Search...

Giới thiệu về tôi

Vũng Tàu, Đông Nam Bộ, Vietnam

8 thg 7, 2020

..."Thơ giống như thứ bệnh truyền nhiễm, càng ở chỗ có hơi rượu càng dễ lây. Thế là cả mâm rượu hôm ấy biến thành câu lạc bộ thơ. Chẳng ông nào chịu kém ông nào. Những câu thơ phều phào, nhếnh nháng rớt xuống phản, một lát sau bắt đầu chảy thành dòng xuống nền nhà. Nền nhà nhơm nhớp, sền sệt thơ. Rồi lõng bõng. Rồi dâng cao. Guốc dép lập lờ. Đám đàn bà con gái từ dưới bếp nhao lên, xô chậu loảng xoảng, hò nhau múc thơ đổ ra ngoài. Lão ngồi dựa lưng vào tường, nửa tỉnh nửa say, nửa nghe nửa nhìn những âm thanh hình ảnh quay cuồng xung quanh. Ông anh họ gục mặt xuống đùi lão, ngáy ằng ặc".

BIẾN HÌNH
Truyện ngắn của TRẦN ĐỨC TIẾN

 Con tắc kè. Con tắc kè núp sau chum nước. Con tắc kè may mắn của lão. Con tắc kè chưa bao giờ lão nhìn thấy mặt. Sáng nay nó lại về.
 Những tiếng kêu cuối cùng của nó nhỏ dần, tắt lịm. Lão cũng từ từ thoát ra khỏi giấc ngủ ngắn và nông. Giấc ngủ đến vào lúc tảng sáng, sau gần một đêm quần nhau với những câu thơ bất trị. Những câu thơ cố tình trêu ngươi lão, chợt hiện chợt biến như chơi trò trốn tìm. Thỉnh thoảng lão giật mình như đã tóm được chúng. Lão quờ tay, vớ lấy cây bút chì vót nhọn để sẵn ở đầu giường. Lập cập giở tập giấy nháp. Nhưng khi ngọn-giáo-bút-chì nhăm nhăm chực đóng đinh những vần thơ lên trang giấy thì chúng, những vần thơ có cánh ấy, lại vụt bay đi. Trò chơi diễn ra không ngừng nghỉ khiến lão mệt lả. Cuối cùng thì vẫn có những bài thơ được ra đời. Những bài thơ đủ cả mở đầu lẫn kết thúc. Chúng sẽ được chuyển cho con gái lão - nhân viên văn phòng của một công ty trong thành phố - đánh máy, in ra bằng máy vi tính. Thoạt đầu, khi nhìn những con chữ in ngay ngắn, đều tăm tắp, lão ngạc nhiên tự hỏi: có đúng là thơ của mình không? Cái câu này có phải là của mình, hay người khác đã sửa hộ? Rõ ràng bản thảo in vi tính khác xa với thứ bản thảo nguệch ngoạc viết tay. Chất lượng thơ hơn hẳn. Thêm đến mấy chân kính. Chẳng khác gì thơ đã được in báo. Nhưng đấy chỉ là cảm giác ban đầu. Khi quen rồi, lão buồn rầu nhận ra cả tập giấy A4 kia thực ra vẫn chỉ kín đặc xác chữ - kết quả của những cuộc săn đuổi bất thành trong đêm.
 Có những đợt con tắc kè đi vắng. Như một kẻ rời nhà đi làm ăn xa. Những hôm đó lão phải tự thức dậy từ rất sớm. Mọi thứ được chuẩn bị sẵn sàng từ tối hôm trước. Những bài thơ soạn riêng theo từng chủ đề đã nằm gọn trong chiếc túi vải. Lão chỉ việc mang chúng đến các toà soạn. Cô con gái thấy lão sửa soạn lên đường thì nói vọng ra từ trong màn: "Bố lại đi đơm đó à"? 
          Cái gì? Đơm đó? Ờ... ờ... Lần đầu tiên nghe đứa con thốt ra câu đó, lão chưa kịp hiểu ngay. Nhưng khi hiểu rồi thì lão mỉm cười. Con bé hóm thật. Nó ví cái việc đi gửi thơ đăng báo của lão giống như anh chàng nhà quê mỗi sáng lọ mọ xách đó đi đơm. Nhưng lão biết nó chỉ trêu đùa thế thôi. Chứ ngày nào nó cũng dành thì giờ rỗi ở công ty cặm cụi đánh máy và in bản thảo giúp bố. Lão đã thả không biết bao nhiêu cái đó rồi, và vẫn tiếp tục chờ đợi. 
 Thành phố nơi lão sống không lớn, nhưng cũng có một tờ báo ra hàng ngày, một tờ ra hàng tuần vào ngày chủ nhật, một tờ tạp chí ra hàng tháng, và không dưới mười tờ khác ra bất thường dưới dạng bản tin hay đặc san... Tất cả đều có in thơ. Cung cấp xong thơ cho những nơi đó thì gần hết buổi sáng. Lão khoan khoái đạp xe đến thư viện. Tiếp theo là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong ngày. Phòng đọc của thư viện yên tĩnh, vắng vẻ. Lão là khách quen ở đây - người khách duy nhất chẳng cần thẻ mà vẫn được tự do ra vào, tìm chọn sách báo trên giá. Lão lần lượt giở những tờ báo quen thuộc, và dừng lại rất lâu ở những trang thơ. Vẫn như mọi lần, không có tờ nào in thơ của lão. Nhưng điều đó chẳng hề gì. Miễn là thơ vẫn có mặt. Thơ của ai cũng được. Thế giới điên đảo đến cỡ nào thì thơ vẫn sống. Lão không thể hình dung báo chí lại chỉ rặt những tin tức chiến sự, khủng bố, bắt cóc con tin, dịch bệnh, giá vàng, giá dầu mỏ, thị trường chứng khoán, tốc độ tăng GDP, những cuộc viếng thăm mặc cả trên bàn hội nghị của các nguyên thủ, các cô gái miền Tây đua nhau lấy chồng ngoại, không khí nghẹt thở của các kỳ thi đại học hay những núi dưa hấu, vải thiều thối rữa vì tắc nghẽn ở các cửa khẩu... Lúc ấy chắc phải là ngày tận thế. 
 Niềm tin thơ sống dai của lão còn được củng cố bằng một lần về thăm quê. Sau mấy chục năm bỏ làng đi sinh sống làm ăn ở nơi khác, tận đến lúc về hưu lão mới có dịp quay về. Trời ơi, cái làng ngày xưa của lão đây ư? Những ngôi nhà tường đất, mái rạ lụp xụp xiêu vẹo. Đường trong xóm bùn lầy đến mắt cá chân. Những cặp mắt ngơ ngác tò mò... Chẳng có gì khác trước. Vợ chồng lão ở chơi nhà ông anh họ. Mâm cơm đãi khách dọn ra, chỉ có mấy lão già được ngồi xếp bằng tròn trên tấm phản ở nhà trên, còn bọn đàn bà con gái vẫn phải xúm xít chấm mút với nhau dưới bếp. Ông anh họ hai hàm răng chỉ còn toàn lợi, uống là chính, cao hứng nâng chén rượu lên ngang mày, đọc bài thơ vừa sáng tác mừng chú em trở về sau bao năm lưu lạc. Thơ giống như thứ bệnh truyền nhiễm, càng ở chỗ có hơi rượu càng dễ lây. Thế là cả mâm rượu hôm ấy biến thành câu lạc bộ thơ. Chẳng ông nào chịu kém ông nào. Những câu thơ phều phào, nhếnh nháng rớt xuống phản, một lát sau bắt đầu chảy thành dòng xuống nền nhà. Nền nhà nhơm nhớp, sền sệt thơ. Rồi lõng bõng. Rồi dâng cao. Guốc dép lập lờ. Đám đàn bà con gái từ dưới bếp nhao lên, xô chậu loảng xoảng, hò nhau múc thơ đổ ra ngoài. Lão ngồi dựa lưng vào tường, nửa tỉnh nửa say, nửa nghe nửa nhìn những âm thanh hình ảnh quay cuồng xung quanh. Ông anh họ gục mặt xuống đùi lão, ngáy ằng ặc.
 Ngày hôm sau, hai vợ chồng lão ra nghĩa địa đầu làng thắp hương cho bố mẹ. Cả cánh đồng nước ngập trắng băng, leo heo phơ phất mấy ngọn cỏ. Trận mưa hôm trước to chưa từng thấy. Lão đứng chắp tay khấn vọng ra đồng nước, rồi rưng rưng cắm mấy nén nhang vào gốc tre.
 Không ngờ cái làng Tó của lão lại giàu truyền thống thơ phú đến thế. Thơ là món đặc sản của làng. Ông anh họ lão còn khoe thơ làng Tó sắp được thế giới công nhận di sản văn hoá phi vật thể! Lão nghe, nổi da gà. Lão xa quê gần trọn cuộc đời, nhưng lão vẫn là con dân của làng. Vẫn mang trong máu cái truyền thống đó. Giờ về quê gặp ông anh họ và đám bạn thơ của ông ta, lão lại càng thêm hãnh diện và tin tưởng. 
 Nhưng đúng lúc đó, lúc lão đang cắm mấy nén nhang vào gốc tre, hình như mụ vợ lão có nói một câu. Lão nhớ không chắc lắm... "Cả làng ông nghiện thơ, trông mặt đứa nào cũng như mặt...". Một câu duy nhất, nhưng cái tiếng cuối cùng lại mất hút trong gió đồng. Lão chưa kịp nghe rõ tiếng cuối cùng. Lão định hỏi lại, nhưng sực nhớ mụ đã tắt kinh. Từ lúc lão về hưu, vợ lão trở nên ít nói. Tắt kinh, mụ càng lầm lì, khinh khỉnh. Hỏi không nói, gọi không thưa. Khi lão bắt đầu mang thơ đi gửi mỗi sáng thì mụ chuyển sang ăn chay, một ngày tắm ba lần và thân thể hoàn toàn mất mùi. Mỗi khi mụ nằm ngủ, con mèo trong nhà lén đến bên, ghé mũi vào người mụ và hít hít một cách nghi hoặc. Bao nhiêu năm qua rồi, cái câu nói mất tiếng cuối cùng của mụ trở đi trở lại trong đầu lão. “Cả làng ông nghiện thơ, trông mặt đứa nào cũng như mặt…”.
 May, con tắc kè sáng nay lại xuất hiện. Xưa nay lão chỉ nghe tiếng kêu, đoán nó núp sau chum nước, nhưng không có ý định đi tìm nó. Tắc kè thì lão còn lạ gì. Con nào chả giống con nào. Người ta chở cả lồng sắt những con vật sần sùi, mốc meo ấy đi bán rong ngoài phố. Rồi những cái bình rượu ngâm tắc kè thoạt nhìn đã rùng mình. Một lần, lão nhắm mắt nhắm mũi ực một ly rượu ngâm tắc kè, cái thứ nước xanh nhớt và tanh lợm ấy ám lão cho đến tận bây giờ. Con tắc kè này mỗi khi đi xa về lại kêu vọng vào: tắc kè! tắc kè! Như có ý báo cho lão biết. Đã về. Đã về... Thật ra cũng chẳng có gì rõ ràng. Bẵng đi một thời gian không nghe tiếng nó kêu, thế rồi một sớm tinh mơ nào đó lại nghe những âm thanh rụt rè vang lên sau chum nước. Cứ thế không biết bao nhiều lần. Thơ lão chưa bài nào được đăng. Nhưng lão vẫn cảm thấy mừng mỗi khi con tắc kè quay lại. Có một sự may mắn mơ hồ thấp thoáng trong tiếng kêu của nó. Tiếng kêu như điềm lành dành riêng cho lão. Chỉ cần kiên nhẫn thêm chút nữa. Rồi cái dịp may ấy sẽ xuất hiện. Chắc là...! Chắc là...!  
 Ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời, mọi chuyện diễn ra trơ trẽn, buồn tẻ hơn những gì trong đêm lão tưởng tượng. Mồ hôi dấp dính lưng áo lão. Lão đứng trước cửa phòng tiếp khách của một toà báo, rụt rè cúi đầu chào mấy người đi ngang qua. Chẳng ai để ý đến lão. Lão cũng chỉ nhớ mặt đúng một người. Người ấy đang ngồi trong phòng kia, bên chiếc bàn ngổn ngang ấm chén pha trà, chiếc gạt tàn thuốc lá đầy ắp còn bốc khói. Gã đang ba hoa với mấy vị khách. Mấy vị khách, người để râu, người cạo trọc, người đội nguyên mũ phớt trên đầu, cũng hoa chân múa tay, ầm ĩ không kém. Thoáng thấy lão, gã khựng ngay lại:
 - Có gì không bố già?
 Tự nhiên cổ họng lão ắng đi. Lão cố gượng cười, tiến lên mấy bước. Họ cũng đang nói chuyện thơ. Lão đến có đúng lúc không đây? Những người khách bỏ dở câu chuyện, quay ra nhìn lão.
 - Còn chữ nào chưa ổn à?
 Giọng của cái thằng chỉ đáng tuổi con lão đã ngả sang vẻ giễu cợt. Nhưng lão lại cảm thấy nhẹ người. Nó đã biết tỏng mọi chuyện, đã quá quen với những tình huống lặp đi lặp lại nhiều lần.
 - Của bố đây!
 Gã mở ngăn kéo, chẳng mất công lục lọi lâu la gì, rút ngay tập bản thảo và quẳng lên bàn.
 Lão thở phào, rón rén bước lại, cầm tập bản thảo lên và chọn ra một bài. Lập cập tìm chiếc bút bi trong túi vải. Rồi cứ đứng nguyên như thế, lão cúi xuống hí hoáy trên trang giấy.
 Xong. Đúng một chữ. “Dập dồn” sửa thành “bồn chồn”. Cả đêm qua lão trằn trọc. Đến khi thiếp đi thì “bồn chồn” mới xuất hiện. Lão tự nhủ ngay đầu giờ sáng mai phải đến xin chữa lại...
 Hầu như đêm nào cũng có những chữ định chơi xỏ lão. Không chữ này thì chữ kia, không ở bài này thì ở bài khác. Chúng trà trộn trong đám chữ nghĩa. Rồi bất thình lình chường cái mặt đần độn của mình ra và bị lão tóm được lôi ra khỏi hàng. Lão sẽ thay chúng bằng những chữ mới. Lão cần mẫn làm việc đó, thỉnh thoảng được đền bù bằng những niềm vui nho nhỏ. Nhưng cũng có khi những chữ cũ quay lại mà lão không biết. Gã nhận bài ở toà báo ấy thoạt đầu vô cùng ngạc nhiên, sau đâm cáu, rồi cuối cùng cũng quen dần, hết cả cáu. Sau khi nhận lại bài thơ đã sửa một vài chữ gì đó, gã chẳng buồn liếc qua, tống ngay vào ngăn kéo bàn. Trong ngăn kéo gã đã cẩn thận dành cho lão một chỗ riêng, để ngày mai lại lấy ra thật nhanh.
 - Tình ca trên sóng - Lần này gã không cất ngay bài thơ, nhẩn nha đọc to lên cái đầu đề, tuồng như để cho mấy người khách cùng nghe - Tình ca trên sóng... Tình ca trên sóng... Lửa niềm tin thắp sáng cả giàn khoan.  Anh gửi về cho em... Bố già! - Gã giật giọng cắt ngang câu thơ - Con nói thật nhé. Thơ bố cứ giàn khoan giàn khiếc, niềm tin niềm tiếc mãi thế này không in được. Sao bố không viết... tình ca trên chiếu?
 Có mấy tiếng cười bị ém nhẹm. Lão đứng như chôn chân xuống đất. "Nó nói đùa... nói đùa... Đùa ấy mà”... Lão cố gắng tự nhủ. “Nó còn trẻ. Giống như con gái mình". Mồ hôi lại rịn ra ướt áo. Áo dính vào lưng. Hôm nay mồ hôi ra nhiều thế không biết. Lão muốn thoát ra khỏi mồ hôi. Muốn thoát ra khỏi những nụ cười đang căng phồng lên trong những vòm miệng.
 - Ờ ờ...
 Lão lẩm bẩm, mỉm cười gượng gạo, rồi bước giật lùi ra cửa.
 - Bố làm cái quái qủy gì ở cơ quan người ta thế? - Lần này thì đứa con gái không đùa.
 Nó xổ ra một thôi một hồi. Người ta đã gọi điện đến cho nó. Người ta phàn nàn ông lão ngày nào cũng đến làm phiền họ. Giá như đến để tán chuyện thì còn có thể chấp nhận. Mất thì giờ thật, nhưng thư giãn. Đằng này ông lão cứ lừ lừ dúi bản thảo cho họ. Mà bản thảo là cái gì mới được chứ? Thơ! Toàn thơ là thơ. Toàn thơ rác, không in được. Chất hàng đống. Một mình ông lão bằng tất cả những cộng tác viên khác gộp lại. Như thế quá bằng khủng bố họ... Một cán bộ biên tập của toà soạn đã là nạn nhân. Anh này đang đọc thơ của ông lão thì ngã quay cu đơ ra sàn, mắt trợn ngược, cổ họng ngắc ngắc như gà ăn phải lưỡi câu. Tất nhiên bệnh viện phải làm xét nghiệm để có kết luận chính thức xem anh ta ngộ độc thực phẩm hay bội thực văn vần. Và thơ của ông lão có mặt đúng lúc đó chỉ ngẫu nhiên tình cờ hay chính là thủ phạm gây tai họa. Có những điều hết sức tế nhị khiến họ không thể đặt thẳng vấn đề với ông cụ. Họ muốn nhờ nó...
 Lão há mồm chịu trận.
 Một tuần sau lão nằm móp ở nhà, không hé răng nói với ai câu nào. Đơn phương hủy bỏ vô thời hạn việc cung cấp thơ cho các báo trong thành phố. Nhưng chính trong lúc tổn thương đau đớn nhất thì lão lại cảm thấy mình gần thơ hơn cả. Lão mất ngủ nhiều hơn, nhưng thơ đến với lão ân cần hơn. Đêm nào lão cũng làm xong một bài, thậm chí hai, ba bài. Lão thấy người khoẻ hẳn. Lại rụt rè đưa bản thảo cho con gái. Và đứa con gái đã thôi giận, lẳng lặng đem thơ của bố đến cơ quan.
 Lão không đầu hàng. Lão rút kinh nghiệm. Toà báo nào cũng có một cái hòm thư to tướng ngoài cửa. Lão cứ việc bỏ thơ mình vào đó. Chẳng làm phiền ai. Tất nhiên không thể yên tâm bằng việc đưa tận tay, nhưng thoải mái dễ chịu. Có thể chậm hơn một tí, nhưng đằng nào cũng đến tay họ. Gửi theo cách này cũng chẳng ảnh hưởng đến nhu cầu sửa chữa bản thảo hàng ngày của lão - nếu muốn, lão sửa ngay từ nhà và chỉ việc ghi thêm mấy chữ lên trang đầu: "bản chính thức". Một bài thơ của lão đâm ra có nhiều bản chính thức. Chính thức 1. Chính thức 2. Chính thức 3… Chính thức sau thay cho chính thức trước. Cứ thế.
 Con tắc kè may mắn đã về. 
 Con tắc kè sáng nay vẫn núp sau chum nước.
 Nhưng lần này thì lão nhìn thấy nó. Cặp mắt nó mệt mỏi lờ đờ. Đôi đồng tử vàng vàng đùng đục. Những nếp nhăn ở đuôi mắt. Da mặt mông mốc với những vết sạm như đồi mồi. Con tắc kè đang nhìn lão. Lão cũng âu yếm nhìn con vật. Tất cả những đường nét trên mặt nó hiện rõ dần, rõ dần, giống như bức ảnh trên tấm giấy ảnh ngâm thuốc hiện hình trong buồng tối. Và khi đã trở nên hoàn hảo thì đấy chính là bức chân dung của lão. Một bức chân dung viền khung đen.
 TIN BUỒN.
 Vài dòng tiểu sử.
 Ngày tháng năm qua đời.
 Những dòng chữ bên cạnh bức chân dung.
 Nhưng cái thu hút sự chú ý của lão hơn cả là một bài thơ. Báo in trang trọng bài thơ của người đã khuất bên cạnh tin buồn. Như muốn ghi nhận sự đóng góp không hiệu quả nhưng bền bỉ của người cộng tác viên thầm lặng.
 Lão sửng sốt ngắm bài thơ của mình trên báo. Lần đầu tiên thơ lão được in. Một niềm hạnh phúc khôn tả nâng bổng lão lên trời.
 - Sáng rồi, dậy đi đơm đó thôi bố ơi...

(Rút trong tập "Lỏng và tuột")
Read More..

20 thg 6, 2020

Quê hương!


Trên Fb đôi khi mình bắt gặp những tấm hình: căn nhà, mảnh vườn xưa với những dòng trạng thái bùi ngùi, thương nhớ. Mình biết đều là của các bạn đã xa quê lâu năm.

Mắt mình nhiều khi cũng nhoè đi khi thấy những tấm hình và đọc những dòng trạng thái ấy.

Anh bạn mới ra thăm quê, sáng nay ngồi cafe với mình lại bùi ngùi kiểu khác. Anh kể, ra Hà nội dự cưới đứa cháu gái. Xong việc rồi, còn ngày nữa mới bay vào bèn thuê taxi về quê. Chả còn ai cả. Họ hàng anh em phiêu bạt hết rồi. Căn nhà xưa, sau mấy năm ông bà mất lại không có ai trông nom đã đem bán cho một người trên thị xã. Nghe nói họ cũng đang ở bên Tây, mua rồi để đấy, cỏ vườn mọc ngút đầu. Đỗ xe, đứng ngoài hàng rào, nhìn căn nhà, mảnh vườn xưa ít phút. Rồi đi.

Một ý nghĩ trùng lặp, mình và anh cùng cười. Về quê để nhìn ngắm (quê hương) của người ta. Khái niệm "Quê hương" của người Việt mình gợi thật. Vừa gần lại vừa như xa tít tắp. Vừa như sờ thấy được rồi lại chả thấy gì. 

Có lẽ cứ mộc mạc như anh Tây lại dễ hiểu. Tổ quốc, Quê hương (HomeLand) chính là nơi ấy.

(HomeLand: ghép chữ nhà cửa và đất đai)
Read More..

15 thg 6, 2020

Read More..

14 thg 6, 2020


BIỆT THỰ, MÈO, RĂNG GIẢ
VÀ NHỮNG CHUYỆN KHÁC 
(Truyện ngắn của TRẦN ĐỨC TIẾN)

          Gốc cây trứng cá ngoài hè phố, tầm bốn giờ chiều. 
          Nắng chỉ còn vàng rực ở dãy phố bên kia. Dãy bên này đã chìm trong bóng rợp. 
          Đầu tiên là ả Thắm với hai tay hai chiếc ghế nhựa xách theo từ nhà. Ả ngồi xuống một chiếc, ngửa cổ xoã mái tóc ra sau lưng. Mái tóc vừa gội dày rậm, đen nhức mắt. Chiếc ghế còn lại đặt bên cạnh.
 Người thứ hai là lão Bật. Lão vừa đi công chuyện về, chỉ kịp đẩy cái xe đạp vào sân nhà mình rồi lững thững bước đến chiếc ghế trống dành cho lão. Trông mặt lão hôm nay không được vui.
 Tiếp đến là thằng Nhỡ. Thằng này phải đợi đến khi lão Bật đã yên vị mới xuất hiện. Nhìn lão Bật bên cạnh ả Thắm, nó hú lên một tiếng ngắn thay câu chào rồi ngồi xuống đống nắp hố ga cũ - những tấm xi măng trơ lõi sắt thải ra từ lâu mà chưa dọn đi.
 Cuối cùng là con mèo. 
          Con mèo có bộ lông đen tuyền, nhảy vọt một phát lên bức tường phía trước khuôn viên ngôi biệt thự bên kia đường. Bức tường kiên cố với cánh cổng sắt suốt ngày khóa im ỉm. Đằng sau tường là khoảng sân rộng trồng nhiều cây. Cây cối ở đây từng có thời được chăm sóc tử tế, nhưng bây giờ để mọc tự do như cây hoang. Ngôi biệt thự nằm sâu phía trong, khuất sau cây. Từ bên này nhìn sang chỉ thấy cái mái ngói có chóp nhọn nhô lên và thấp thoáng một phần khung cửa sổ lóa nắng.
 Giờ này đường phố vắng người qua lại.
          Con mèo quay đầu nhìn chằm chằm sang bên này. Thấy không có gì đe doạ, nó vươn vai, bước thêm mấy bước rồi khoan khoái nằm xoài xuống khoảng tường trống.
 - Dứt khoát phải có người trong ấy - Lão Bật khai mào câu chuyện - Phải có người trong ấy cho nó ăn hàng ngày, nó mới nhởn nhơ như vậy.
 - Không thì thành mèo hoang từ lâu rồi, bác nhỉ? - Ả Thắm phụ hoạ.
 - Không mèo hoang thì cũng rơi vào tay bọn trộm mèo. Mèo đen bị săn lùng dữ lắm… 
 - Cái giống ấy khỏe hơn mèo thường hả bác? Em còn nghe nói thịt mèo đen chữa nhiều bệnh.
 - Cả thịt cả xương. Thịt làm ruốc. Xương thì rang lên cho giòn rồi giã ra thành bột. Hồi còn chiến tranh, các phi công lái máy bay chiến đấu mỗi tuần được ăn một bữa ruốc mèo đen. Để tăng cường thể lực. Nhất là để… nhanh như mèo.
 - Thế à? Giờ bác nói em mới biết.
          - Thế buổi tối cậu có thấy đèn sáng ở bên ấy không? - Lão Bật lái câu chuyện lại.
 - Không. Không thấy bật điện. Nhưng hình như có thắp nến - Ả Thắm do dự - Chỉ chập chờn một tí rồi tắt.
 - Sớm hay muộn?
 - Tầm sắp lên giường ngủ.
 - Không thấy người à?
 - Không… Mà em cũng không biết chắc.
 Một thoáng im lặng nghĩ ngợi. Bỗng nhiên lão Bật gầm lên:
 - Tao sẽ kiện bố con mày ra toà!
 Thằng Nhỡ giật nảy người như bị sét đánh. Đúng lúc ấy ả Thắm ngửi thấy mùi phân lợn. Mùi phân bốc ra từ phía nhà thằng Nhỡ, theo gió chạy dọc con đường.
 Lão Bật nghiến nghiến hàm răng giả. Đang chuyện nọ xọ chuyện kia. Nỗi bực bội mà lão nhịn từ chiều bây giờ mới có cớ để xả. Hồi chiều, khi thấy cái thằng cán bộ ở toà án nhận lá đơn của lão mà mặt lạnh tanh, lão lại nhắc: vụ này quan trọng đấy! Không dè thằng kia nhếch mép: vụ đếch nào của bác chả quan trọng? Lão ớ ra. Có bao giờ nó nói với mình cái giọng ấy đâu nhỉ? Nó mỉa lão? Nhưng hình như nó đúng. Lần nào nộp đơn lão cũng nhắc câu này. Quen miệng mất rồi. Lão gượng cười đứng dậy. Ra đến cổng máu mới kịp bốc lên đầu. Mẹ, lại chả quan trọng? Không quan trọng thì ông đến tòa làm đéo gì? Chúng mày cũng biết quan trọng mà chúng mày lờ tít? Ngày ông tốn ba bữa cơm, viết hết đơn này đến đơn khác để cho chúng mày quẳng vào sọt rác à? Lão tính lộn lại làm toáng lên một trận. Nhưng cái nắng buổi chiều gay gắt quá. Nắng xói vào mặt lão. Một giọt mồi hôi chầm chậm chui vào mắt. Có quan trọng thật không nhỉ? Có quan trọng đến thế không?... Mắt lão cay sè. Lão đã ở ngoài đường mất rồi. Như người trót lỡ đà, lão buồn bã nhảy lên xe rồi chầm chậm đạp về. Bây giờ, trút cái hậm hực vào mùi phân lợn, vào bố con thằng Nhỡ.
 Cần phải nói thêm: lão Bật nổi tiếng là người hay kiện tụng. Nổi tiếng đến mức thoáng nhìn thấy lão ngoài đường là người ta vội tìm cách lỉnh. Thời buổi này không ai dám chắc mình không có tội. Trong cái thành phố con con lão Bật đang sống, lão phát hiện ra ti tỉ chuyện chướng tai gai mắt, đáng phải đưa ra toà. Nhà xây lấn ra hè. Bãi rác không người dọn. Đèn đường hỏng không chịu thay. Cột điện đổ vào nhà dân. Quán karaoke mở nhạc ầm ĩ.  Mại dâm, ma túy công khai. Chồng bạo hành vợ, bố bạo hành con, cháu bạo hành bà. Những khoản thu vô tội vạ bổ vào đầu dân phố. Ông A nhận hối lộ. Bà B có dấu hiệu tham nhũng… Có cả những chuyện mà chỉ lão mới nghĩ đến việc đi kiện: một gã nát rượu giữa trưa cởi hết đồ tồng ngồng chạy ra đường; một quý bà gặp ai cũng len lén che miệng nhổ nước bọt. Người ta còn kể có lần suýt nữa lão đâm đơn kiện chính lão! Lần ấy lão uống phải rượu đểu ở một cái quán bình dân, uống xong vạch quần đái ngay trước cửa quán. Tỉnh rượu nghe nói lại, lão giận lão tím mặt. Để tránh gây khó dễ cho tòa, lão hủy lá đơn tự kiện mình; nhưng để cho công bằng, lão bỏ qua luôn việc kiện thằng chủ quán bán rượu đểu. 
          Nói tóm lại đơn kiện của lão Bật nhiều đến mức, nếu rải ra từng tờ thì sẽ phủ kín các con đường trong thành phố. Nhưng có lẽ chính vì tràn ngập các vụ việc như thế nên toà lúng túng chưa biết thụ lý vụ nào. Bất chấp sự bị động kéo dài hoá chai lỳ của toà, ít thì ba ngày, nhiều thì năm ngày, lão Bật lại khởi kiện một vụ mới.
 Chuyện bố con thằng Nhỡ nuôi lợn giữa phố khiến nhiều nhà phẫn nộ. Chỉ vì thương tình nên lão Bật chưa nỡ động đến. Mẹ thằng Nhỡ mất sớm. Bố nó hành đủ nghề ba vạ: khuân vác, phu hồ, xe ôm… Nhà nghèo dúi nghèo dụi. Cả hai đứa bỏ học ở nhà chăm đàn lợn. Cái chuồng lợn là cái mái nhà vẩy thêm ra mảnh sân trước. Chẳng khác gì lợn chung sống với người.
 - Bố con mày làm ô nhiễm cả khu phố. Biết chưa?
          Thằng Nhỡ không nói gì, hú lên một tiếng to. Trước tất cả mọi chuyện vui buồn sướng khổ kỳ lạ bất ngờ nguy hiểm hay gì gì nữa trên đời, thằng này chỉ có độc một phản ứng là hú. Bố nó cũng thế. Em gái nó cũng thế nốt. Lão Bật là hàng xóm nhà nó mà chưa khi nào nghe thấy họ nói với nhau một câu cho ra hồn. Tiếng nói là thứ xa xỉ, chẳng ai dùng. Toàn hú. Gọi nhau, hú. Bằng lòng hay không bằng lòng, hú. Xin lỗi hay cảm ơn, hú. Đến bữa, cả nhà ngồi vào mâm cơm, một người hú lên, những người khác cầm đũa. Ra khỏi nhà đi đâu xa thì hú lên một thôi dài như hồi còi tàu tạm biệt bến cảng.
 Nghe tiếng hú, con mèo đen khẽ giật mình. Nó dỏng tai nhìn sang bên này. Trong đôi mắt mở to trong veo của nó vừa có một giấc mơ tan vỡ.
 - Tóm lại là cậu chưa bao giờ nhìn thấy người ở bên ấy? - Lão Bật nối lại mạch chuyện với ả Thắm.
- Có chứ ạ? Em nhìn thấy bà ấy đánh xe ra khỏi nhà đúng một lần. Hì hì.
- Bà chủ biệt thự á?
- Vâng.
- Thế mà tớ không nghĩ là bà đâu nhá. Tớ vẫn tưởng là ông.
- Không. Là bà.
- Lâu chưa? Cái lần cậu nhìn thấy bà chủ ấy?
- Từ hồi em mới chuyển về đây cơ.
- Mấy năm rồi nhỉ?
- Kém một tháng đầy năm năm.
 Lão Bật liếc nhìn mái tóc buông chùng của ả Thắm. Mái tóc chưa khô hẳn, còn thoang thoảng mùi dầu gội đầu. Hai má tròn. Cặp môi mòng mọng. Nhưng đôi cánh tay trần của ả mới làm cho lão hoa mắt. Mỗi lần ả vòng tay qua đầu xõa xõa tóc, lão lại thoáng thấy hai bên nách trắng ngần. Ruột gan lão nhộn nhạo lên. Cổ họng lão khô đắng. Lão nuốt vụng nước bọt cho trôi vị đắng. Năm năm. Ả Thắm có vẻ như không thay đổi. Còn đẹp ra nữa. Nhưng lão thì già đi nhiều. Qua tuổi năm mươi tuột dốc nhanh kinh khủng. Năm năm trước hai hàm răng còn nguyên. Năm năm sau, bảy cái ở hàm trên nối đuôi nhau rụng. Lão phải làm một hàng răng giả. Những cái răng giả màu trắng ngà, sắp xếp thật tự nhiên. Sáng nào trong toilet, lão cũng soi gương, nhệch miệng ra cười để ngắm răng. Thế quái nào mà lão lại cảm thấy răng giả còn thật hơn cả răng thật! Hồi còn răng thật, cái nụ cười của lão gượng gạo lắm. Lão chưa bao giờ biết cười tươi, nhất là khi chụp ảnh. Trong những tấm ảnh còn giữ được, lúc nào mặt lão cũng nghiêm như chào cờ. Từ khi lắp răng giả lão không ngại chụp ảnh, nhưng thỉnh thoảng lại sực nhớ nghiến nghiến xem răng có còn ở đấy không. 
 - Tớ tuyệt nhiên chẳng thấy ma nào - Lão Bật nén tiếng thở dài, bảo.
 - Suốt ngày bác chạy ngoài đường, làm sao mà thấy?
 - Ờ… ờ…
 Lão Bật gượng cười. Lão ở ngoài đường nhiều hơn ở nhà thật. Thế nên lão mới biết những chuyện bê bối xảy ra khắp nơi.
 - Vụ mụ béo bác làm đến đâu rồi?
 - Mụ béo nào?
 - Ơ hay, cái nhà bác này. Kiện đến củ tỉ nhà người ta mà lại quên phứt đi được?
 - Thành phố cả trăm nghìn đứa béo, biết béo nào?
 Ả Thắm ngửa cổ cười khanh khách. Lão Bật không cười. Mặt lão dài ra,  hơi thộn. Lão không nhớ thật. Chắc lại con mẹ vớ vẩn nào đó thả chó chạy rông ra đường. Những mụ đàn bà như thế nhiều lắm. Nay kiện đứa này, mai nảy nòi ra đứa khác. Lão nhớ làm sao xuể? Mà thật tình lão cũng chẳng buồn nhớ. Đã có lúc lão nghĩ: lão như bị giời hành. Tại sao lúc nào lão cũng hăng máu đâm đơn kiện? Vụ nọ chồng lên vụ kia. Kiện thế nhưng lại chẳng quan tâm đến những tờ đơn bị lãng quên, bị vùi lấp, bị mục ra trong tủ hồ sơ như đống lá mục. Lão thừa biết một mình lão với những lá đơn thảm hại ấy chẳng làm nên trò trống gì. Mọi thứ vẫn cứ loạn xà bần, dù có lão hay không có lão. 
 - Hồi trước em còn thấy một ông già làm thuê đến tưới cây tưới cối.
 - Thế à? - Lão Bật sực tỉnh.
 - Nhưng cũng chỉ được một dạo rồi thôi luôn.
 - Thế mà cây không chết nhỉ?
 - Vâng. Lại còn mọc như rừng…
 - Nhưng tớ thấy lạ nhất vẫn là con mèo. Chẳng biết mèo hoang hay mèo nhà.
 - Lại nói chuyện mèo… Mấy đêm rồi em mất ngủ vì mèo. Có con mèo  lạ đến quậy trên nóc nhà. Nghe nó gào thảm thiết lắm.
 - Nó gọi bạn tình đấy.
 - Bố khỉ. Tình tứ mà gào rú như bị bóp cổ thế kinh nhỉ?
 Lão Bật nhìn ả Thắm, thản nhiên buông một câu:
 - Còn hơn cứ im lặng ngậm bồ hòn. 
 Lão Bật vừa dứt lời, thằng Nhỡ liền hú lên tiếng nữa. 
          Lần này con mèo đen bên kia đường chỉ khẽ cựa mình. Mắt lim dim, nó ổn định lại thế nằm rồi mơ tiếp giấc mơ đứt đoạn.
 Ả Thắm không để tâm lắm đến tiếng hú của thằng Nhỡ. Cái thằng rách rưới hôi hám này chiều nào chả ra đây hóng chuyện. Suốt cả buổi nó không nói không rằng, chỉ thỉnh thoảng hú lên. Có giời biết trong đầu nó nghĩ gì. Nhưng lão Bật thì khó chịu ra mặt. Người lớn không ra người lớn, trẻ con không ra trẻ con. Những tiếng hú nửa khôn nửa dại của thằng Nhỡ làm cho lão chột dạ.
 - Ông xã cậu sắp về chưa? 
 - Cũng sắp bác ạ.
 - Lần này có vẻ lâu nhỉ?
 - Đâu có? Cứ hết ca hết kíp là về mà.
 - Mỗi ca là bao nhiêu ngày?
 - Hai tuần bác ạ.
 - Thế mà tớ tưởng đến cả tháng chưa nhìn thấy mặt cậu ấy.
 - Ôi dào. Hai tuần cũng thế. Một tháng cũng thế. Cả năm cả đời có khác gì nhau.
 Ngực lão Bật bỗng nhói lên dễ chịu. Nhưng lão lại giả vờ lơ ngơ:
 - Cả năm cả đời… là thế nào?
 Ả Thắm ngửa cổ cười hơ hơ. Chuyện này thì không thể kể với lão Bật được. Mà có kể thì lão cũng chả hiểu. Không ai hiểu. Chính ả cũng không hiểu được mình. Thật sự là ả chưa từng biết đến cái cảm giác thiếu vắng người đàn ông của đời mình. Ngay từ đêm đầu tiên ăn nằm với chồng, ả đã ngạc nhiên tự hỏi: chỉ có thế thôi à? Không lẽ đây là điều mà tất cả đàn bà trên thế gian này mong muốn và chờ đợi? Không thiêng liêng. Không ngỡ ngàng. Không khoái cảm. Ả chỉ thấy cái hành vi làm tình của thằng chồng ả chẳng khác gì một thứ thủ tục. Thủ tục cuối cùng, để hoàn thành nốt “công đoạn” đưa hai kẻ xa lạ về chung sống với nhau thành đôi thành cặp.
 Có lẽ thằng chồng ả cũng có tâm trạng hệt như ả. Xong việc, y nhanh chóng choàng dậy bật đèn. Căn phòng sáng choang. Ả Thắm thấy mình đang nằm ngay đơ ra ở trên giường, hai mắt nheo lại vì chói. Bụng dưới vẫn còn thôn thốn đau. Chồng ả ra hiệu cho ả ngồi dậy. Ả uể oải làm theo lệnh y, chả buồn khoác thứ gì lên người, tồng ngồng, đủng đỉnh ra ngồi ở góc phòng. Còn lại một mình chỗ chiếc giường, thằng chồng ả bắt đầu xáo tung lên tất cả. Bắt đầu một cuộc lục soát, tìm kiếm lạ lùng.
 Y bật chiếc đèn bàn, cầm đèn soi đi soi lại dưới gầm giường. Y vắt màn, lật nệm. Y lột tấm ga trải giường, vo tròn ném xuống đất. Lột cả áo gối, lộn trong ra ngoài. Mồ hôi chảy từng giọt trên trán y. Mồ hôi ra nhiều hơn cả lúc y nằm trên bụng vợ. Y không bỏ sót một nếp gấp trên vải. Y nhặt lên từng sợi tóc, phủi đi từng hạt bụi. Tìm bằng mắt không thấy, y áp tai xuống mặt giường. Ả Thắm vừa nhìn những hành vi kỳ quặc của chồng vừa ngáp. Ả chẳng hiểu y tìm gì. Trộm à? Tình địch à? Hay đơn giản chỉ là một con bọ? Hay không phải người, cũng chẳng phải bọ, mà là một bóng ma nào đó ám ảnh y, phá hỏng cuộc ân ái của y?
 Nhiều năm trôi qua, y vẫn tiếp tục cuộc thám hiểm như mộng du quanh chiếc giường. Ả Thắm không còn cảm giác đau bụng. Không còn bất cứ cảm giác gì. Thân xác ả trơ lỳ như một con búp bê bằng cao su. 
          Lão Bật không biết chuyện này. Lão nhìn ả Thắm. Tóc rậm. Má bầu bầu. Cặp môi đầy đặn hé mở. Và đôi cánh tay mát rượi êm ái… Lần đầu tiên lão bắt gặp mình đang công khai ngắm nhìn ả hàng xóm. Ngắm thỏa thích. Lão không sợ ả đi guốc vào bụng mình. Phớt lờ cả thằng Nhỡ ngồi bên. Thằng này nãy giờ im lặng, bất động như khúc gỗ. 
          Một hôm nào đó, lão sẽ bước qua ngưỡng cửa vào nhà ả. Ả có ngạc nhiên không? Chắc là không. Bao nhiêu buổi chiều ngồi với nhau dưới gốc cây trứng cá, bao nhiêu câu chuyện tào lao trên giời dưới bể. Lão cố che đậy tình cảm thật của mình. Và lão tin ả cũng cố tình che giấu lão. Ả mơn mởn thế kia. Thằng chồng ả thì hai tuần bay ra biển, hai tuần vào bờ lại chìm đắm trong rượu bia của những cuộc nhậu kéo dài bất tận. Bằng ấy năm gần nhau mà lão chưa phạm tội mới là chuyện lạ. Chưa biết chừng ả còn trách: sao bây giờ bác mới đến, bác để em đợi mãi. Ả giang rộng hai tay. Lão cảm động vô chừng. Lão sẽ ngã vào đôi cánh tay mỡ màng ấy. Rồi rúc đầu vào ngực, vào nách ả. Âu yếm đặt lên môi ả một nụ hôn. Nụ hôn kéo dài đưa lão bay bổng lên trời như đám mây. Hoặc làm cho lão tan thành nước.
           Trong lúc hôn, có thể xảy ra sự cố với hàm răng giả. Nhưng lão chả buồn để ý. Thậm chí lão còn thú vị nếu phát hiện ra nó đang nằm gọn trong miệng ả.
          Và… Lão sẽ tha tội cho cả thành phố. 
          Ai gặp lão cũng ân cần niềm nở. 
          Sẽ không còn kiện cáo. 
          Tòa án được nghỉ xả hơi thêm hai ngày trong tuần.
 - Hú… ú… ú!
 Tiếng hú chói tai khiến lão Bật thót người. Lão chưa kịp quay sang thì thằng Nhỡ đã từ trên đống nắp hố ga ngã nhào xuống đất.
 - Mày làm sao thế?
 Tim đập thình thịch, lão Bật quát to, cốt để tự trấn an.
 Đôi mắt thằng Nhỡ vẫn mở to, đờ đẫn. Nó chưa thoát ra khỏi cơn ác mộng. Ngôi biệt thự bên kia đường bốc cháy đùng đùng. Lửa cuồn cuộn chui ra từ những ô cửa. Cái mái ngói có chóp nhọn như nóc nhà thờ từ từ sụm xuống. Đúng lúc ấy, từ trong ngôi nhà bị hủy hoại, một đàn lợn nhung nhúc chạy túa ra sân. Mỗi con lợn cõng trên lưng một đám lửa. Đàn lợn bị thiêu sống kêu ré lên… 
          Thằng Nhỡ định thần nhìn lại mọi thứ xung quanh. Lão Bật. Ả Thắm. Cây trứng cá. Bức tường. Vườn cây. Ngôi biệt thự. Không! Không có đám cháy nào. Cũng không có những con lợn bị thiêu sống. Chỉ có đàn lợn đói ăn nhà nó đang gào lên trong chuồng.
          Nó ú ớ mấy tiếng, lồm cồm bò dậy rồi loạng choạng đi về nhà.
 Con mèo đen bên kia đường đã biến mất.
 Vệt nắng cuối cùng vừa tắt trên cái chóp nhọn của ngôi biệt thự.
          Lão Bật còn ngồi nán lại với ả Thắm thêm lát nữa. Lão liên tục nghiến nghiến hàm răng giả.
          Hai người không ai nói với ai câu nào.
Read More..
Đọc "Gọi một ly đen" của Trần Đức Tiến

Buổi sáng ngồi uống cafe, mở facebook ra bắt gặp ngay truyện mới đưa lên của hắn. Vừa nhấm nháp cafe vừa nhẩn nha đọc. 

Truyện này chỉ đọc và cứ để chi tiết, chữ nghĩa trong truyện dẫn đi trong một cảm giác khinh khoái.

Chỉ thế thôi là quá đủ, đừng thêm thắt gì nữa... Để suy nghĩ xen vào là hỏng chuyện.
(Phạm Khắc Minh)
Read More..

4 thg 6, 2020

Cứ ngồi yên đấy mà đợi. Đừng sốt ruột.
Có thể phải đợi lâu, rất lâu đấy, cả đời chưa biết chừng.
Gọi thêm cà phê thì gọi đi.

GỌI MỘT LY ĐEN
(Truyện ngắn của Trần Đức Tiến)

Y hẹn tám giờ. Ở cà phê Vườn Thúy, đường Dốc Nhà Thờ. Bấm nút chuyển cái tin nhắn đi xong, nửa phút sau Tâm nhắn lại: “Vâng”. Y định nhắn tiếp, nói thêm mấy câu cho chắc ăn. Thật ra y không thông thạo cái thị xã này lắm. Mới tới đây vài ba lần. Đi một mình. Lần nào cũng chỉ ngủ một vài đêm trong cái khách sạn rẻ tiền, ăn mấy bữa cơm bình dân, và rỗi rãi thì ngồi giết thì giờ ở cái quán cà phê văng vắng nào đó. Xong việc, về… Y không nhớ Vườn Thúy số nhà bao nhiêu. Chỉ nhớ từ ngã tư chỗ có cái nhà thờ cổ cổ đi lên, khoảng hơn trăm mét. Bên ngoài quán có rặng liễu rủ, bên trong là vườn. Nhưng soạn xong cái tin thứ hai, y lưỡng lự một chút rồi xóa. Tâm “vâng” là được rồi. Nhắn thêm biết đâu Tâm đổi ý? Vả lại, giờ này chắc gì chồng nàng đã ra khỏi nhà? Y không muốn gây rắc rối cho nàng vì những cái tin nhắn không đúng lúc. Ô, nhưng y đã biết gì về chồng con Tâm đâu? Hai người hầu như chưa biết gì về nhau cả. Đây là lần đầu tiên hẹn hò…
          Y đi bộ dọc theo bờ hồ, nhận thấy đoạn đường đã từng qua lại mấy lần không có gì thay đổi. Hàng cây bằng lăng già cỗi trổ hoa tím. Cái bến cho thuê thuyền vịt bỏ hoang. Nhà hàng nổi hình như chỉ mở cửa vào buổi tối... Y đến Vườn Thúy lúc tám giờ kém năm. Quán vắng. Chọn cho mình một góc khuất, y nghĩ: chắc phải tám giờ mười lăm Tâm mới đến. Thậm chí còn muộn hơn.
 Nhưng Tâm sẽ đến. Y tin thế. Kinh nghiệm mách bảo y: cuộc đời có lắm thứ chỉ có thể tin được thôi, chứ  giải thích thì chịu.
 Y gọi một ly cà phê đen. Cà phê Vườn Thúy ngon. Mấy lần trước, y cũng ngồi nhâm nhi ở đây. Không ngờ một cái quán vớ vẩn tỉnh lẻ lại có thứ cà phê ngon như vậy. Nhưng điều này có lẽ cũng chỉ mình y biết. Dân thị xã buổi sáng đến đây không phải để thưởng thức cà phê, mà chủ yếu là ngắm chim, ngắm cá và buôn chuyện.
 Trong góc sân Vườn Thúy có một hồ nước nhỏ, nuôi cá và rùa. Hai con rùa to bằng cái rá vo gạo, thường ngoi lên nằm ngủ trên tảng đá giữa hồ. Trong làn nước hồ xanh đen, mấy con cá mình dài, đầu nhọn, lấp lánh ánh bạc, lượn lờ mềm mại như rắn. Phía trên bờ hồ, treo trên sợi dây thép chăng ngang là những chiếc lồng chim to nhỏ các kiểu. Cái sơn vàng, cái sơn trắng, có cái trùm vải hoa. Cu gáy, chào mào, chích chòe, phường chèo, bạc má, lách tách, nhồng, vẹt… Những con chim đã dạn khách, ăn uống, nhảy nhót thoải mái ở trong lồng, thỉnh thoảng còn hót lên chiều người nghe.
          Phin cà phê của y bưng ra, vừa nhỏ xuống ly những giọt đầu tiên nâu sánh thì có thêm hai người khách bước vào. Hai người đàn ông đã có tuổi, dáng vẻ nhàn nhã. Một ông gầy cao tóc xoăn. Ông kia thấp béo tóc bạc.
 Cả hai ung dung đến ngồi cạnh chiếc bàn kê sát bên hồ nước. Bàn số 17. Hình như cái chỗ quen thuộc ấy vẫn dành cho họ. Gầy Xoăn gọi chanh muối. Bạc Béo gọi trà gừng. Gầy Xoăn duỗi thẳng đôi chân dài dưới gầm bàn, khom người nhìn xuống mặt hồ:
- Đi đâu một con rồi?
          - Cái giống cái bao giờ cũng đủng đỉnh - Bạc Béo cười khìn khịt.
          Quả nhiên lão vừa dứt lời thì mặt nước dềnh lên: con rùa thứ hai xuất hiện. Nó chậm rãi bơi đến bên tảng đá, bám hai chân trước lên đó, kềnh càng đu cả người lên theo.
 Con rùa thứ nhất đã nằm ngủ trên mặt tảng đá từ lâu, mai khô hết nước. Mắt vẫn nhắm, đầu vẫn rụt sâu, nó khẽ nhúc nhắc nằm dịch sang bên, nhường chỗ cho con cái vừa bò lên. Con này ý tứ nghển cổ đảo xung quanh một vòng, trước khi nằm xuống cạnh con đực.
          - Nằm sát nữa vào. Khéo rơi xuống nước - Bạc Béo lại cười khìn khịt, giọng dỗ dành.
 “Đời còn dằng dặc thế. Tình yêu đã cạn rồi” - Gầy Xoăn ngẫu hứng ư ử một câu hát trong cổ họng.
 Y liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Quá mười phút. Y nhấc chiếc phin lên khỏi miệng ly. Cà phê vẫn nhỏ xuống đều từng giọt.
 Quán lại có thêm ba người khách. Ba phụ nữ. Hai chị tuổi sồn sồn khoác túi. Một cô trẻ hơn, áo sơ mi bỏ trong quần, đeo cả chục chiếc lắc vàng trên cổ tay. Họ tìm đến góc vườn, dưới gốc cây sa kê. Vừa đặt đít xuống ghế, chị sồn sồn mặc áo đen đã ghé tai cô tre trẻ thì thầm điều gì. Cô này đỏ mặt lên, mủm mỉm cười:
 - Em không tin.
 - Tao cũng không tin - Chị kia nói to - Nhưng lúc nhìn cái mặt thằng kia thì tao lại tin.
          - Đẹp trai à?
          - Không. Đểu. Con gái dễ chết vì những thằng đàn ông mặt đểu đểu.
 Chị sồn sồn còn lại không tham gia câu chuyện. Chị ta kéo tay con bé phục vụ ở quán, giọng mềm mỏng:
 - Cho chị xin ly cà phê tiểu đường.
 - Cà phê gì ạ? - Con bé hỏi lại như không nghe rõ.
 Vẫn giọng thẽ thọt, nụ cười tươi như hoa:
 - Cà phê tiểu đường, em!… Cà phê không đường ấy.
 Chủ quán, trẻ hơn Gầy Xoăn và Bạc Béo một chút, mặc đồ pijama, khoan thai từ sau quầy bước ra. Gã không nói không rằng, với tay lần lượt gỡ từng chiếc lồng chim máng trên dây thép xuống, cất vào trong mái hiên. Lũ chim nháo nhác một hồi rồi im.
 Gầy Xoăn ngừng hát, bất giác ngửa cổ nhìn lên vòm trời màu xám đục thấp thoáng sau tán cây:
 - Sắp mưa.
 Cùng lúc đó, một chiếc xe máy xộc thẳng vào cổng. Ngồi trên xe là gã thanh niên rất kẻng trai, quần bò, áo chẽn kẻ sọc đỏ, tóc để ngôi giữa. Rất nhanh, gã tắt máy, dựng chân chống, bước vội đến chiếc bàn còn trống dưới mái hiên như sợ ai nhanh chân hơn chiếm mất chỗ. Bàn số 2. Gã có vẻ vào quán để trú mưa chứ không phải để uống cà phê. Tuy nhiên, sau khi cúi xuống buộc lại dây giày, gã cũng kêu một ly đen đá.
 Trời chưa mưa, ly cà phê của gã thanh niên cũng chưa kịp mang ra, trong quán lại có thêm người nữa. Nhân vật này như từ dưới đất chui lên: thằng bé đánh giày. Thằng bé xách hòm đồ nghề, tiến đến trước mặt gã thanh niên:
 - Chú! Giày?
 Gã kia nhìn thằng bé với cặp mắt khinh khỉnh. Gã không nói gì, chỉ ngọ nguậy hai bàn chân ra ý bảo: giày của tao là giày da lộn, không đánh xi.
 - Giày chú bẩn. Để cháu lau cho sạch?
 Thằng bé đánh giày gạ gẫm.
 Gã thanh niên nhìn xuống chân. Giày gã có vết bẩn thật. Hình như nhớt xe máy dính vào mũi giày.
          - Mày lau bằng cái gì?
          - Cháu lau bằng gì là việc của cháu. Đảm bảo giày chú không mất màu là được.
          Gã thanh niên nhìn thằng bé có vẻ hay lý sự một thoáng rồi cúi xuống, tháo chiếc giày bẩn ra khỏi chân.
 - Chiếc kia nữa? - Thằng bé đánh giày nhắc.
 - Chiếc kia không bẩn - Gã thanh niên sẵng giọng.
 - Nhưng phải lau đều cả hai chiếc. Chú thích một cái màu vàng một cái màu nâu à?
 Gã thanh niên đành tụt nốt ra chiếc giày thứ hai. Thằng bé đánh giày nhanh nhẹn lồng đôi dép nhựa cũ đã mòn vẹt vào chân cho gã, rồi xách đôi giày da lộn đi nhanh ra phía cổng. Gã thanh niên định nói với theo câu gì, nhưng biết đã lỡ đà nên dừng lại.
          - Toi rồi - Gầy Xoăn thở dài.
 Bạc Béo vẫn ngồi im. Lão hiểu ngay ông bạn đi cùng đang nói về chuyện gì. Đề tài ấy đã trở đi trở lại với hai người trong quán cà phê này hàng chục buổi sáng.
 - Vậy bao nhiêu công sức của bà lương y đổ cả xuống sông xuống biển?
 - Đổ cả xuống sông xuống biển.
 - Nhưng rõ ràng đã có lúc người ta nhận ra sai lầm, và thả thằng bé ra rồi? - Bạc Béo gặng hỏi.
 - Người ta thả, rồi người ta lại bắt.
 - Như trẻ con ấy nhỉ?
 - Ông đi mà hỏi họ.
 Bạc Béo chăm chú nhìn xuống mặt hồ tối sẫm. Con cá lớn, mình ánh bạc uốn lượn như rắn, giờ nằm im phắc dưới chân tảng đá. Trong cái hốc đá cạnh đấy, một chú cá nhỏ bằng đầu ngón tay đang ngo ngoe. Thấy yên tĩnh, chú cá nhỏ liền phóng ào ra. Chú không hề biết miệng con cá lớn đã ngoác ra chờ sẵn. Chú cá nhỏ lao thẳng vào cái khoảng tối chết người giữa hai hàm răng lởm chởm như răng cưa của con cá lớn.
          - Thế hóa ra cái huyệt dương minh ấy là bịa à? - Bạc Béo lại hỏi.
          - Tôi chắc không bịa.
 Gầy Xoăn nói xong quay sang, nhìn chăm chăm vào một bên tai của Bạc Béo. Rồi đưa tay lên sờ sờ vào cái dái tai đã héo của bạn:
 - Đây, chính xác là nó ở chỗ này. Các nhà khoa học bảo: lúc người ta còn trẻ, vào những ngày đẹp trời, nhìn kỹ sẽ thấy nó nổi lên, mảnh như một sợi chỉ màu hồng.
 Bạc Béo bị sờ tai hơi lâu, nhột, rụt cổ lại, nhưng vẫn sa sả như cãi nhau:
 - Như thế thì bà lương y kia đúng. Khoa học không thể sai được. Tại sao lại bắt thằng bé? Huyệt dương minh của nó còn sờ sờ ra đấy, ai cũng thấy. Nó là trai tân. Nó không phạm tội hiếp dâm!
 Một con rùa giật mình, lăn bủm xuống nước. Con rùa cái. Con đực như không hề biết gì, vẫn nằm im trên tảng đá ngủ say. Y nhìn đồng hồ. Tám giờ hai mươi lăm. Chắc tám giờ ba mươi Tâm đến. Nàng đang chờ đèn đỏ ở một ngã tư đường. Hoặc cũng có thể đang dừng xe nói chuyện với một người quen nào đó. Nếu gặp người quen, có thể nàng còn dừng lại lâu hơn bình thường. Phụ nữ là như vậy. Những lúc cần nhanh, họ lại chậm. Hẹn hò càng quan trọng họ càng muốn kéo dài thời gian. Đàn ông ít người hiểu rằng, trong lúc mình sốt ruột vì chờ đợi, thì người phụ nữ đã bắt đầu tận hưởng cuộc hẹn hò rồi.
 Chủ quán lại lẹp kẹp đôi dép lê từ sau quầy đi ra. Gã hỏi với vào nhà trong:
 - Hôm nay đã cho rùa ăn chưa mày?
 - Vừa ăn hôm qua rồi bố ơi - Giọng một đứa trẻ từ trong nhà vọng ra.
 Gầy Xoăn nghiêng đầu nghe. Lão quay ra hỏi chủ quán:
 - Rùa nhà cậu ăn gì?
 - Dạ thưa, ăn thịt bác ạ - Chủ quán mau miệng đáp.
 - Ngày xưa nhà tớ cũng nuôi một con rùa. Nhưng chỉ cho ăn cơm. Suốt ngày cu cậu nấp trong gầm giường. Đến bữa tớ nắm cho cục cơm bằng ngón tay cái, quẳng vào cho cu cậu. Cu cậu cứ lỉm nghỉm chén sạch lúc nào không biết. Ấy, có con rùa trong nhà, muỗi mòng cứ gọi là tiệt nọc, cậu ạ.
 - Rùa nhà cháu không ăn muỗi, cũng không ăn cơm.
 - Xơi toàn thịt à?
          - Toàn thịt.
          - Mỗi bữa mấy lạng?
 - Mỗi con ngốn hết một cân đấy bác.
 - Chết chết…
          - Bọn này bụng rỗng, ăn tốn lắm. Nhưng được cái ăn xong lăn quay ra ngủ, nên cả tuần mới cho ăn một lần.
 - Thế mấy con cá trong bể này thì nuôi bằng gì?
 - À, chúng nó ăn nhau.
 Bạc Béo rụt đầu, cười khụt khịt. Lão đã nguôi chuyện huyệt dương minh với thằng trai tân bị bắt oan. Gầy Xoăn không nói gì, lại ngửa cổ, rên rẩm như cái cassette hỏng: “Đời còn dằng dặc thế. Tình yêu đã cạn rồi”…
 Tám giờ ba mươi. Ly cà phê của y vơi một nửa. Chủ quán ra ngồi cùng bàn với Gầy Xoăn và Bạc Béo. Có vẻ như gã cũng thích buôn chuyện tào lao với hai ông khách quen. Góc vườn, chỗ ba người phụ nữ, thỉnh thoảng lại rú lên tiếng cười của chị sồn sồn áo đen ngắt quãng chuỗi âm thanh thì thầm. Bàn số 2, thanh niên để ngôi giữa nhấp nhổm đứng hẳn dậy. Bố khỉ, thằng bé đánh giày sao lâu thế? Hay nó biến mất cùng với giày rồi? Nhưng từ chỗ gã thanh niên nhìn ra vướng bức mành, không thể thấy gì ngoài cổng. Gã đành ngồi xuống.
 “Chỉ lướt qua một cái là mình biết sẽ xảy ra chuyện gì” - y mỉm cười, nghĩ. Lần ấy, cũng ở thị xã này, y từ trong hiệu sách bước ra. Hè phố ít người. Y vừa đi vừa chúi mũi vào cuốn sách mới mua được. Bất chợt y ngẩng lên và bắt gặp cái nhìn lạ lùng của nàng. Xoẹt, ý nghĩ đầu tiên nhoáng lên trong đầu y như ngọn lửa quẹt ga: “Đây là người đàn bà của mình”.
          Bước thêm ba bước, y quay lại. Nàng cũng đang dừng hẳn, nhìn y.
 - Xin lỗi, chị là…?
 - Em là Tâm - nàng nhanh nhảu.
 - Hình như tôi gặp Tâm ở đâu rồi?
 - Dạ vâng. Ở Phan Thiết, lầu ông Hoàng...
 Y vắt óc nghĩ. Y đến Phan Thiết một lần,  từ lâu lắm, và chưa từng ghé lầu ông Hoàng. Nhưng thấy nàng có vẻ cả quyết như vậy, y đành ậm ừ rồi xin nàng số điện thoại.
 Một mình trở về khách sạn, y phì cười. Lầu ông Hoàng, lầu ông Hoàng! Cái địa danh gắn liền với giai thoại nổi tiếng về mối tình của chàng thi sĩ họ Hàn với người đẹp. Nhưng lầu ông Hoàng ở chỗ quái nào nhỉ? Lần ấy, xe của y ghé qua Phan Thiết vào buổi trưa. Nhớ lời vợ dặn, y chỉ kịp dừng lại mua mấy thùng nước mắm tống lên xe. Dọc đường về, có một chai bị vỡ, mùi  mắm len cả vào giấc ngủ gà ngủ gật, mơ mơ màng màng. Đấy, chỉ có thế - kỷ niệm duy nhất của y về Phan Thiết.
          Tâm.
 Một cái tên.
          Một số điện thoại.
          Và một cuộc hẹn.
          Y hẹn nàng tám giờ, ở cà phê Vườn Thúy.        
          Bây giờ là tám giờ bốn lăm.
 Thằng bé đánh giày bất ngờ xuất hiện ngay sau lưng gã thanh niên để ngôi giữa. Hóa ra ngoài cổng chính, Vườn Thúy còn có cửa ngách mà chỉ những người ra vào quán thường xuyên mới biết. Thằng bé xếp gọn đôi giày da lộn sạch như mới dưới chân gã thanh niên.
 Mặt gã thanh niên giãn ra trong nụ cười đểu:
          - Mẹ. Ông tưởng phải lê đôi dép này đi tìm mày?
 Thằng bé đáp trả ngon lành:
          - Cháu mà lặn thì chú có bới tung cả cái thị xã này lên cũng chả thấy.
 Gã thanh niên gật gù, xỏ giày, trả tiền thằng bé rồi nhảy ba bước đến chiếc xe của mình. Xe nổ máy, vọt nhanh ra đường.
 Chủ quán rời khỏi bàn bước vào hiên. Gã gỡ những chiếc lồng chim xuống, lần lượt mang từng chiếc ra sân máng lên sợi dây thép.
 - Sao khó mưa thế nhỉ? - Bạc Béo bâng quơ.
 Không ai hưởng ứng câu hỏi của lão.
 “Đời còn dằng dặc quá. Tình yêu đã cạn rồi” - Gầy Xoăn gõ gõ ngón tay lên mặt bàn.
 Y thở dài, nhìn đồng hồ. Rồi gọi thêm một ly đen.
Read More..

10 thg 5, 2020

Vẫy tay, vẫy tay chào nhau...


Hợp đồng được kí giữa hai bên ghi rõ, trách nhiệm, nghĩa vụ. Phần công việc, số tiết dạy trong một tuần: A. Tiền lương một tháng:B. Những công việc phát sinh phải được sự thỏa thuận và đồng ý cả hai bên. Kí xong, anh chủ trung tâm, đứng dậy uốn éo rất kịch sĩ: "Trung tâm ngoại ngữ I rất hân hạnh được kết nạp chị làm thành viên trong đại gia đình IS".

Ngày làm việc thứ nhất: đúng giờ, đúng việc.

Ngày làm việc  thứ hai: Anh chủ trung tâm: Chị dạy ở trên lớp xong thì xuống mấy trường phổ thông tiếp thị và tư vấn... Thấy bực mình rồi, nhưng thôi cũng Ok!

Ngày làm việc thứ ba: Dạy xong, xuống mấy trường phổ thông khi về chị sang tổng đài trực giải đáp thắc mắc và tư vấn cho phụ huynh...

Đến nước này phải nói, anh khôn hết phần của người khác rồi! Thôi nhé: Vẫy tay, vẫy tay chào nhau, một lần đầu và là lần cuối ...

(Nhật kí những ngày về nước tránh Covid-19 của con gái mình)
Read More..

7 thg 5, 2020

Sợ...!


Cafe sáng cùng mấy bạn già. Hỏi các ông sợ nhất điều gì? Thật lạ các bạn già đều có nỗi sợ giống nhau: Không phải sức khoẻ, không phải cái chết, mà sợ nhất là khách không mời mà đến nhà.

Ông bạn nhà văn kể, thời ông còn đương kim chủ tịch hội văn học nghệ thuật tỉnh. Nhiều bữa được ngày nghỉ, dự định làm việc nọ việc kia, nhưng vừa sáng ra chưa kịp đánh răng thì đã thấy có "vĩ nhân thơ" xuất hiện ở cổng. Thế là màn đọc thơ, khoe thơ liên tù tì một mạch. Đứng dậy vươn vai, ngáp dài "nhà thơ" chả thèm chấp, cứ đọc, cứ bình. Đuổi không đuổi được, mất toi ngày nghỉ.

Rồi nữa, hai mươi tám tết, dọn dẹp nhà cửa, lên lịch tết năm nay như thế, như thế. Đùng cái có ông cháu ất ơ, bao năm chả biết hành tung nó ra sao, làm gì, ở đâu, xuất hiện. Tưởng nó đến chơi lát thì về, nhưng sau bữa cơm chiều nó tuyên bố xanh rờn: tết này cháu ở đây ăn tết với cô chú. Thôi thì đành phải "thất hiếu" với nó, nói tết này cô chú có việc. Sáng sau  đưa mấy trăm rồi tiễn nó ra bến xe.

Anh bạn làm khối ủy ban người trong này, chị vợ người ngoài kia. Cứ ít ngày lại có tốp ngoài quê của chị vô. Anh nói, thôi việc ăn ở có sao dùng vậy. Nhưng xin lỗi các ông trước, cái "văn hoá nông thôn Bắc bộ" thì tôi không thích nghi nổi. Ai vô cũng ngó nghiêng. Ai vô cũng với ý nghĩ là mình phải có trách nhiệm với họ, phải giúp họ. Chả ai thèm để ý tới cảm xúc của mình ra sao. Ông tưởng tượng xem, trước mỗi bữa ăn, có người mút đầu đũa, rồi ngoáy ngoáy vào bát canh, bát nước chấm, giữa bữa ăn thì xỉa răng chẹp chẹp, thổi phù phù .. cỗ yến chả nuốt nổi. Nhưng không nói được, họ tự ái lắm. Mình sống trong nhà mình mà cứ như đi ở nhờ.

Còn một lô chuyện khác nữa.

Mình nghĩ ai thì cũng có lúc nọ, lúc kia. Ngay mình ngày trước, mỗi lần xa nhà đi các tỉnh, làm gì có tiền ở khách sạn, điện thoại cũng chả có. Cứ tự dựng xuất hiện trước nhà  bạn (có bạn thân, có bạn sơ), trong ý nghĩ lúc ấy sợ nhất nếu bạn lại tỏ ra lạnh lùng. Cũng may đời mình chưa gặp trường hợp như thế bao giờ.  Văn hoá mỗi vùng miền có những đặc thù riêng, chả thể nói hay hay dở được. Cái chính vẫn là tầm văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân, mà điều này phụ thuộc nhiều yếu tố quá

Mỗi lần mình lên Sài gòn hay sang Sydney với các con. Chúng nó đều giữ, ba ở lại với tụi con, về làm gì. Nhưng chỉ ít ngày mình về. Không phải vì mình không thích ở, càng không phải chúng nó có gì phật ý mình. Đơn giản mình nghĩ, mỗi người có đời sống của mình. Ví như, chúng muốn mời bạn bè đến nhà bù khú, có mình chúng cũng ngại. Hay như, những sinh hoạt đơn giản hàng ngày, có mình chúng cũng phải giữ kẽ hơn. Nói đúng là mình đang hạn chế cái tự do của chúng. Đừng nghĩ làm cha mẹ mà mình có quyền xâm phạm ấy.

Thời công nghệ rồi, mời ai, đến ai, alo cái! Hihi.
Read More..

2 thg 5, 2020

Chuyện tào lao thời Covid


Có câu chuyện ngụ ngôn rằng: xưa có hai người kết giao bạn bè rất thân thiết, luôn có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chịu. Rồi cũng đến một ngày theo quy luật sinh diệt, cả hai giã biệt cõi người. Người thứ nhất, tâm hồn mơ mộng luôn coi chốn nhân gian là cõi tạm, tiền tài quyền lực là phù du, khi giã biệt hồn nhẹ nhàng bay về tầng cõi trời. Cuộc sống nơi thiên đàng, cảnh đẹp thần tiên, hoa thơm bướm lượn, thích gì có nấy, càng cho anh nhớ về người bạn xưa. Quyết đi tìm bạn để cùng hưởng sống nơi thần tiên này và anh lên đường. Tìm khắp cõi trời, cõi a-tu-la, cõi...mà chẳng thấy dấu tích người bạn cũ. Có người mách anh trở lại cõi người xem sao. Dùng phép cẩu đằng vân anh trở lại cõi người, vừa tiếp đất anh dẫm ngay vào một bãi phân. Lạ là nghe tiếng quen quen phát ra từ bãi phân ấy. Định thần, anh thấy đúng là tiếng người bạn cũ và bạn cũng đã nhận ra anh. Nhưng bạn anh bây giờ dưới hình hài một con giòi đang sống trong bãi phân. Thương bạn vô cùng, anh nói: bạn ơi bỏ đó đi về Cõi trời với tôi, nơi ấy thần tiên, hoa thơm bướm lượn... 

Bạn anh ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi lại: ở Cõi trời ấy có mùi thơm ngát như trong bãi phân tôi đang trú không?

Bàn thêm:
Người ta sống trong cảnh giới của mình. Phật nói, đấy là "Ngục thiết vi". Khó phá vỡ lắm.
Vậy đừng có ảo tưởng "giác ngộ" được ai đó. Trừ khi người ta tự "giác ngộ", nhưng có mấy người vượt được.
Vì con người dưới trần gian luôn ảo:
*Tự do sướng nhất trên đời
Tự lừa lại sướng gấp mười tự do 
(*Thơ Bảo Sinh)
Read More..

27 thg 4, 2020

Nhớ về "Thánh ngôn".


Tuổi thanh niên hoi của mình ngày xưa, mỗi người đều có một cuốn sổ (gọi là sổ tay) ghi chép những gì mình thích.  Trang đầu của cuốn sổ ấy thường vẽ hình đôi chim bồ câu và những  câu "thánh ngôn" của các lãnh tụ cộng sản, đại loại :"Học, học nữa, học mãi" hay" Dưới ánh sáng mặt trời..."...Mình thì chép vào trang đầu của cuốn sổ câu: "Nghi ngờ tất cả" (có nơi dịch "Hoài nghi tất cả"). Đây là câu của  ông Karl Marx trả lời khi con gái hỏi: câu châm ngôn mà cha thích nhất là gì?

Lúc ấy nghĩ ông Marx là nhất rồi. Sau này khi đọc bài kinh Kalama mới biết Đức Phật tổ Thích Ca Màu Ni nói và diễn giải điều ấy trước đấy hai mươi mấy thế kỉ.

Đấy là nói chuyện cũ, chuyện ngày xưa.

Chuyện mới thời Covid này. Giữa đại dịch, các trang báo, Youtube, Fb, các cuộc hội họp, ngay cả giao tiếp thông thường, nhiều người nói tới chữ Tâm chữ Đức quá. Người ta nhắc lại "Bồ tát tái thế" Dương Đường thuyết giảng về chữ Tâm, chữ Đức, cách sống tạo Phúc ở đời. Anh giám đốc công ty TNHH Phương Đông Nguyễn Xuân Thành, đơn vị vừa bị Bộ công an sờ tới vì cấu kết tăng giá gấp nhiều lần khi mua bán  máy xét nghiệm Covid cũng lớn tiếng rao giảng về chữ Tâm chữ Đức:"... Với tôi từ cuộc sống thường nhật đến trong kinh doanh luôn đặt chữ Tâm, chữ Đức lên hàng đầu"...Cứ loạn cả lên.

Nghĩ đơn giản mộc mạc rằng người có TÂM có ĐỨC, chả ai lại đi rao giảng, đi khoe như thế. Họ đều khiêm nhường dấu mình, muốn để mọi điều tốt đẹp mình làm cho gió cuốn đi. 

Vậy mà sao những kẻ loăng quăng kia lại lừa được nhiều người thế!?

Cứ muốn hô lên: Đức Phật Thích Ca Màu Ni ơi, người vạn, vạn tuế nhé! Ông Marx ơi, ông nói sau, chép lại, nhưng không sao cả, ông cũng vạn tuế đi! Các ông đã cảnh báo cho mọi người biết mà Nghi ngờ, mà Hoài nghi.
Read More..

24 thg 4, 2020

Nếp quen

Mình xa quê từ ngày còn trai lơ. Mấy chục năm, sống, lập nghiệp, sinh con đẻ cái ở đất Nam bộ này, quen với cách sống, nếp nghĩ hào sảng của những người mở cõi. Khoái nhất là nếp sống của những người già. Thẳng thắn, ít chấp, lo chuyện mình, ít nhòm ngó chuyện người khác. Và nữa, ít quan tâm chuyện chính trị chính em. 

Vì vậy mỗi lần về quê, thấy các cụ già say sưa nói chuyện chính trị chính em. Như một cái mốt. Mình không dám nói các cụ đang diễn, đang khoe, nhưng thực lòng cứ thấy thế nào ấy. Lũ trẻ trâu, vài anh xích lô ba gác chém gió ở quán chè chén đầu phố đã đành . Các cụ tuổi luống rồi cần có sự tĩnh lặng để mà chiêm nghiệm, chính trị chính em mà làm gì. Ngay như mẹ mình, một đời làm thường dân, U90 rồi, đi thì xe lăn, nhưng chưa bao giờ bỏ sót chương trình thời sự trên tivi. Xem rồi lại vui, buồn, phân tích...

Có bữa thấy cụ xem xong rồi buồn, mình nói: Mẹ xem chương trình tào lao bí đao, dối như cuội này làm gì. Cụ giận. Nhưng lúc sau bình tâm cụ nói: đúng là tào lao bí đao thật, nhưng mà mẹ quen rồi.
Read More..

21 thg 4, 2020

Dại hay Khôn?


Vụ việc bà Lê Thị Hiền, phó chủ tịch phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long với chị bán rau xôn xao dư luận mấy ngày qua. Rất nhiều người nghĩ: sao "mẹ" này dại thế, đã vô cảm, ăn nói vô đạo, lại còn tự quay clip tung lên mạng, khác gì vạch áo cho người xem lưng.

Mình thì nghĩ bà Hiền không dại, thậm chí là rất "khôn" nữa. "Tốt khoe, xấu che" bà ta luôn nằm lòng triết lí đó. Quay clip, chia sẻ với một nhóm quan chức. Ngụ ý bà ta: thấy tôi nhiệt huyết, kiên quyết với nhiệm vụ của mình chưa? Thấy sự vận dụng biến báo, năng lực trị dân của tôi chưa? Và mơ: cấp trên sẽ xem, sẽ cất nhắc lên vị trí cao hơn. Và nếu: clip trên không lan tràn trên mạng xã  hội, dân tình không phẫn nộ phê phán ... Với kinh nghiệm mấy chục năm làm công chức, mình rút ra một nhận định: ước mong của bà Lê Thị Hiền hoàn toàn thành hiện thực.

Nói ra như vậy để thấy rằng, trường hợp của bà Hiền không phải là cá biệt. Nó có rất nhiều đất để sống, để dung dưỡng. Mình nhớ cách đây khoảng hai chục năm, tivi truyền hình trực tiếp phiên họp quốc hội, một nữ đại biểu khi tham luận, nhắc đi nhắc lại cụm từ:"tụi dân nó không nghe...". Ngày đấy chưa có hệ thống truyền thông mạng xã hội như ngày nay và bà ta cứ "vô tư" bước lên chức vị cao hơn.

Không vơ đũa cả nắm, nhưng cũng phải thấy rằng, sự  vô cảm, vô đạo như một động lực, một bàn đạp để đội ngũ quan chức tiến tới. Và, virút đó đang lan rộng khắp đội ngũ "đày tớ" trong thể chế này.
Read More..

22 thg 3, 2020

Bài học kinh nghiệm.


Con gái mình từ nước ngoài về. Xuống ga Tân Sơn Nhất bắt taxi về nhà. Xuống xe đồng hồ chỉ mất 70 ngàn đồng. Chú tài: xin chị 170 ngàn. Nó hỏi: sao lại tính vậy? Chú tài: Dạ, thêm 100 ngàn phí đón khách quốc tế. Chả lẽ lại đi đôi co, bực mình nhưng cũng rút tiền ra trả.

Về quê thăm bà nội, trước lúc đi bà nội  dúi thêm vài phong bánh đậu xanh vào túi xách. Chọn hãng Vietjetair của chị Thảo, người một thời tung hoành các chợ trời ở Đông Âu để bay vô Sài gòn. Đến cửa vô máy bay, hãng ra cân hành lí: 8,5kg, thừa 1,5kg. Nó nói: tôi mang đủ cân và để lại ít bánh này. Nhân viên hãng trả lời: không được, chị phải mang đi. 1,5 kg tính bằng 1 kiện, cước là 600 ngàn đồng, bằng một vé người đi thời CoVid. Chả lẽ cãi lí sự ở chốn này!

Mang bực mình về càu nhàu với ba. Mình cười: con phải cám ơn họ. Bỏ ra có 700 ngàn, thấy được thực trạng và rút ra được mấy bài học kinh nghiệm thì ai chả muốn mất tiền.

Nó hihi. Ba thì...
Read More..

20 thg 3, 2020

Vài dòng về CoVid - 19


Công bằng mà nói việc chữa trị, ngăn ngừa phòng chống đại dịch CoVid-19 của Nhà nước và Chính phủ Việt nam trong thời gian qua là khá tốt. Những cố gắng ấy không ai có thể phủ nhận, nhất là bối cảnh nước ta chưa phải là nước giàu có gì. Mình đã đọc những lá thư đầy biết ơn và xúc cảm của những người Việt nam và nước ngoài được chữa khỏi bệnh, được chăm sóc đối đãi tử tế trong thời gian cách li. Mình cũng đã thấy hình ảnh được cho là phản cảm của một số người Việt khi trở về nước tránh dịch (cứ tạm cho là như thế).

Nhưng cái làm mình kinh hãi trong những qua, chưa hẳn là con vi rút corona kia mà là một làn sóng thơ ca hò vè, nịnh nọt, tâng bốc người chức quyền. Chế diễu, mỉa mai những người Việt về nước tránh dịch bệnh. Và điều nữa là hệ thống tuyên truyền lập lờ, làm cho mọi người cảm giác rằng: Chính phủ ở các nước tư bản Châu Âu, Mỹ, Úc...rất vô trách nhiệm, để dân của họ "sống chết mặc bay", đẩy dân nước khác ra khỏi nước mình.

Những người Việt về nước. Họ là ai? Họ là những thành phần "được xuất khẩu lao động". Những thành phần mà ở bất cứ đâu cũng phải "đổ mồ hôi trên, đổ mồ hôi dưới" mới kiếm được đồng tiền, gửi về nuôi con ăn học, nuôi cha mẹ già mất sức lao động. Dư dả hơn làm cái nhà, góp tiền làm đường... để cho làng xóm "đoàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Họ là ai? Là những du học sinh, là con cháu đất Việt, là nguồn chất xám dự trữ của dân tộc này. Họ là ai? Là những người đem hồn Việt ra thế giới mênh mông kia...

Vậy mà, khi khó khăn họ quay trở về đất Mẹ, thì nghe tiếng chì, tiếng bấc, mai mỉa, diễu cợt, kể công. Một người Mẹ bao dung lẽ nào chỉ vui, chỉ cười khi được nhận. Cau có khi phải cho đi!? 

Mà đã cho gì đâu.

Còn trách nhiệm của các nước Châu Âu, Mĩ, Úc trước đại dịch này? Bạn hãy nghe và đọc cho kĩ các sách lược giải quyết dịch bệnh, các gói hỗ trợ cho người dân trong nước, gói hỗ  trợ cho thế giới, từ tuyên bố của những người đứng đầu, như thủ tướng Đức, thủ tướng Úc, tổng thống Mĩ mới thấy họ giải quyết khoa học, hợp tình hợp lí và trách nhiệm đến mức nào.

Lời cuối cùng muốn nói với các bạn, nhà báo, nhà giáo kiêm "nhà thơ", muốn hay không muốn các dòng viết của các bạn đều có chức năng tuyên truyền. Cẩn trọng nhé, đừng như một bạn nào đó hết làm "thơ vè", rồi kể tội mấy thằng tây, khi bạn ấy du lịch sang đó. Rằng có bữa ăn sáng trong Hotel, tụi tây nó phân biệt, để tây một bên, ta một bên và qua lớp cửa kính bạn ấy còn nhìn thấy phía tây nhiều món ăn hơn. Khiếp! 

Mình đang ở quê, sáng nay Mẹ mình lại kể chuyện đấu tố hồi cải cách ruộng đất!
Read More..

7 thg 3, 2020

Khen thế quá bằng chửi!


Giữa lúc nước sôi lửa bỏng, cả thế giới đang đau đầu về nạn dịch CoVid mà lại đi khen chê một truyện tào lao nào đó ở trên mạng thì đúng là chả đâu vào đâu thật.

Nhưng ở đây nó liên quan tới một người mà mình rất quí mến. Nhà văn, nhà chính trị phạm  Vũ Thư Hiên. Gần đây trên trang Fb của mình, ông đã giới thiệu truyện ngắn "Con thú bị ruồng bỏ" của một người viết,  thú thực mình chưa khi nào nghe tên. 

Việc giới thiệu tác phẩm của bạn bè của người khác trên trang của mình là chuyện bình thường. Cả việc khen chê cũng là bình thường. Ngay đầu trang ông giới thiệu đây là truyện ngắn hay! Mình cũng cố gắng đọc hết. Một câu chuyện hư cấu, kể về một ông tướng với hai con chó. Văn vẻ kết cấu truyện ...ở tầm học sinh phổ thông. Thô thiển nhất là ở đoạn kết. Mình cũng có thời gian ở lính và chưa bao giờ, chưa khi nào  mình đánh giá cao về nhân cách, tri thức... của các tướng lĩnh cộng sản. Nhưng cũng không thể một ông bạn nào lại nói với bạn mình, một ông tướng xuất thân từ dân thị thành hào hoa phong nhã, nếm trải đủ ngón trường đời một câu ngớ ngẩn như dạy con trẻ ở phần kết của truyện:"...Thân thể cháu Quỳnh vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông đã bắn vảo lòng nhân ái, vào tình yêu  thiên nhiên  của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi". Một câu sáo rỗng, y như triển khai nghị quyết cho toàn chi bộ chứ đâu phải câu nói với bạn!

Nhà văn quá cố NK đã từng:"Khen cho nó chết!". Mình nghĩ bác Hiên chả bao giờ như thế. Cũng chẳng thể trình như bác lại không nhận ra, ở đây là khuyến khích, là câu khen xã giao thôi. Cũng như ta khen một cô gái hình thức còn khiếm khuyết:" Em có nét dịu dàng thuỳ mị quá!". Thế thôi.

Nhưng cái đáng nói, sau khi truyện được giới thiệu và có lời khen của bác Hiên, thấy có nhiều bạn viết hùa vào hơi quá. Nào là:"Truyện ngắn hay nhất thế kỉ", "Một siêu tác phẩm văn học"...

Khen thế quá bằng chửi!
Read More..

18 thg 10, 2019

Nói...!



Nói thì dễ, làm mới khó”, đó là quan niệm của thế tục. Còn đối với Phật pháp thì ngược lại, nói mới khó khăn. “Làm sao nói mà mỗi lời làm sáng sạch thơm tho không khí, mỗi lời làm sấm chớp chẻ tan thù hận, đố kị, tham lam, ngu si, kiêu ngạo, tà kiến, sợ hãi”. Nói rất khó, “Vì làm sao nói mà không tự nói xấu hay nói xấu người khác, làm sao nói mà không kín đáo tự khen mình và gián tiếp chê người người khác, làm sao nói mà không tự trách mình hay trách cứ người khác, làm sao nói mà không tự biện minh hay tự bảo vệ đề phòng, làm sao nói mà mỗi lời làm người khác cảm thấy vui vẻ, làm sao nói mà không vọng ngữ, không ác ngữ, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt ngữ, làm sao nói mà mang đến cho người khác sự không sợ hãi”.

 Làm sao nói mà mỗi lời là chân ngôn, nhu nhuyễn, ngọt dịu, thanh thoát, an lạc, khoan dung, khai mở, trong trẻo, vang dội, hùng tráng, hoan hỉ không ác khẩu, không gây buồn chán, không gây phiền não, không gây bất an tuyệt vọng…Những yếu tố đó đều nằm trong 64 sự trong sáng lặng lẽ trong âm thanh chư Phật.

Bởi vậy mà các bộ kinh Phật đều hàm chứa những điều không thể nói ra bằng ngôn ngữ thông thường. Đức Thích Ca Mâu Ni dự lường đời sau sẽ biến những lời ông thành hý luận, nên đã phải thốt lên: "Ta 49 năm chưa hề nói một lời nào”.

Nói, đúng là thật khó, nhưng việc đời cứ đến, cứ trôi, nên dù tâm từ bi thì “người trần mắt thịt” cũng phải nói, phải diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ của “người trần mắt thịt”. Thật lòng muốn nói với những người thân yêu của tôi:“Có tôi đây, hãy đứng lên và đừng buồn nhé!”, “Dù thế nào tôi vẫn luôn luôn bên bạn”, hay một lời cùng nhắc nhau:“Cố gắng nhưng đừng để mất mình".

Thì đại loại là như vậy, nếu rơi vào thinh lặng cũng chả sao, coi như: “…ta chưa hề nói một lời nào”.


   

Read More..

11 thg 10, 2019

Tản mạn về đọc và sự trung thực




1. Mình thích truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp từ khi anh mới xuất hiện trên văn đàn. Với vốn sống ngồn ngộn của những năm tháng ăn ngủ cùng núi rừng miền Tây bắc. Lại có cả tuổi thơ trong cái nôi đồng giao của miền quê Bắc bộ. Chứng kiến những năm tháng bản lề giữa chiến tranh và hòa bình, giữa bao cấp và thị trường... Với vốn sống ấy dưới ngòi bút tài hoa, anh đã cho ra những tác phẩm bất hủ: Tướng về hưu; Muối của rừng; Những người thợ xẻ; Thương nhớ đồng quê và nhiều truyện ngắn khác. Đọc những truyện ngắn ấy thấy hơi thở của đời sống, của thiên nhiên như phả ra trước mặt. Và như nhà văn Nguyễn Khải nói về những tác phẩm của anh: “Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã đào mồ chôn những nhà văn thế hệ trước”.

 Nhưng đến truyện “Không khóc ở California” thì anh gần như hết vốn. Văn anh vẫn hay, nhưng mình bắt đầu thấy giả giả, uốn éo và không thích nữa. Nhiều người tiếc sao anh không viết thêm, nhưng với mình anh dừng nhưng thế cũng đã hơi muộn. Thực tế về sau anh có thử viết thêm Tiểu thuyết, kịch nhưng đúng là hỏng hẳn.

Như một lời tiên đoán cho mình, Thiệp từng viết trong một truyện ngắn rằng: cái hay, cái bất hủ chỉ nằm trong sự trung thực, trung thực với chính mình, trung thực tới tận đáy lòng.

2. Mình nghiệm ra một điều, càng có tuổi lại càng lười đọc. Mắt mũi kèm nhèm, nhức đầu đau vai gáy đã đành, nhưng có lẽ lí do chính vẫn là sự thẩm thấu, thấm mĩ  của mình đã thay đổi rất nhiều. Nhiều truyện ngày xưa mình đọc thấy hay thế, giờ đọc lại sao lại nhạt phèo, chán ngoét. Chả trách lão bạn mình, ngày học cấp 3 rồi vào đại học lão yêu say đắm một em cùng lớp, với lão lúc ấy dung mạo của em là nhất trần gian, nàng Bạch Tuyết cũng là dạng vứt. Nhưng khổ nỗi cứ tình si đơn phương vậy thôi chứ em kia  chả coi lão ra cái xi nhê gì. Gần nửa thế kỉ trôi qua, giờ ngồi uống caffe lão giở ảnh chụp chung cả lớp hồi ấy cho mình xem, chỉ đấy đấy. Đấy đấy lùn lùn mũm mĩm, mặt tròn vành vạnh. Mình cười, lão cũng cười, nói: sao thẩm mĩ của mình khi ấy tệ thế!

Và cũng lại nghiệm ra một điều nữa, cái gì rồi cũng thay đổi, cần phải biết chấp nhận hiện tại, trung thực tới tận đáy lòng với hiện tại.

3. Tưởng rằng không còn khả năng đọc truyện được nữa, nhưng nghe lão bạn già giới thiệu có cuốn “Miền Thơ Ấu”  hồi kí của nhà văn, nhà chính trị phạm Vũ Thư Hiên hay và cảm động lắm. Về tìm trên mạng và đọc. Như có ma lôi, đọc một mạch hết mấy trăm trang. Văn thì cũng không có gì đặc sắc, nhưng cuốn hút và thật sự cảm động. Ai đã từng có tuổi thơ phải sơ tán về nông thôn, sống ở thị tứ những năm dưới sự cai trị của những người cộng sản, đều như thấy mình, bạn bè, anh chị em mình ở trong đó. Nhân văn, chân thực không hề uốn éo.

Thế mới biết cả trong đời sống và trong văn học chỉ có sự trung thực mới thực sự sống mãi.



Read More..

29 thg 9, 2019

Rất bao biện. Rất lập lờ và rất bậy.

Mình cũng đã định để đấy không nói gì khi đọc bài:"Sự cố của Vietnam Airlines tại Melbourne do yếu tố con người". Việc này báo của Úc và thông tin hàng không quốc tế  đã đăng ngay sau khi xảy ra vụ việc. Báo chí Việt nam hôm nay có những bài dạng lập lờ đánh lận con đen như:" Máy bay của Vietnam Airlies không hạ càng khi hạ cánh là do tiếp cận sân bay Melbourne không ổn định" ... Rồi phân tích thế giới có hãng hàng không A, hãng không B xảy ra như vậy rồi. Nói thế là nói lấy được. Rất bao biện. Rất lập lờ và rất bậy.

Các bạn là, hay từng là phi công, kĩ thuật hàng không đều hiểu rõ trong nghề bay, bài tập khi hạ cánh là một trong bài tập khó, đòi hỏi người lái phải có kĩ thuật tốt và tập trung cao độ, tuân thủ theo đúng quy trình.

Bạn là hành khách đi máy bay, khoảng gần 30 phút trước khi hạ cánh, máy bay sẽ hạ độ cao bạn sẽ thấy nhức tai. Khi máy bay hạ càng, để ý một chút bạn nghe tiếng rắc rắc, cảm giác máy bay hơi khự lại, đúng vậy không? Đối với người lái còn nhiều phương tiện máy móc khác để xác định khi máy bay hạ càng.

Sơ qua về quy trình và kĩ thuật khi máy bay hạ càng để các bạn ngoài ngành hiểu thêm. Khi máy bay bay qua đài dẫn đường thứ nhất (đài xa), lúc này nếu tâm dọc của máy bay trùng với tâm của đài dẫn đường (đài gần) và tâm dọc của đường băng (tạo thành một đường thẳng) đèn báo trên máy bay sẽ bật sáng. Nếu máy bay đạt vận tốc và độ cao cho phép lúc đó người lái sẽ bấm nút hạ càng. Càng khi đã được hạ, đèn báo hiệu sẽ sáng lên hay chuyển sang màu xanh (tương ứng mỗi càng có một đèn). Ngoài đèn báo ra trên các máy bay hiện đại ngày nay đều có màn hình chiếu hình ảnh thực trạng của máy bay.

Sự cố máy bay không hạ càng khi hạ cánh và nếu như đài dẫn đường của sân bay Melbourne không kịp thời phát hiện thì chỉ khoảng 45s nữa một tai nạn thảm khốc đã xảy ra, hơn ba trăm con người sẽ về với chúa (hầu hết là người Việt) lỗi ấy hoàn toàn là do người lái. Còn tại sao lại để  xảy ra như thế thì hãy để ông lái chuyến bay đó trả lời. Các bạn viết báo khi chưa nắm được quy trình, kĩ thuật hàng không đừng nên viết những gì mình chưa biết và cũng đừng vì gì cả, hãy cẩn trọng vì còn nhiều chuyến bay và sinh mạng của những con người đang ở phía trước.
Read More..

23 thg 9, 2019


                                                             Có những  niềm riêng...


Một đồng và năm hào

Thời trai lơ khi đang học ở Nha Trang mình quen Q  học bên Cao đẳng sư phạm. Quen nhau qua buổi giao lưu giữa hai trường. Chuyện trò rồi thấy thinh thích, nhớ nhớ….

Một chủ nhật ra phố tình cờ gặp Q. Mình mời Q đi ăn cơm trưa, cái quán cơm  bình dân  đoạn cuối đường Trần Phú xuống Chợ Đầm.

Yên tâm trong ví có năm đồng rưỡi (còn nhớ rõ có tờ 5 đồng và tờ 5 hào). Ăn xong, tính tiền hết có một đồng rưỡi. Rút ví, rất tự tin nhưng lật qua lật lại chỉ còn tờ năm hào. Tờ năm đồng như đã có cánh bay đi. Thời đó đâu có cái máy alô như bây giờ để nhắn gọi thằng A, thằng B mang tiền đến cứu tao. Tứ cố vô thân, trên  răng dưới  đó lấy gì mà đặt cọc!?

Thấy mình loay hoay rồi Q cũng nhận ra tình thế:“Thiếu tiền hả anh?”. Mình gật. Mở ví của Q ra còn đúng một đồng. May. Vừa đủ.

Ra về, tẽn tò, chả muốn nói gì, thanh minh gì.

Tuần sau rồi tuần sau nữa mình chờ Q ở cổng trường, muốn gặp và cũng muốn gửi lại Q số tiền đó, nhưng chờ rồi nhắn mãi không thấy em. Chả rõ lí do vì sao.

Từ ngày ấy đến giờ vẫn chưa gặp.

Về  Nha Trang bây giờ không còn quán cơm ấy nữa, nhưng mỗi lần qua đoạn đường đó thấy mặt lại nóng bừng.


Chuyện que kem

Chuyện tình của lão  nhà văn bạn mình lại còn “bi đát” hơn. Lão kể: Ngày học đại học lão say một em cùng khoa nhưng khác lớp như điếu đổ. Em kia theo đánh giá của lão thì:"Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.

Một trưa lão lang thang bờ hồ Hoàn Kiếm hóng mát, lúc ngang qua Thủy Tạ móc trong túi còn hai hào, lão chen vào mua một que kem. Vừa lúc đưa que kem lên miệng thì nàng xuất hiện trước mặt lão. Ông giời chơi đểu lão đến thế là cùng! Giấu đi cũng không được. Mua thêm thì không có tiền. Lão ước đất dưới chân lão nứt ra, thọt một phát lão biến mất thì sung sướng biết bao. Nhưng đất lại không nứt, nàng vẫn đứng trước mặt lão, hỏi vài câu bâng quơ…rồi đi.

Một mối tình vừa chớm nở với bao mộng ước, chỉ vì không có hai hào mua thêm một que kem thôi mà đã phải sớm lụi tàn.

Than ôi! Để rồi gần nửa thế kỉ sau vẫn đôi chút ngậm ngùi.








  

Read More..