tâm… Bao giờ thì văn hóa phương Đông tạo cho người ta niềm tin như vậy? Nhưng than ôi, thứ ếch ngồi đáy giếng lúc nào cũng nói hai – ba giọng, thì làm sao có được cái gì rõ ràng minh bạch. Cuối cùng tôi muốn nhắn nhủ với các giáo sư, tiến sĩ âm lịch rằng: dù các vị có đông đến bao nhiêu, nhưng với cái cách kiễng chân đòi trá hàng, muốn ngang ngửa với văn hóa Tây Âu, các vị chưa bao giờ chạm ngón chân vào con đường tiến bộ được đâu. Muốn tiến bộ ư, làm gì có con đường nào khác là lý trí, công lý, minh bạch, đàng hoàng, thước đo phổ quát. Khi nào chúng ta còn lẩn trốn điều đó thì chúng ta chỉ là trẻ con tập trận giả sau góc bếp.
Read More..

9 thg 4, 2014

Lý do dân Việt nam còn chưa biết chào?!

Nguyễn Hoàng Đức

Trên báo mạng Thanh Niên on line có đăng bài “Cách chào của người Việt” của tác giả Nguyễn Văn Mỹ. Theo ông cách chào của người Việt đã mai một, ngày xưa người Việt thường chắp hai tay trước ngực cúi đầu chào. Một ông tây làm thế liền bị coi như trẻ con.

Dù vậy, cách chào đó vẫn chỉ là hành vi chào của cơ thể chứ không phải ngôn ngữ chào. Nói chính xác và chính thức, người Việt cho đến nay vẫn chưa có lời chào chính thức nào. Cụ thể, một số người nước ngoài đến Việt Nam học tiếng Việt, được dạy mỗi khi chia tay sẽ chào “tạm biệt”, nhưng họ bảo: ‘các anh dạy chúng tôi thế nhưng các anh có chào thế đâu, mà chủ yếu các anh chào “về nhé” hay “đi nhé”’.

Tại sao dân Việt chưa có lời chào chính thức, nói chính xác hơn, những lời chào được truyền thống hóa để thành kinh điển? Thực ra thì người Việt mới có chữ viết được vài thế kỷ nay, nên ngôn ngữ miệng chưa chín mọng trên trang giấy để hóa kinh viện cũng là chuyện bình thường. Xưa người Việt được chào thường hay đáp lại “không dám!” tức là luôn hạ mình xuống mức kẻ dưới, nô tài, không dám tự tin khi đưa ra lời chào đàng hoàng ngang vai vừa lứa.

Muốn có lời chào thì người ta phải biết hướng ra người khác. Nhưng cách sống của người Việt chủ yếu mới quanh co đắp vào thân lo ích kỷ vụ lợi cho mình thì làm sao có lời chào?

Để có lời chào, người Hy lạp và La Mã đã nêu cao đức tính đầu tiên của con người là Hiếu Khách. Hiếu khách trở thành một tiêu chuẩn sống đến mức tiên quyết, ai đó không hiếu khách sẽ trở thành nỗi nhục mà không còn được cộng đồng chấp nhận. Hiếu khách chính là con đường hướng đến Công Lý. Bởi phương Tây có một câu bất hủ “công lý là người thứ ba” (le juge est un tier). Trong nhà nếu chỉ có hai vợ chồng, họ cãi nhau dù minh mẫn hay chầy cối thì cả đời cũng không phân thắng bại, nhưng có một người thứ ba xuất hiện thì sự thể ngã ngũ liền theo cách có nhân chứng. Trong các vụ án cũng vậy, nếu chỉ có bên nguyên hay bên bị mà không có người thứ ba làm chứng, thì phiên tòa không bao giờ có thể tiến hành. Vì sao? Vì nó không có công lý ít nhất – là người thứ ba.

Người khác mới là con đường dẫn ta ra xã hội và cuộc đời phổ quát, bởi nếu không có người khác ấy, vai trò của người nhà vĩnh viễn chỉ là thiếu bóng dáng của người làm chứng cũng như công lý. Người khác trong học thuật còn dạy người ta biết thế nào là Khách quan – khách quan là cái nhìn của khoa học và công lý. Trái lại chủ quan là cái tự mình chỉ dẫn người ta đến cái cảm xúc cục bộ nhỏ bé. Người Khách dạy chúng ta biết lẽ sống “Vong kỷ hiến tha” thay vì “Ích kỷ hại tha”, tức là hãy hy sinh cái tôi của mình mà vì người khác, chứ không nên vì lợi cho mình làm hại người khác, như người Việt bảo “của mình thì giữ bo bo/ của người thì thả cho bò nó xơi”.

Từ việc hướng ra người khác, mà người phương Tây đặc biệt chú trọng đến xây quảng trường ở trung tâm thành phố. Đó thường là một khu đất vàng, vuông thành sắc cạnh, được gọi là “square” (ở Việt Nam có người gọi quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội là khiên cưỡng vì ở đó chỉ là đường đi qua). Tại quảng trường mọi người có thể dễ dàng đến đó thể hiện tư tưởng, tranh luận hay lắng nghe. Trong khi đó tại những mảnh đất vàng ở trung tâm thành phố người châu Á thường chỉ xây cung vua phủ chúa khép kín tường cao hào sâu để đề phòng thích khách. Đây là một quan điểm chính yếu, nhiều chuyên gia phương tây nói thẳng: các thành phố lớn ở châu Á thường lùi sâu vào trong lục địa để cố thủ, ngược lại ở châu Âu người ta thường xây bên bờ biển để ra ngoài viễn chinh. Người phương Tây bêu đầu kẻ tử tội ở quảng trường để răn đe. Còn châu Á thì thường bêu ngoài chợ là nơi mua bán. Đó cũng là cách thể hiện hai trình độ sinh hoạt. Một đằng đã ra quảng trường để sinh hoạt tinh thần. Một đằng ra chợ để lo việc dạ dầy.

Sau quảng trường, là bài học của Lập Hiến. Điều này là tất yếu, vì theo triết gia Hegel khi con người bước ra khỏi đạo đức tự nhiên của gia đình, sẽ đến các hiệp hội cùng làm ăn, sản xuất hay sinh hoạt, cuối cùng buộc phải hội tụ đến vấn đề của Nhà nước, bởi chỉ có nhà nước mới cho phép các hiệp hội có được công lý để cùng tồn tại. Và nhà nước không thể có nếu không có Lập Hiến. Sau quảng trường, thì đã xuất hiện Nghị viện Athena, rồi Nghị viện La Mã để thiết định nhà nước cộng hòa đầu tiên của lịch sử. So sánh, nói chung cho đến đầu thế kỷ 20, các nước châu Á vẫn chưa có quốc gia lập hiến đúng nghĩa, tóc bạc rồi mà vẫn bị bố hay vua nọc ra lấy roi đánh, những nhà nước phong kiến tồn tại với các vương gia hoàn toàn là cách gia đình trị. Nhà nước chỉ là tổ hợp các gia đình, đứng đầu là gia đình của vua.

Người Việt tuy nói “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, nhưng đó chỉ là ao ước nhiều hơn là thực hiện. Người Việt tính lỗ lãi trong từng lời chào. Tại sao vì người ta rất khó vượt qua ích kỷ cá nhân với những phương châm sống: “Ta về ta tắm ao ta/ dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” và “Có con gái gả chồng gần/ có bát canh cần nó cũng đem cho/ hoài con mà gả chồng xa/ một là mất giỗ hai là mất con”. Lúc nào cũng loay hoay cái nhìn vơ vào cho bản thân cũng như nhóm lợi ích thì làm sao hướng tới người khác để có lời chào?! Tôi đã gặp không ít người, đến bất kỳ đâu họ cũng gật gật như thể không có thói quen chào thành tiếng, nhưng không phải, một lần tôi thấy họ nhìn thấy người có chức vụ cỡ trung trong tỉnh thôi, họ đứng lại nghiêm trang chào thành tiếng cách 10 m vẫn nghe rành rọt từng lời “Em chào anh B ạ”.

Tại sao có tâm lý này? Đó là tâm lý của nô tài, tính lỗ lãi từng ly từng tí. Vì tâm lý nô tài nên họ mặc cảm rằng chào ai thì thua thiệt, nhưng khi gặp người có quyền chức tâm lý nô tài lại sợ hãi chào thật to, thậm chí khi được chào phải đáp lại “không dám”.

Thật ra lúc nào tôi cũng muốn nhắc lại câu của thi sĩ Tản Đà “Dân hai nhăm triệu ai người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”, nhưng sợ nhắc nhiều quá thành lạm dụng và khiến người khác khó chịu, nhưng quả là người Việt rất ít người trưởng thành. Kể cả nhiều loại giáo sư tiến sĩ, nhà văn, nhà thơ. Gặp nhau thì ậm ừ không dám chào thành tiếng, rồi đưa tay bắt thì lại đưa tay trái úp xuống như ban ơn cho người ta, nhưng gặp cấp trên thì bố bảo không dám làm thế, còn ở nhiều vùng quê thì là anh không sang nhà em, là anh không xới cơm cho em. Uống rượu với nhau thì đùn nhau rót rượu, cho rằng mình rót rượu thì hạ mình xuống. Nhiều cô gái đi đâu ăn uống không dám chia sẻ việc bếp núc, rửa bát với chủ nhà hay bạn bè, sợ mình tụt xuống dạng con ở, hoặc ngại do lười biếng. Nhưng người có tự chủ đích thực đâu có dễ bị tụt dẳng cấp như vậy. Vả lại trong một bữa ăn chẳng lẽ có thể vui nếu người ta không có khả năng chia sẻ hay tham dự cùng bữa ăn đó?
 
Thế nào là cùng ăn – cùng vui? Đấy là tâm lý thường trực cảnh giác tính toán của kẻ dưới, lúc nào cũng sợ mình bị kém phân. Trong khi đó người phương Tây chỉ cần trên đôi mươi hầu hết đã có dáng cư xử của quí ông, quí bà, đi đâu làm gì họ đều biết sống theo văn hóa, chức năng, và bổn phận . Có phải, chính thế mà người ta mới coi châu Á là dã man mọi rợ?!

Người Việt mình thực tế là vậy đấy, một lời chào chính thức còn chưa có, nhưng có ai bàn đến cái xấu thì bảo “nước nào chẳng có cái xấu ấy”. Hôm qua tôi vừa nghe tin tuyến tầu điện ngầm ở Panama vừa mở sẽ cho tất cả dân chúng đi miễn phí trong 3 tháng. Liệu Việt Nam có làm được thế không? Việc cho dân chúng đi miễn phí sẽ rất khôn ngoan vì trước hết nó tạo ra thói quen, thứ hai nó tạo ra món quà “mang ơn” để mọi người gắn bó đi tầu, trí khôn đó liệu người Việt có học tập được? Trí khôn đó cũng là cách sống thiện chí để tạo đạo đức lâu dài. Với cái khôn vặt vãnh ăn liền ma cà chớp của tâm lý tiểu nông, liệu người Việt có học theo được thứ lòng tốt đó? Cũng khó lắm thay bởi có phương ngôn: tiểu nhân nghĩ được tốt cũng không làm được tốt bởi bị cái lợi nhỏ bé dẫn đi!

Người Việt vẫn còn chưa biết chào, đấy là bằng chứng ngôn ngữ khó lòng chối cãi. Mong rằng từ đó giúp chúng ta phản tỉnh suy xét nhìn lại mình. Một quốc gia nếu có nhiều người tiến bộ thì nó mới hùng mạnh, ngược lại nếu chỉ có vài mống nói rằng “nhà tôi không vậy”, thì làm sao cái nhà tôi đó biến thành một quốc gia lập hiến cao cả và tốt đẹp?! Xin cám ơn.
Read More..